Trang Huấn Luyện tiếp tục giới thiệu chương 2 của phần VI, trong tác phẩm The Sentiments of the Son của cha A. Cencini.
Chúng ta đang cố tìm hiểu ý nghĩa của của “hệ số sẵn sàng” của người thụ huấn trong tiến trình giáo dục – huấn luyện – tương quan. Nói cách khác, đó là thái độ nội tâm cho phép người thụ huấn (hôm nay còn trẻ, nhưng ngày mai sẽ già) để cho mình được giáo dục, huấn luyện và đồng hành. Chúng ta đã chỉ ra ba chủ thể của sự mềm dẻo: cái tôi hiện thực, cái tôi lý tưởng và cái tôi tương quan, tương ứng với ba phương pháp sư phạm cổ điển.
Trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa của sự sẵn sàng đối với cái tôi hiện thực trong tiến trình giáo dục.
Người thụ huấn phải biểu lộ sự sẵn sàng ấy trong hai thời điểm hay chuyển động: Thứ nhất là khám phá bản thân (đang bàn đến trong chương này) và thứ hai là giải thoát mình khỏi những rào cản khiến họ không còn là chính mình và không thể phát huy tất cả tiềm năng của mình (sẽ bàn trong chương sau).
1. “Sự thật sẽ giải phóng anh em” (Ga 8,32)
“Giáo dục là đánh thức lương tâm người thụ huấn để họ nhận ra sự thật đang hiện diện trong lương tâm mình, sao cho họ có khả năng tự suy luận, tự phán đoán và tự do trong một thế giới mà tự do là một sự mạo hiểm, chứ không bao giờ là điều có sẵn hay một quà tặng phú bẩm.”[1]
Nếu bản chất và cứu cánh của giáo dục là như vậy, thì điều cần thiết là phải đặt chủ thể vào vị thế có khả năng đạt tới mục tiêu ấy; nói cách khác, chủ thể phải có khả năng nắm bắt được sự thật, ngõ hầu họ có thể quản lý sự tự do của mình, đó là ý nghĩa sâu xa của Lời Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng.
Nền văn hóa mà thế hệ giới trẻ ngày nay đang hít thở cũng là một vấn đề: Cần phải nhấn mạnh cho họ biết rằng tự do không phải là mục tiêu duy nhất mà họ phải chinh phục, mà còn phải chinh phục sự thật của mình. Quả ngây ngô nếu xem việc biết mình như một chuyên đương nhiên. Ai không muốn khám phá sự thật của mình, thì cũng không bao giờ có tự do.
Vì thế, tiên vàn người thụ huấn phải loại bỏ mọi thứ ngây thơ và giả vờ. Họ phải chấp nhận là mình chưa biết hết mọi thứ và chưa biết mình. Họ phải có khả năng chịu đựng sự mệt nhọc và cảm nếm vẻ đẹp của việc khám phá con người hiện thực của mình. Họ phải sẵn sàng để nhận ra những trở ngại khiến họ không thể tận hiến cho Thiên Chúa một cách tự do: Nhà giáo dục phải đưa ra những chỉ dẫn rõ ràng để giúp họ “lôi kéo” sự thật của mình ra. Nếu bây giờ mà họ không khám phá được sự thật của mình, thì chẳng hy vọng gì là họ sẽ khám phá được trong tương lai; trong khi đó, tất cả tiến trình huấn luyện hiện nay đã có nguy cơ rơi vào quên lãng hay đưa đến hậu quả thiếu hữu hiệu và sắc bén.
