LỊCH SỬ TRUYỀN GIÁO TẠI VIỆT NAM
(Từ năm 1960 đến nay)
Với việc thành lập hàng giáo phẩm năm 1960, Giáo Hội Công giáo Việt Nam được xem là đã trưởng thành và có khả năng đảm nhận công việc truyền giáo cho đồng bào lương dân. Bên cạnh việc củng cố cơ cấu giáo phận, giáo xứ cũng như thành lập những cơ sở huấn luyện linh mục và cổ võ việc tông đồ giáo dân qua các phong trào Công giáo Tiến hành, Giáo hội còn quan tâm đến việc truyền giáo như là sứ vụ thuộc bản chất của mình.
Theo thống kê Giáo Hội Việt Nam, thì trong khoảng 1960 – 2007, số tín hữu tăng từ 6,9% lên 7,1%, mà phần lớn là dân tộc thiểu số. Con số 0,2% tuy khiêm tốn, nhưng đó là kết quả của những nỗ lực truyền giáo của Giáo hội Việt Nam trong những năm đầy khó khăn.
Việc truyền giáo trong giai đoạn này có thể chia thành ba mảng:
- Truyền giáo cho người Kinh
- Truyền giáo cho dân tộc thiểu số
- Sứ vụ truyền giáo quốc tế
A. Truyền giáo cho người Kinh
Sau hơn bốn trăm năm truyền giáo với nhiều mùa gặt phong nhiêu (1533- 1960), công cuộc truyền giáo cho người Kinh trong giai đoạn này dường như không phát triển.
- Một số người Kinh trở lại Đạo vì dựng vợ gả chồng.
- Một số khác theo Đạo vì lý do “chính trị kinh tế.” Ví dụ tại miền Nam Việt Nam, dưới chế độ tổng thống Ngô Đình Diệm, nhiều người đã trở lại vì miếng cơm manh áo mà người ta gọi nôm na là “Đạo gạo” hơn là vì xác tín của đức tin.
- Cũng vì lý do chính tri, từ năm 1945, một số người Công giáo Miền Bắc Việt Nam đã bỏ đạo để có thể tham gia vào guồng máy chính quyền, nhưng sau khi về hưu, nhiều người đã xin trở về với Giáo Hội.
Qua bài viết Từ Kinh nghiệm Truyền giáo tại Việt Nam và Hàn Quốc đến việc Xây dựng nền Văn hóa Nhân bản Tâm linh của cha Nguyễn Ngọc Sơn, đăng trên Vietcatholic News ngày 18 tháng 3 năm 2009, chúng ta có thể nêu lên một vài nguyên nhân của việc chậm phát triển trong lãnh vực truyền giáo cho người Kinh:
- Các linh mục, tu sĩ chưa được huấn luyện đầy đủ, nhất là về tinh thần truyền giáo.
- Giáo dân thụ động, chưa dấn thân tích cực trong việc truyền giáo.
- Thiếu sáng kiến trong việc truyền giáo, nhất là trong việc hội nhập các giá trị Tin Mừng vào nền văn hóa Việt Nam.
- Các phương tiện truyền giáo bị hạn chế (thông tin đại chúng, báo chí…)
Trong bài viết trên, cha Nguyễn Ngọc Sơn nhận định: “Người Công giáo Việt Nam sau khi giới thiệu những giá trị của nền văn hoá mới cho dân tộc và được đồng bào đón nhận trong những giai đoạn đầu của công cuộc truyền giáo thì dường như đã ngủ quên trong chiến thắng và bỏ mất vai trò tiên phong của mình trong việc xây dựng nền văn hoá mới cho dân tộc. Trước đây, người tín hữu không có nhà thờ, xứ đạo, trường học hay cơ sở xã hội thì họ diễn tả các giá trị mới này bằng chính đời sống của mình. Ngày nay, họ lại quá tập trung sức lực cho việc xây dựng cơ sở vật chất, cho những nghi lễ phụng tự hoành tráng, những giờ kinh cầu nguyện công khai dường như chỉ dành cho Thiên Chúa mà quên mất con người, ngoại trừ một vài dịp đóng góp cho việc từ thiện. Người ngoài Kitô giáo nhận thấy rằng theo đạo Kitô thì đời sống thường ngày cũng chẳng thay đổi bao nhiêu mà còn thêm những ràng buộc về lễ lạy, đóng góp tốn phí!”
