Dấu Ấn Mọn Hèn Của Anh Em Phan Sinh Trên Đất Việt - Giai đoạn thứ hai: thành lập một đơn vị mới của Dòng Phan sinh trên đất Việt
1. Bối cảnh
Đức Giáo hoàng Benedictô XV (1914-1922) qua Tông Thư “Maximum Illud” năm 1919 đã muốn tách biệt công việc truyền giáo ra khỏi những mối bận tâm tìm kiếm lợi ích cho chính tổ quốc của các thừa sai; và nhấn mạnh đến sự cần thiết phải thiết lập hàng Giám mục địa phương. Đức Giáo hoàng Piô XI (1922-1939) trong Thông điệp “Rerum Ecclesiae” (1926), một Kim chỉ nam đích thực hướng dẫn các Miền truyền giáo, đã nhấn mạnh đến sự phát triển công cuộc truyền giáo, phát huy hàng giáo sĩ địa phương và cổ võ việc thiết lập các hội dòng thừa sai. Chính trong bối cảnh sôi sục tinh thần truyền giáo này, Roma đã chỉ định một anh em Phan sinh quốc tịch Pháp làm Khâm sứ Tông Toà ở Đông Dương và Thái Lan (1928-1936). Đó là Đức Cha Colomban Dreyer, OFM. Chính ngài xác tín rằng đã đến lúc du nhập Dòng Anh em Hèn mọn vào Việt Nam. Ngài may mắn được đóng vai trò làm cầu nối liên kết hai giai đoạn lịch sử hiện diện của anh em Phan sinh trên đất Việt: giai đoạn truyền giáo và giai đoạn lập dòng. Cuộc gặp gỡ giữa ngài và cha Tổng Phục vụ Bonaventura Marrani vào năm 1928 tại Roma đã thực sự khởi động dự án lập dòng. Cuộc thương lượng diễn ra xuôi thuận và nhanh chóng đến nỗi vào ngày 21 tháng 11 năm 1929, nhóm Thành lập viên đã đặt chân đến Đà Nẵng.
2. Thực hiện
Nhân vật chính yếu thực hiện dự án lập Dòng là Cha Maurice Bertin (1870-1968), một anh em thuộc tỉnh dòng Phan sinh Paris. Với kinh nghiệm của một nhà toán học, một kiến trúc sư, một cựu sĩ quan hải quân và một thừa sai (vì cha đã từng hoạt động tại Canađa, Nhật bản và Marốc), cha đã dành những năm đầu tiên ở Việt Nam để xây dựng cơ sở cần thiết không chỉ cho anh em Phan sinh (OFM), nhưng còn cho các chị em Clara và các chị em Phan sinh Thừa sai Đức Mẹ (FMM). Theo thứ tự thời gian, đó là: Tập Viện OFM Vinh (1931), Chủng Viện OFM Thanh Hoá (1933), Đan viện Clara Vinh (1935 do 8 nữ đan sĩ Clara từ Roubaix, Bắc Pháp đến lập cộng đoàn), Tu viện FMM Vinh (1936, các chị đã hiện diện và phục vụ bệnh nhân phong tại Quy Hoà, Trung Bộ từ năm 1932 rồi) và Học viện Triết-Thần OFM tại Nha Trang (1939). Cha đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ vị Khâm sứ Tông Toà (ĐC Colomban Dreyer, OFM), vị Bề Trên Tổng quyền Hội MEP (ĐC De Guébriant), cũng như Đức Giám mục Đại diện Tông Toà người Pháp (ĐC Éloi Bắc, thành viên Hội MEP) đứng đầu địa phận Vinh. Hai nhân vật cấp cao của Hội MEP này đã khuyên cha Bertin nên thành lập những cơ sở đầu tiên tại Vinh với lý do: đây là miền đất có nguồn ơn kêu gọi dường như không bao giờ cạn. Đời sống Phan sinh của những tu sĩ nam, nữ, và cả những anh chị em giáo dân thuộc dòng Ba hiện diện giữa đời, phát triển không ngừng, ngay cả trong bối cảnh chiến tranh: đó là cuộc chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) và cuộc chiến tranh Đông Dương (1945-1954).