Thật vậy, nơi con người như thế đã có sự bất nhất: Sự bất nhất ấy giống như một cái nắp đóng chặt miệng chai, khiến người ta không thể đổ rượu ngon vào chai được; hay giống như một tế bào nhiễm bệnh, nếu không được chẩn đoán và điều trị, dần dần sẽ tác hại những tế bào khác. Và điều này là sự thật, chứ không còn là một sự kiện có thể xảy ra nữa. Nhiều người dấn thân vào lãnh vực huấn luyện hẳn đã biết dữ liệu mà các nhà nghiên cứu khoa học cung cấp: Nếu bắt đầu hành trình huấn luyện (tập sinh hay sinh viên thần học năm thứ nhất) có 86% ứng sinh trẻ không nhận biết sự xung đột trọng yếu của mình, thì sau 4 năm “huấn luyện” vẫn còn 82% ứng sinh chưa hiểu chút gì về sự xung đột đó.”
Dữ liệu đó quả là điều làm cho chúng ta chưng hửng: Nếu hành trình giáo dục không cung cấp cho họ phương tiện để biết mình, thế thì đâu là đường lối sư phạm? Nếu người thụ huấn không biết đâu là nơi mà họ phải tiếp tục cải thiện, thì làm sao họ có thể phát triển được? Nếu họ không biết đâu là nguyên nhân khiến họ bị nô lệ, thì làm sao họ có thể tự do?
Công trình nghiên cứu trên đây không muốn nói đến những ứng sinh bất đắc dĩ và thiếu quảng đại, mà chỉ nói đến những ứng sinh chưa được trợ giúp đầy đủ trong tiến trình huấn luyện. Có thể nói được rằng tiến trình huấn huyện thiếu phương pháp hay nhà giáo dục chưa phân định rõ ràng và chính xác khi đưa ra những đề nghị cho người thụ huấn.
Về điểm này, chúng ta hãy cung cấp cho họ một vài chỉ dẫn cụ thể như sau.
2. “Tự lòng người phát xuất những ý định xấu” (Mt 15,19)
Chúng ta hãy bắt đầu với nguyên tắc đầu tiên là người thụ huấn phải chịu trách nhiệm giáo dục chính mình. Nói cách khác, họ phải có khả năng “lôi kéo” sự thật của mình ra (educere). Đó là ý nghĩa của câu nói được trích dẫn ở trên, bàn về tư tưởng của tu sĩ Milani, một nhà giáo dục chân chính và cũng là một người hết lòng yêu mến sự thật và tự do.
Bất cứ ai đang thụ huấn cần phải biết rằng họ sắp thực hiện một hành trình hướng đến một mục tiêu mà trước đây họ chưa bao giờ thực hiện. Đích điểm chính là sự thật của mình, nhất là xác định được các nhược điểm hay tình trạng nô lệ của mình, hay “những ý định xấu” tồn tại trong con tim mỗi người. Để thực hiện được điều đó, họ phải trải qua những “giai đoạn trung gian” sau đây.
a. Hành vi
Trước hết, họ phải chú ý đến tư cách đạo đức của mình, là điều họ có thể nhận thấy ngay. Đó là những hành vi, cử chỉ và cách làm quen thuộc mà họ thường lặp đi lặp lại, ngay cả khi họ đến một môi trường khác và tiếp xúc với những người khác, và ngay cả những hành vi mà họ chỉ nhận thấy trong quá khứ. Họ phải lưu ý đến những thói quen hiện nay đang tiềm tàng và những điều họ thường xuyên phát biểu, hay những điều họ nhấn mạnh một cách khẩn thiết. Tiên vàn, họ phải lưu ý đến sự bất nhất giữa việc họ nói hay đòi hỏi và việc họ làm.