B. Truyền giáo cho các dân tộc thiểu số[1]
1. Trước năm 1960
a. Tây Nguyên
- Việc truyền giáo cho dân tộc thiểu số được bắt đầu từ năm 1838, khi các nhà truyền giáo từ Phú Yên tìm cách tiếp xúc với người dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Tuy nhiên, đến năm 1846 mới thiết lập được một trung tâm truyền giáo tại Buôn Đôn, Ban Mê Thuột.
- Năm 1848-1950: Thầy sáu Do và hai đoàn truyền giáo tìm cách tiếp cận dân Bana.
-1851: Bốn trung tâm truyền giáo được các linh mục thừa sai Paris thành lập tại Kontum (Trung tâm Plei Rơhai, Kon Trang, Plei Chư, Kon Kơxâm) và người dân tộc thiểu số đầu tiên (Bana) được rửa tội năm 1853.
- Năm 1885, đã có khoảng 1.500 người Bana và Re Ngao tin đạo. Từ 1886-1901, đã có 94 làng Bana và Êđê trở lại. Công cuộc truyền giáo cho người dân tộc thiểu số tiến triển khả quan. Chỉ riêng người Bana, tính đến năm 1901 đã có 8.000 tín hữu.
- Năm 1908, trung tâm Yao Phu Cuenot (gp. Kontum) chính thức bắt đầu hoạt động nhằm đào tạo các nhà truyền giáo người dân tộc thiểu số và thành lập tờ báo Hlabar Tơbang dành cho các Yao Phu.
- 1927: Linh mục Jean Cassaigne được cử lên thí điểm truyền giáo Di Linh (gp. Đà Lạt).
- Năm 1932, 3 linh mục Bana đầu tiên được phong chức.
- 1935-1938: Xây dựng chủng viện thừa sai (giáo phận Kontum) nhằm đào tạo linh mục thừa sai.
- 1939-1945: Đại thế chiến thứ hai cản trở phần nào công cuộc truyền giáo.
- 1947: thành lập Hội dòng Ảnh Phép Lạ, dòng nữ người dân tộc, nhằm tăng cường việc truyền giáo cho dân tộc thiểu số tại giáo phận Kontum.
- 1950: các cha Dòng Chúa Cứu Thế lập cơ sở truyền giáo tại Phú Sơn (gp. Đà Lạt). Kế đến là các cha thuộc Hội Thừa sai Paris, tu đoàn thánh Vinh Sơn đến truyền giáo tại Đơn Dương.
b. Tây Bắc
Công cuộc truyền giáo cho dân tộc thiểu số ở phía Bắc diễn tiến chậm hơn so với các dân tộc phía Nam. Trong thời kỳ Pháp thuộc, việc truyền giáo cho dân tộc thiểu số được bắt đầu với các linh mục tuyên úy quân đội Pháp. Một số dân tộc thiểu số (Mường, Thái, Nùng, Hoa) vùng Hòa Bình, Lai Châu, Hưng Hóa, Móng Cái, Lạng Sơn, Bắc Ninh và Hải Phòng đã tin Chúa, nhưng hiện nay chưa có số liệu chính xác.
- Cuối thế kỷ 19, các nhà truyền giáo mới có những nỗ lực truyền giáo cho người Mường.
- Năm 1905: Bước đầu truyền giáo cho người H’Mông tại Lào Cai. Đến năm 1940, đã có 33 gia đình H’Mông tin đạo rải rác trong 11 làng khác nhau.
- Kể từ 1945, các tín hữu dân tộc thiểu số đã trải qua thời kỳ hết sức khó khăn trong việc giữ đạo. Tuy nhiên, đến năm 1985 vẫn còn 65 gia đình H’Mông vùng Sapa giữ đạo.