3. Cuộc Xuất Hành
Khi cuộc chiến tranh Đông Dương kết thúc vào năm 1954, tất cả anh chị em tu sĩ Phan sinh ở miền Bắc được lệnh di cư vào miền Nam. Tại đây đời sống Phan sinh trong toàn thể gia đình Phan sinh phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ, dù phải sống trong hoàn cảnh một cuộc chiến tranh mới, kéo dài từ 1963 đến 1975. Ngay sau cuộc di cư, việc lãnh đạo Chi Tỉnh Việt nam, gồm những tu sĩ bản địa sống chung với một số tu sĩ Pháp của Tỉnh Dòng Mẹ Paris, đã được giao cho các anh em Phan sinh Việt Nam đảm trách, nhưng vẫn lệ thuộc vào Tỉnh dòng Paris về mặt pháp lý. Vào năm 1969, Chi Tỉnh Việt Nam được tách khỏi Tỉnh Dòng gốc để trở thành một Hạt Dòng tự trị, trực thuộc Trung Ương Dòng. Năm 1972, các chị em Clara Việt Nam, sau 22 năm nương náu tại Đan Viện Mẹ Roubaix (Pháp) vì tình hình bất ổn do cuộc chiến tranh Đông Dương gây ra, đã về lại quê hương, nhưng các chị không ra Vinh vì Đan viện đã bị đánh bom bình địa, mà đến cư ngụ tại Thủ Đức gần Sàigòn vào lúc cuộc chiến tranh Việt Nam đang leo thang.
4. Một khúc ngoặt mới
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 đánh dấu sự thay đổi chế độ chính trị tại miền nam Việt Nam. Rất nhiều người Việt, trong đó có không ít linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân Công giáo rời quê hương đến tị nạn tại một số nước Châu Á, Châu Âu, châu Đại Dương và Bắc Mỹ. Nhưng tất cả anh em Phan sinh Việt Nam đã quyết định ở lại, thành lập thêm những cộng đoàn nhỏ ở các miền quê, sống gần gũi với dân chúng, dùng lao động tay chân làm kế sinh nhai, và phục vụ Dân Chúa bằng công tác mục vụ. Mười năm đầu tiên đối với chúng tôi là một giai đoạn thử thách khắc nghiệt, nhưng giai đoạn này lại làm cho chúng tôi thêm trưởng thành hơn. Bằng chứng cụ thể là chúng tôi đã trở thành một Tỉnh dòng tự trị vào năm 1984. Tất cả mọi tu sĩ nam nữ cùng với những thành phần khác của Dân Chúa trên đất nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam này đã thích ứng khá tốt với hoàn cảnh mới, và Giáo hội ngày càng phát triển về sức sống cũng như số lượng. Các nhà thờ giáo xứ luôn đông đảo giáo dân. Các chủng viện cũng như các tu viện không có khả năng (và đôi khi không có phép) tiếp nhận tất cả các ứng sinh xin gia nhập. Sau năm 1986, với chính sách Đổi mới, chính quyền đã tỏ ra cởi mở hơn với thế giới bên ngoài, và bầu khí xã hội có phần dễ thở hơn. Trong bối cảnh đó, chúng tôi đã thực hiện được một số công trình mới: vào năm 2000 các chị em FMM thành lập một cộng đoàn tại miền Bắc; năm 2004, các chị em Clara Thủ Đức thành lập một nhà con ở Xuân Sơn, Bà Rịa; năm 2005, anh em Phan sinh thành lập một huynh đệ đoàn tại Tây nguyên để phục vụ đồng bào Dân tộc; đồng thời gửi một số thừa sai đầu tiên tham gia chương trình truyền giáo của Hội Dòng; và năm 2008, bốn anh em từ miền Nam đã trở về Vinh sau hơn nửa thế kỷ vắng bóng. Còn một hiện tượng đáng chú ý khác nữa, đó là: sau năm 1954, dòng Ba Phan sinh ở miền Bắc chỉ có một huynh đệ đoàn duy nhất tại Hà Nội (nơi có ba vị hồng y liên tiếp gia nhập dòng Ba: đó là các Đức Hồng Y Trịnh Như Khuê, Trịnh Văn Căn và Phạm Đình Tụng). Nhưng sau chính sách “Đổi mới”, hiện nay có 10 huynh đệ đoàn Dòng Ba (bây giờ gọi là Dòng Phan sinh tại thế) tại Hà Nội và 27 huynh đệ đoàn tại giáo phận Vinh. Và một điều hoàn toàn mới lạ và đáng ngạc nhiên là con số 2.200 thành viên của Giới trẻ Phan sinh tại miền Bắc, một thực thể vừa được thành lập nhưng lại rất năng động. Trong số đó, hầu hết các thành viên đều thuộc giáo phận Vinh. Con số này chiếm một nửa tổng số giới trẻ Phan sinh toàn quốc. Cũng trong giai đoạn này, tất cả các giáo phận cũng như các dòng tu đều xây dựng nhiều cơ sở tôn giáo và nhiều tu viện mới, với con số ơn gọi tu sĩ, linh mục ngày càng tăng. Tất cả đều đứng trước một thách đố: sau khi tạo được cái vỏ đồ sộ, thì làm sao đào tạo được cái ruột có chất lượng Phúc Âm?