Người thụ huấn thường bị choáng ngợp vì khoảng cách (hiển nhiên là như vậy) giữa các giá trị mà mình tuyên xưng và việc thực hiện các giá trị ấy trong đời sống. Tuy nhiên, đó là bước nhảy mà họ phải khám phá. Vì lẽ đó, điều hữu ích là họ phải quan sát cẩn thận những chọn lựa của mình, nhất là những chọn lựa “kín đáo,” những thị hiếu và sở thích mà mình ham thích hay đau đớn chấp nhận; đồng thời họ cần nhận ra những chọn lựa mà họ tự do thực hiện theo sáng kiến của mình. Vả lại, họ cần phải quan sát phản ứng của mình khi thành công hay khi thất bại. Dưới góc độ hành vi, họ đã đối phó với các loại khủng hoảng như thế nào? Họ cần phải kiểm tra những phạm vi khác như đời sống xã hội, các mối tương quan tích cực và cả những mối tương quan khiến họ mỏi mệt hay cảm thấy không có ý nghĩa. Điều quan trọng là họ cần ghi lại những phản ứng theo bản năng, mà họ bộc lộ một cách hấp tấp khi chưa kịp suy nghĩ, có lẽ chỉ để đùa cợt, hay những hành động máy móc, ngay cả những hành động dường như chẳng có ý nghĩa gì đặc biệt, hay chỉ là một tội nhẹ về phương diện luân lý nhằm đáp ứng một vài nhu cầu.
Trong mọi trường hợp, họ phải luôn tuân giữ nguyên tắc chỉ đạo của phương pháp thẩm tra này, đó là: Nơi nào thiếu sự mạch lạc giữa giá trị mà họ tuyên xưng và hành vi họ thực hiện, nơi ấy cần phải được xem xét cẩn thận. Trên hết mọi sự, họ phải tự hỏi: Trong quá khứ, sự chênh lệch ấy đã được biểu lộ qua những hành vi mà họ thực hiện trong những môi trường khác nhau và với những người khác nhau như thế nào? Đâu là những hành vi tỏ vẻ kháng cự khi họ nỗ lực thay đổi?
b. Thái độ
Trên cấp bậc thứ hai, việc quan sát của họ sẽ sắc bén và sâu sát hơn. Họ thường bắt đầu với “phạm vi thiếu mạch lạc” mà họ đã nhìn nhận, không chỉ quan sát những điều xuất hiện một cách hiển nhiên ngay trước mắt, mà còn phải quan sát cả những điều không tỏ lộ hiển nhiên, nhưng cũng là thành phần của cái tôi. Thật vậy, thái độ là những thiên hướng đưa tới hành động, tương tự như việc lập trình đã được ghi khắc trong bộ nhớ máy “vi tính,” vừa có ý thức vừa vô thức, sẵn sàng sử dụng trong những mẫu thức đã được thiết lập cố định, và từ đó mà phát sinh những cách thức hành động và tiêu chuẩn chọn lựa, những cách thức phê phán tha nhân rập khuôn theo tiêu chuẩn thiện cảm / ác cảm, những sự lôi cuốn hay gớm ghét tức thời, tâm trạng và sự cảm ứng. Giống như mọi sự bất nhất khác, những sự bất nhất ấy phát xuất từ nơi đây.
Ví dụ, khi họ cảm thấy bị ruồng rẫy hay khó giao tiếp với người khác, có thể là họ đã “học” được một cách phản ứng nhất định, đó là im lặng và tìm cách bù trừ nơi chính mình (chẳng hạn như thủ dâm), hay đổ lỗi cho kẻ khác, hay chối bỏ kẻ khác, hay lôi cuốn sự chú ý của kẻ khác để mình cảm thấy dễ chịu. Tuy nhiên, họ không dễ nhận ra cứu cánh đích thật những hành động như thế (tự cô lập để thỏa mãn một mình, chối bỏ, tự vệ bằng cách lên án người khác, mưu toan “dụ dỗ” người khác để chiếm lấy tình cảm của họ như một mối lợi), nếu họ không quan tâm khám phá những mâu thuẫn nơi mình. Trong lúc đó, những thái độ ấy tiếp tục được củng cố, bởi vì họ đã không khám phá được gốc rễ của chúng.
Vì thế, người thụ huấn cần phải biết khảo sát kỹ lưỡng phạm vi này, và không chỉ bằng lòng với việc quan sát hành vi của mình, mà còn phải tìm hiểu nguyên nhân đi trước hành vi, hay cội rễ của hành vi. Bằng cách đó, họ có thể giải mã và phê phán não trạng và lương tâm, cách đánh giá và “cảm nghĩ” của mình về sự vật hay về tư cách của mình có đúng hay không; họ sẽ khám phá được những điều “thú vị,” nhưng đôi khi đó không phải là những điều thật sự vừa ý mình.