2. Từ năm 1960
a. Tây Nguyên
- Từ năm 1960 -1975, ngoài các linh mục trong các giáo phận truyền giáo, nhiều hội dòng dấn thân vào việc truyền giáo cho dân tộc thiểu số: Dòng thánh Phaolô thành Charles, Nữ vương Hòa bình, Chúa Cứu Thế, Tu đoàn thánh Vinh Sơn (từ 1962-1969)….
- Tuy nhiên, sau biến cố 1975, nhiều cộng đoàn dân tộc thiểu số thiếu vắng chủ chăn và cả nơi thờ phượng. Mọi sự đều phó thác trong tay các Yao Phu. Tuy nhiên, số anh chị em tìm về với Giáo Hội ngày càng nhiều.
- Từ năm 1987, nhiều anh chị em dân tộc thiểu số ở Ban Mê Thuột và Kontum tìm đến các họ đạo để xin tòng giáo.
- Kể từ ngày 117 vị tử đạo tại Việt Nam được phong thánh (1988), ý thức truyền giáo của tín hữu Việt Nam ngày càng gia tăng. Nhiều linh mục giáo phận và tu hội mạnh dạn dấn thân vào công cuộc truyền giáo.
- Theo thống kê năm 2003, số tín hữu dân tộc thiểu số là 320.000. Phần lớn tập trung tại ba giáo phận truyền giáo (Kontum: 123.300, Đà Lạt: 82.000, Buôn Ma Thuột: 51.000).
b. Tây Bắc
- Cuối thập niên 1980, một phong trào người H’Mông thuộc tỉnh Lào Cai theo đạo. Chỉ trong vòng 2 năm (1989-1990), đã có hơn 2.000 người theo đạo.
- Theo thống kê năm 2003, số tín hữu dân tộc thiểu số trong giáo tỉnh Hà Nội ước chừng 36.000 (Hà Nội: 9.300, Hưng Hóa: 11.300, Phát Diệm: 10.700, Thanh Hóa: 12.300, Lạng sơn: 890, Bắc Ninh: 330, Vinh: 520)
c. Các vùng khác
Truyền giáo cho dân tộc thiểu số cũng là mối ưu tư của nhiều giáo phận khác.
Cũng theo thống kê năm 2003, tín hữu dân tộc thiểu số còn hiện diện trong các giáo phận sau đây:
- Nha Trang: 7.500
- Cần Thơ: 2.500
- Phú Cường: 3.000
- Xuân Lộc: 3.000
- Huế: 800
- Quy Nhơn: 360
- Vĩnh Long: 520
C. Sứ vụ Truyền giáo quốc tế
1. Các nhà truyền giáo từ quốc nội
Sau khi Việt Nam hội nhập vào cộng đồng thế giới và việc đi lai tương đối dễ dàng hơn, nhiều hội dòng đã đáp lại tiếng gọi truyền giáo của Giáo Hội và sẵn sàng dấn thân vào các vùng truyền giáo như Thái Lan (Chúa Cứu Thế; Cambôđia (Don Bosco, Nữ tử Bác Ái), Myanmar (Phanxicô), Papua New Guinee, Úc Châu (Ngôi Lời), Mông Cổ (Don Bosco), Lào…
2. Các nhà truyền giáo hải ngoại
a. Trước năm 1975
Trong lịch sử, người Công giáo Việt Nam đã nhiều lần phải rời bỏ quê cha đất tổ để tránh bách hại. Vào thế kỷ 17, nhiều tín hữu từ miền Bắc di tản xuống miền Trung và miền Nam. Sang thế kỷ 18 và 19, nhiều người đã chạy sang Thái Lan và Cambôđia để lánh nạn. Tại đây, họ lập nên những cộng đoàn Công Giáo Việt Nam đầu tiên.