5. Viễn cảnh tương lai:
Ngày bốn tháng Mười năm 2008, ngày kính thánh Phanxicô Assisi, Tỉnh Dòng Anh em Hèn mọn Việt Nam đã long trọng khai mạc Năm Thánh Phan sinh với những cử hành phụng vụ và văn hoá trong suốt một năm, để kỷ niệm 80 năm hiện diện Phan sinh của giai đoạn lập Tỉnh dòng (1929-2009), trong khung cảnh Đại Năm Thánh mừng 800 năm thành lập Dòng Anh em Hèn mọn (1209-2009). Của lễ dâng lên Thiên Chúa, Chúa tể của Lịch Sử, là chính đời sống của Gia Đình Phan sinh Việt Nam như những bó hoa thiêng liêng. Đó là:
- Tỉnh dòng Thánh Phanxicô Việt Nam gồm 17 cộng đoàn và hai nhà con, với 139 tu sĩ khấn trọng (trong đó có: 93 linh mục, 19 tu sĩ theo định hướng linh mục và 37 tu sĩ không linh mục), cộng thêm 49 tu sĩ khấn tạm, 12 tập sinh, 20 thỉnh sinh và khoảng 100 em tìm hiểu. Trong lãnh vực tông đồ mục vụ, Tỉnh Dòng hiện đang coi sóc 19 giáo xứ lớn nhỏ, trong đó 6 giáo xứ ở thành phố và 13 giáo xứ ở vùng nông thôn, với tổng số giáo dân là 29.900, bao gồm 25.300 giáo dân người Kinh và 4.600 giáo dân thuộc 5 nhóm Dân tộc thiểu số khác nhau. Mỗi giáo xứ đều có “Kế hoạch Phúc âm hoá” riêng, kết hợp hài hoà với những hoạt động của Dòng Phan sinh tại thế và Giới trẻ Phan sinh, cũng như công tác mục vụ ơn gọi. Ngoài những anh em làm mục vụ giáo xứ, còn có những anh em hoạt động trong những lãnh vực khác nhau như dạy triết học, thần học, nghiên cứu, viết lách, dịch thuât, nghệ thuật (mỹ thuật, điêu khắc, hội hoạ, âm nhạc…), và giảng tĩnh tâm cho mọi thành phần Dân Chúa (một Nhà Tĩnh Tâm có sức chứa 100 người, vừa xây dựng vài năm nay, tiếp đón thường xuyên nhiều nhóm đến sống thời gian sa mạc với Chúa). Trong lãnh vực y tế và xã hội, Tỉnh Dòng điều hành 3 trạm xá , một ở Sàigòn và 2 ở miền quê. Một anh em không linh mục đang tình nguyện chăm sóc các bệnh nhân AIDS, hai anh em khác chăm lo cho người phong và con cái của họ. Mỗi Chúa nhật, anh em sinh viên Triết – Thần của Học viện Phanxicô Thủ Đức đến thăm và giúp đỡ những bệnh nhân tâm thần, tắm rửa cho họ và làm vệ sinh phòng ốc…
- Tỉnh dòng của các chị Phan sinh Thừa sai Đức Mẹ (FMM) cũng cùng một hoàn cảnh như chúng tôi. Với những số liệu xấp xỉ ngang nhau về: các cộng đoàn, các thành viên và những ứng sinh mới. Các chị dấn thân phục vụ người khuyết tật, đau ốm, người Dân tộc thiểu số; tham gia công tác giáo dục trẻ em (nhà trẻ và các lớp mẫu giáo) cũng như công tác mục vụ giáo xứ. Nhiều chị em đang tham gia truyền giáo tại một số nước hải ngoại.