Sự phán đoán luân lý rất thường bị chi phối bởi những thái độ mà người ta thường xuyên thể hiện. Thật vậy, theo một nghĩa nào đó thì sự phán đoán luân lý cũng là một thái độ, một cách nhận thức và đánh giá sự vật mà nay đã trở thành thói quen.
“Cho dù lương tâm chúng ta có khả năng đánh giá tốt xấu, lương tâm ấy cũng có một lịch sử hay tiền lịch sử. Nó là sản phẩm của một quá trình gian khổ và nhiệm mầu diễn ra bên trong nội tâm chúng ta mà đôi khi chúng ta không biết, thế nhưng chúng ta lại nhìn thấy kết quả hay hậu quả (“cảm nghĩ” điều này tốt hay xấu) rõ hơn là từng giai đoạn riêng rẽ trong quá trình phát triển.”[2]
Chắc chắn là họ cần có một chút can đảm và trung thực để đừng phản ứng một cách tiêu cực mà nói như thế này: “Điều ấy đúng hay sai là do tôi cảm thấy như thế.” Trái lại, họ phải quyết định đi sâu hơn vào cõi lòng mà tự hỏi: “Tại sao tôi để cho mình cảm thấy hài lòng như thế? Tại sao tôi theo đuổi mối tương quan tình cảm ấy mà không hề cảm thấy có tội? Tại sao tôi đã phát huy sự nhạy cảm trong lãnh vực này (chứ không phải lãnh vực khác)? Tại sao tôi phán đóan một cách bộc phát như thế?” và vân vân…
Khi phân tích những thái độ trên đây mà họ cảm thấy một chút bất an thì đó là dấu hiệu tốt. Điều đó có nghĩa là họ đang đi đúng hướng và “đang khám phá những thăng trầm” của hướng đi ấy. Bình thường thì thái độ của họ không nhiều và không thể đồng hóa với hành vi, nhưng thái độ có liên quan đến những vùng chiến lược của con người chúng ta, liên quan đến việc chọn lựa bậc sống, tương quan với tha nhân và với Thiên Chúa.
Chúng ta thường gắn bó rất chặt chẽ với các thái độ, bởi vì chúng ta không dễ thách thức và thay đổi thái độ, và nếu chúng ta không bao giờ chú tâm phê phán thái độ của mình, thì thái độ ấy càng khó thay đổi hơn.
Bước thứ ba sẽ tự động xuất hiện: Một khi đã khắc phục những rào cản dễ nhận thấy, người thụ huấn sẽ không mấy khó khăn trong việc phân tích bản thân một cách sâu xa hơn, để lấy lòng trung thực mà chỉ ra những điều họ đang cảm nhận trong lòng hay đã cảm nhận trong những hoàn cảnh cụ thể, chẳng hạn như khi họ bị xúc phạm hay khi họ cảm thấy bị loại trừ.
Tâm tình là tiếng dội của cảm xúc mà họ trải nghiệm nơi bản thân, khi họ tiếp xúc với thế giới bên ngoài: Tâm tình nẩy sinh như một cảm xúc dần dần trở nên bền vững theo thời gian, và có thể trở nên mãnh liệt như một đam mê.
Trên thực tế, tâm tình là một hình thức hiểu biết mà con người đánh giá về một đối tượng hay sự kiện. Vì thế, nhờ tâm tình mà họ biết rõ bản thân và những thực tại mà họ gắn bó quá mức, cũng như những thực tại mà họ chối bỏ.