Ngoài hai nước láng giềng, tín hữu Công giáo Việt nam còn hiện diện tại Pháp, Mỹ và những nước Đông Âu, mà phần lớn là du học sinh, nhân công hay kết hôn với người nước ngoài.
b. Sau năm 1975[2]
Cùng với làn sóng di tản bằng nhiều cách từ năm 1975 đến năm 1992, nhiều người Công giáo Việt Nam đã rời quê hương đi định cư tại nước ngoài. Phần lớn tập trung thành cộng đồng Công giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Canađa, Đức, Anh. Đến năm 2000, số tín hữu Công giáo Việt Nam tại hải ngoại đã lên tới 550.000 trong số gần ba triệu Việt kiều và cư ngụ trên 37 nước.
Ngoài những sinh hoạt tôn giáo, các cộng đoàn Công giáo Việt Nam còn “ý thức hơn về chính mình và nhất là về sứ mạng đặc biệt của mình là rao giảng Tin Mừng Đức Giêsu Kitô cho các dân tộc”[3] như chủ đề “Hợp nhất để Loan báo Tin mừng” của Đại hội Hội ngộ Niềm tin năm 2003.
Bên cạnh 1.036 linh mục giáo phận và dòng, còn có hơn cả ngàn nam nữ tu sĩ thuộc 20 dòng nam và 50 dòng nữ phục vụ cho hơn 300 cộng đoàn trên khắp thế giới. Trong số đó, nhiều linh mục và tu sĩ đã dấn thân phục vụ trong các vùng truyền giáo như Lào, Cambôđia, Thái Lan, Nam Hàn, Nhật, dân tộc thiểu số Canađa và Úc, các đảo Nam Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, Trung Mỹ, Nam Mỹ, Phi Châu…
Kết luận
Trải qua một chặng đường 50 năm, Giáo hội Việt Nam ngày càng trưởng thành hơn, nhất là trong những giai đoạn đầy gian khổ. Một trong những tiêu chuẩn để đo lường sự trưởng thành đó chính là ý thức và dấn thân vào công cuộc phúc âm hóa các dân tộc. Hơn bao giờ hết, ngày nay Giáo Hội đang cần những linh mục, tu sĩ và giáo dân nhiệt thành tham gia vào công cuộc phúc âm hóa. Tuy nhiên, những con người nhiệt thành này cũng cần được đào tạo để có thể chuyển tải sứ điệp Tin Mừng trong bối cảnh xã hội và văn hóa của từng dân tộc mà họ được sai đến.
Suy tư và thảo luận
- Anh nghĩ gì về nhận định của cha Nguyễn ngọc Sơn (x. trang 2)?
- Đâu là những yếu tố then chốt trong việc truyền giáo cho anh chị em dân tộc thiểu số?
- Nếu được mời gọi đi truyền giáo, anh muốn ưu tiên cho vùng truyền giáo nào? Nội địa hay hải ngoại?
Ban Thường Huấn
[1] Xem Đỗ Hữu Nghiêm, “Giáo hội và các Dân tộc thiểu số tại Việt Nam” trong Văn phòng Tổng Thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam, Giáo hội Công giáo Việt Nam: Niên giám 2004 (Hà Nội: Nhà xuất bản tôn giáo, 2004), tr. 466-479 và “Giáo phận Kontum,” trong Sđd, tr. 636-644.
[2] Đỗ hữu Nghiêm, Nguyễn ngọc Sơn và Trần quý Thiện, bt. Cộng đồng Công giáo Việt Nam Hải ngoại, trong Sđd, tr. 966-902.
[3] Sđd., tr. 901.
- 06.04.2011 Bài thường huấn 02-2011
- 28.03.2011 Thuật lãnh đạo
- 04.03.2011 Bài thường huấn 01-2011
- 27.09.2010 Bài thường huấn số 06-2010
- 27.09.2010 Bài thường huấn số 05-2010
- 07.06.2010 Bài thường huấn số 03-2010
- 27.02.2010 Bài thường huấn số 02-2010
- 27.02.2010 Bài thường huấn số 01-2010
- 12.01.2010 Thánh Clara Assisi (1193-1253)
- 03.10.2009 Thường huấn số 06-2009