- Các chị em Clara, một cách thầm lặng nhưng hiệu quả, đang thực hiện việc huấn luyện các ứng sinh ngày càng đông, với hy vọng sớm có đủ số nữ đan sĩ khấn trọng để đưa nhà con Xuân Sơn trở thành một đan viện thực thụ.
- Dòng Phan sinh tại thế (gồm 5.500 thành viên) và Giới trẻ Phan sinh (4.400 thành viên) vẫn đang phát triển đều đặn tại miền Nam và khá mạnh mẽ ở miền Bắc, góp phần đáng kể vào việc nâng cao sức sống của đoàn sủng Phan sinh tại một trong bốn quốc gia xã hội chủ nghĩa cuối cùng trên thế giới.
Thay lời kết
Sau những năm tháng sống trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và bị hạn chế, nay gia đình Phan sinh Việt Nam – cũng như các Dòng tu khác -- đang từng bước “mở rộng lều”. Tuy nhiên, nếu quả thật Giáo Hội “thực hiện cuộc lữ hành giữa những cơn bách hại do thế gian gây ra và trong niềm an ủi do Thiên Chúa ban tặng” [1], điều đã thực sự xảy ra trong hai mươi thế kỷ lịch sử Giáo Hội và trong cả hai giai đoạn hiện diện của anh em Phan sinh trên đất Việt như vừa trình bày trên đây, thì chúng tôi tin, nghĩa là thấy bằng cách nhìn trong ánh sáng đức tin, rằng: một liều lượng bách hại và nghèo khó nào đó do Thiên Chúa ấn định phải được kể như ân huệ của Ngài gửi đến nhằm mưu ích cho chính Giáo Hội (x. hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng, số 44), trước tiên vì hoàn cảnh đó tạo sự tỉnh táo cho Dân Chúa để cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ…(x. Mc 14,38) – mà cám dỗ thì luôn đa dạng và mãnh liệt: giàu có, hưởng thụ, danh vọng, quyền lực…,v.v….; và tỉnh táo để dấn thân xây dựng những giá trị cơ bản của Phúc Âm là Công lý, Hoà bình, tôn trọng Sự thật và Nhân phẩm...; còn đối với anh em Phan sinh, ân huệ ấy tạo nên thứ đất mùn màu nâu được chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận dấu ấn đặc thù của đoàn sủng Phan sinh là sống thân phận lữ hành trong tinh thần hèn mọn. Đó là con đường thánh Phanxicô đã chọn – mà thực ra chính Chúa Kitô đã chọn trước ngài -- để làm máng chuyển phúc lành và niềm an ủi của Thiên Chúa, Chúa tể của Lịch sử, đến cho Giáo Hội và thế giới.
Phi Khanh Vương Đình Khởi, ofm
Học Viện Phanxicô Thủ Đức ngày 09-09-09
[1] Xem Thánh Âu tinh, De civitate Dei (Châu thành của Thiên Chúa), XVIII, 51, 2, trích dẫn trong GH số 8d.
- 06.04.2011 Bài thường huấn 02-2011
- 28.03.2011 Thuật lãnh đạo
- 04.03.2011 Bài thường huấn 01-2011
- 27.09.2010 Bài thường huấn số 05-2010
- 15.07.2010 Bài thường huấn số 04-2010
- 07.06.2010 Bài thường huấn số 03-2010
- 27.02.2010 Bài thường huấn số 02-2010
- 27.02.2010 Bài thường huấn số 01-2010