Ví dụ, nếu người thụ huấn cảm thấy đau khổ và rất đau đớn vì mình bị bỏ rơi, họ cần được giúp đỡ để hiểu rằng cảm xúc ấy bắt nguồn từ một nhu cầu hết sức mâu thuẫn: Đó là nhu cầu muốn được chú ý như là trung tâm. Như vậy, tâm tình tiết lộ cho họ biết được lòng ích kỷ của mình và giúp họ biết được bản chất của sự mâu thuẫn. Trong mọi trường hợp, tâm tình là yếu tố giúp họ hiểu và khảo sát chiều sâu của lương tâm. Bởi vậy, họ không nên cản trở và làm ngơ đối với tâm tình của mình, nhưng phải nhận diện một cách chính xác, để có thể hiểu những điều mà tâm tình muốn biểu thị hay che đậy. Cảm xúc tự nó không phải là tội (ít ra là chủ thể không biểu hiện một loại tâm tình nhất định bằng những thái độ tương ứng). Tâm tình là dấu hiệu báo cho biết một nhược điểm hay tình trạng thiếu tự do nội tâm, đó là điều quan trọng cần phải nhận ra.
Có nhiều loại tâm tình: yêu thương, ghen ghét, vui vẻ, buồn bã, hy vọng, thất vọng, hạnh phúc, phấn khích, mãn nguyện, trống vắng… Bình thường thì mỗi cá nhân đều có một số tâm tình đa dạng, vừa có chức năng chỉ báo quý giá, vừa là sự phong phú của tâm hồn. Tuy nhiên, có những người sợ tình cảm của mình, xem tình cảm của mình là điều xấu, hổ thẹn vì tình cảm của mình, hay sợ thấy mình có những cảm xúc tiêu cực như oán giận hay bực bội, và họ tìm cách phủ nhận tình cảm của mình, đến nỗi họ đã trở thành những “người vô cảm,” thiếu khả năng trải nghiệm tình cảm thật sự và trở nên lạnh lùng và chai cứng như cá khô. Đó quả là một điều dị thường nghiêm trọng đối với người thánh hiến. Đây là lý do: Nếu họ không biết con tim của mình, thì thử hỏi làm sao họ có thể giao tiếp với con tim của kẻ khác?
Người thụ huấn phải học cho biết nguyên tắc này: Nhờ quan tâm đến sự cảm động và loại cảm xúc mà họ trải nghiệm, cái tôi của họ sẽ tự mạc khải cho họ biết. Do đó, họ nhất thiết phải cố gắng trung thực với mình, để có thể lôi kéo (e-ducate = kéo ra) tình cảm của mình ra.
Chúng ta sẽ đi từ tâm tình đến động lực, hay cố gắng nhận biết nguyên nhân đích thật thúc đẩy người thụ huấn hành động; tức là những nhu cầu đang hiện diện nơi họ, cho dù chỉ hiện diện trong vô thức.
Là một tác nhân năng động – định hướng, động lực kích hoạt và điều khiển hành vi con người hướng tới một một mục đích cụ thể. Động lực là một năng lực có mục tiêu, hay một sức mạnh cố ý. Đó là điều mà chủ thể thật sự mong muốn, cho dù đôi khi họ không cố ý nhắm đến điều ấy, và thậm chí điều ấy có thể tương phản với những mục tiêu cao cả hơn mà họ tuyên bố. Ở đây, người thụ huấn phải nắm bắt cho được định hướng tổng quát của cuộc đời mình và những gì mà họ có ý định thực hiện, khi định hướng ấy nổi lên từ giữa những động lực mà họ thu thập được, dựa trên con người và hành động của mình.
Chân thành mà thôi thì chưa đủ, nhưng họ còn phải vươn tới sự thật của mình, bằng cách trả lời thật chính xác cho những câu hỏi sau đây: Tôi hành động nhằm đáp ứng các nhu cầu ích kỷ hay vì những lý do siêu việt? Nếu tôi cảm thấy rất đau khổ vì phải từ bỏ bản thân hay vì thất bại, thì đâu là điều trọng tâm mà tâm trí tôi đang chú ý, hay con tim tôi đang gắn bó với điều gì? Đâu là những khát vọng của tôi, và tôi cảm thấy tự do đến mức nào để thực hiện những khát vọng ấy? Tại sao tôi sẵn sàng đương đầu với những hy sinh vất vả khi làm những việc nào đó, trong lúc đó tôi lại cảm thấy tẻ nhạt khi thi hành những bổn phận và nhiệm vụ khác? Tại sao tôi không để ý đến người đang cần tôi giúp một tay, hay không nhận thấy nỗi buồn của anh chị em đang cần sự thông cảm? Làm sao người khác có thể đọc được dấu chỉ thời đại, trong khi tôi không thể nhận ra dấu chỉ ấy?
Khi trả lời cho những câu hỏi này và những câu hỏi khác nữa, người thụ huấn dần dần hiểu được căn nguyên của mọi hoạt động và những thiếu sót trong hành động, trong nhận thức và ngay cả trong việc mình đã không nhận ra những thiếu sót ấy; những thiếu sót khi mình cảm thấy nhiệt tình, cũng như khi mình cảm thấy tẻ nhạt, v.v… Chỉ khi nào họ lấy can đảm mà trả lời cho những câu hỏi ấy và nắm bắt được sự thật, bấy giờ họ mới có thể bắt đầu gọi đúng tên của những sự bất nhất trọng yếu.
Đây phải là đích điểm, ít nữa là trong giai đoạn khám phá bản thân. Tất cả những giai đoạn trước có mục đích giúp người thụ huấn nhận diện sự mơ hồ cơ bản, hay những cấu tố thiếu trưởng thành và ấu trĩ trong dự phóng đời sống của mình. Khi bắt đầu hành trình giáo dục – huấn luyện, thì ngay cả việc chọn lựa ơn gọi cũng chưa hoàn hảo. Chắc hẳn là họ bị thu hút bởi những động lực và ước muốn chưa thấm nhuần tinh thần Phúc Âm. Rõ ràng là những động lực và ước muốn ấy làm cho họ thiếu nhiệt tình và kém chân thực trong việc chọn lựa ơn gọi. Do đó, điều hết sức quan trọng là phải giúp người thụ huấn nhận ra sự mơ hồ cơ bản của mình. Chẳng hạn, khi họ khao khát tận hiến cho Thiên Chúa, thì đồng thời họ cũng bận tâm đến việc khẳng định bản thân; họ muốn tự hiến để mưu ích cho tha nhân, nhưng họ chưa từ bỏ ước muốn được mọi người chú ý; họ công bố những giá trị của đời sống cộng đòan nhằm đáp ứng nhu cầu được yêu thương. Những khám phá này không phải là những điều quá bi thảm, trừ phi họ cứ tiếp tục tiến bước mà chẳng hề nhận ra những điều ấy. Kẻ nào không sớm phát hiện ra sự “mơ hồ cơ bản” của mình, thì có nguy cơ làm cho hành trình huấn luyện và tận hiến của mình thiếu rõ ràng dứt khoát.
Trên thực tế, người thụ huấn phải đối diện với một câu hỏi hết sức thiết yếu tương tự như câu hỏi mà tín hữu phải đối diện khi đi tìm Đấng Hằng Sống. Tôi có tin không? Tôi có thật sự đi tìm Thiên Chúa không? Hay tôi muốn trở thành tu sĩ để đi tìm một điều gì khác?
Từ vấn đề trọng yếu ấy, người thụ huấn còn phải đối diện với những câu hỏi sau đây:
“Tôi hành động như một tín hữu hay như một lương dân? Ngay trước khi hành động, tôi có cảm xúc, yêu thương, suy luận và chọn lựa… với sự tự do của con cái Thiên Chúa hay vì sợ hãi như một tên nô lệ? Đức tin ấy có để lại dấu vết trên căn tính của tôi và chi phối những quyết định của tôi không? Tôi có sẵn sàng trung tín với những giá trị của mình, dù phải trả giá bằng chính mạng sống mình không? Tôi đã bắt đầu cảm nếm sự khôn ngoan của thánh giá, tâm tình của Đức Kitô và các mối phúc chưa? Có bao giờ tôi cảm thấy ít lo lắng về những điều người khác nói về tôi, khi họ nói xấu tôi không? Tôi có tha thứ cho kẻ xúc phạm đến tôi, cho dù họ không hề biết là đã gây tổn thương cho tôi không? Tôi có để cho người khác sử dụng thành quả và công lao của tôi không? Tôi có chấp nhận tuân phục bề trên, cho dù bề trên khó tính và thiếu thuyết phục xét trên bình diện nhân bản, chỉ vì tôi muốn chu toàn thánh ý Thiên Chúa không? Tôi có quyết định làm một việc gì đó chỉ vì “Lời Thầy” chứ không có gì bảo đảm trên bình diện nhân loại không? Tôi có kiên trì thi hành bổn phận, ngay cả khi tôi cảm thấy mình có vẻ ngốc nghếch không?
Những loại câu hỏi này bắt buộc người thụ huấn phải khiêm tốn quỳ gối và nhìn nhận rằng nơi mình vẫn còn những điều đối nghịch với dự phóng của Thiên Chúa; đó là những sự bất nhất trọng yếu của mình và cũng là những nguyên nhân đưa đến việc thiếu mạch lạc giữa việc tuyên xưng những giá trị và việc thực hiện các giá trị trong đời sống.
Nếu họ không đủ can đảm đặt mình trước những câu hỏi ấy, thì nhà giáo dục có bổn phận phải “lôi chúng ra”… Khi nhà giáo dục biết đặt ra những câu hỏi đúng, vào những thời điểm thích hợp, thì đó quả là một nghệ thuật, vừa có tính chất tâm lý vừa có tính chất thiêng liêng.
Khi nhà giáo dục giúp người thụ huấn trực diện với những câu hỏi ấy và thách thức một cách thông minh, thì họ mới thật sự có khả năng thực hiện cuộc hành trình biết mình và uốn nắn mình một cách hiệu quả, bởi vì họ biết phải tập trung nỗ lực trong những phạm vi nào.
3. “Anh em phải coi chừng và tỉnh thức…” (Mc 13,33)
Dĩ nhiên là không phải hết mọi người đều có thể phân tích bản thân mình một cách rạch ròi như trên được, nhất là đối với người trẻ. Do đó, người thụ huấn cần phải có động cơ thúc đẩy và kiên nhẫn với chính mình.
Thật vậy, ngay từ đầu cuộc hành trình mà họ liều lĩnh tìm kiếm sự thật của mình nơi những người chung quanh, họ sẽ có cảm giác thiếu thông cảm với chính mình và chỉ làm cho cuộc sống của họ thêm phức tạp. Trong lương tâm thầm kín (hay trong vô thức), có lẽ họ nguyền rủa số phận đã bắt họ phải sống bên cạnh một người không cho họ được bình an và không ngừng đặt họ trước những câu hỏi có khả vạch trần con người của họ…
Kỳ thực thì việc phân tích bản thân không giống như việc tập thể dục mỗi ngày, hay thao luyện trí óc, cũng không phải là việc trả lời cho người hỏi cung, nhưng là học tập mỗi lần một chút, sao cho mình có được thái độ không ngừng chú ý đến bản thân và cảnh giác một cách thông minh. Đó là những yếu tố giúp người thụ huấn biết mình trong một thời điểm cụ thể, không chỉ biết mình đang làm gì, mà còn biết tại sao hay vì ai mà họ đã cư xử như thế, và khi cư xử như thế thì họ nhắm đến mục tiêu thầm kín nào, hay bị thúc bách bởi nhu cầu nào.
Nói cách khác, họ không chỉ học cho biết cách xét mình, mà còn phải gìn giữ lương tâm như một tài sản cao quý, bởi đó là điều làm cho chúng ta giống như Thiên Chúa. Một lương tâm ngay thẳng được ví như phần mở đầu của diễn từ về sự thật, hay điều kiện cơ bản của tự do, một tài sản cao quý khác. Phải dạy cho họ hiểu rằng, nếu họ không biết bản chất thâm sâu của mình, họ không thể có tự do, bởi vì họ sẽ bị thống trị bởi những thế lực đen tối. Điều gì nơi bản thân mà họ không biết, thì sớm hay muộn điều ấy cũng sẽ trở nên ông chủ thống trị con tim họ.
Thật phi lý khi cho rằng phương pháp giáo dục như trên sẽ làm cho người thụ huấn trở nên bối rối và cầu toàn, nhưng trái lại thì có. Hễ ai muốn học cho biết mình, kể cả những điều thầm kín, và hiểu rằng khám phá động cơ đích thật của hành động quả là điều khó khăn, kẻ ấy cũng sẽ biết tự chế, để không phê phán người khác một cách dễ dàng và không gán cho người thân cận bất cứ ý hướng nào, nhưng biết tỏ lòng thương xót anh chị em mình và khẩn cầu lòng thương xót của Thiên Chúa. Nói cách khác, họ biết cầu nguyện và cuối cùng, sẽ có lòng thương xót với chính mình. Và đó đâu phải là chuyện tầm thường, bởi vì chính nơi đó mà họ có được sự hoàn thiện đích thật, sự hoàn thiện của tình yêu.
Như vậy, rõ ràng là chúng ta không thể giản lược tất cả tiến trình trên đây vào việc nội quan của người thụ huấn mà thôi, trái lại họ phải mở lòng đón nhận mọi sự đóng góp từ bên ngoài, từ giám sư cũng như anh chị em của mình. Thật vậy, có những điều nơi bản thân mà chúng ta không thể thấy và không hề tưởng tượng nổi, nhưng đó lại là những điều mà người ngoài dễ thấy. Kẻ nào tự do và thông minh thì không bực bội, khi có người “chế giễu” hành vi của họ một cách nào đó (có lẽ chỉ đùa thôi). Họ chiếu cố đến tất cả những lời chế giễu đó và thậm chí qua những nhận xét ấy, nhất là những nhận xét khiến họ có ác cảm và muốn phủ nhận, họ cố nắm bắt cho được những chỉ dẫn hữu ích, giúp họ thấu hiểu cái tôi bí ẩn của mình.
[1] E. Balduci, L’insegnamento di don Milani (Roma: 1995), tr. 100.
[2] Cencini, Vivere riconciliati, 46. Trong tư cách là nhà tư vấn, khi tôi đứng trước những trường hợp rất kỳ lạ, tôi không còn lấy làm ngạc nhiên vì nguyên tắc vững chắc này. Chẳng hạn như hai tu sĩ sống lặng lẽ với nhau mà chẳng cảm thấy bối rối trong lương tâm, mặc dù họ quan hệ với nhau gần như hai vợ chồng trong suốt 10 năm. Hay một tu sĩ nọ có khuynh hướng ấu dâm thực sự, mà lại biện minh là “năng lực hợp nhất của người độc thân,” cho nên khuynh hướng đó đã làm cho kẻ ấy có một “lương tâm mới và một kiểu hiệp thông mới.” Trong hai trường trên đây thì không có triệu chứng bệnh lý (tất nhiên là không ở phạm vi này). Rất thường xảy ra là người ta phát huy những thái độ ấy mà không hề cảm thấy bị xáo trộn và không bao giờ kiểm tra nguyên nhân của chúng. Đến một lúc nào đó, những thái độ ấy chi phối ngay cả cách suy nghĩ và đánh giá của họ (hoàn toàn hợp lý).
- 04.07.2011 Những phẩm chất của một linh hoạt viên
- 05.06.2011 Phương pháp LEA: "Quan sát, Đánh giá, Hành động"
- 19.05.2011 Thông báo tuyển sinh
- 19.05.2011 Thông báo kết quả tuyển sinh
- 17.11.2010 5 lỗi cần tránh trong linh hướng đối với những ai đang biện phân ơn gọi

