Tỉnh dòng Phanxicô Việt Nam

Những người mang quà tặng Phúc Âm

Monday, May 21st

Last update06:02:34 AM GMT

Nhật ký đi làng!

dungnguyen_dongdai_tangĐồng Dài, ngày … tháng … năm 2010 

18 giờ 00, tôi bắt đầu lên đường nhưng cũng hồi hộp vì không biết đêm nay mình sẽ ngủ ở đâu. Trong những ngày qua, dẫu đã nghiên cứu khá kỹ con đường đến Khánh Phú - Giang Bay; nhưng tối nay, tôi cảm thấy như vẫn còn khá lạ xa. Tôi chợt nhớ đến lời Chúa Giê-su đã nói với các Tông đồ ngày nào: “Thầy không để anh em mồ côi, Thầy đến cùng anh em”; và cứ thế mạnh dạn lên đường…

Những ngày qua, Ama đã dặn dò tôi đủ điều, nhất là việc phải ra đi trong tinh thần vui tươi khiêm tốn nhưng cũng phải tỉnh thức và khôn ngoan. Quãng đường xa 25 cây số, qua những đọan rừng keo vắng nhà, rồi nghĩ tới chuyện cướp cạn đêm khuya … Sợ! nhưng trước mắt cứ đi rồi sẽ tới. Chuyến đi làng đầu tiên xuyên đêm của tôi là như thế!

Ra đi khi trời xẩm tối, đến nơi thì trời tối xẩm. Có thể không nhìn thấy mặt người, nhưng tôi vẫn có thể nhận ra những người anh em trong cộng đòan đang hiệp thông với tôi. Có lẻ nhờ thế, mà những lạ lẫm hay bỡ ngỡ của bước đầu gặp gỡ đồng bào sắc tộc đã nhanh chóng biến thành những tình cảm thân mật như trong một gia đình. Quả thật, khi gặp được những con người chân chất và nghèo túng, trong tôi không còn chút gì e dè. Thương sao cho những mảnh đời đã sống lâu trong cái khổ nên cũng quen dần với cái đói mà không kêu ca hay oán trách số phận!

Đêm đầu tiên ngủ tại một gia đình Raglei, họ tuy nghèo, nhưng tinh thần hiếu khách và yêu mến dành cho người theo Chúa thì không hề thua xứ Bắc ta. Sự xuất hiện của tôi như một chút niềm an ủi cho họ, cho dẫu tôi ý thức mình chẳng là gì. Một điều gì đó vừa gần gũi vừa thân quen ùa về với tôi sau bao ngày xa cách đồng bào, bởi vì trước đây tôi cũng đã từng có những ngày may mắn được sống với bà con Ja-rai. Lần này, ở lại bên họ, tôi tiếp tục lại được nghe những câu chuyện về nương rẫy, về tình làng, mối quan hệ họ hàng của họ. Đêm nay, tôi ngủ trế hơn mọi ngày không phải vì lạ chỗ, nhưng ấm lòng vì vui sướng được đón nhận tình thương của những con người suốt đời chỉ lam lũ khó nghèo.

Sáng đầu tiên, tôi khởi hành sớm để di dự một đám tang cách ngã ba Nước Nhỉ khoản ba cây số. Và tiếp theo là hai đám tang khác ở cách Khánh Phú khoảng hơn ba mươi cây số (một ở Giang Biên và một ở Cầu Bà). Họ ra đi không để lại di chúc, không có gì đáng giá. Những người đưa tiễn cũng lặng lẽ như người ra đi cũng âm thầm không lời từ biệt. Ba con người vừa chết khác nhau về tuổi tác, hoàn cảnh nhưng họ có cùng ba cái chung của những người nghèo, cái nghèo mà chỉ anh chị em đồng bào mới có. Đó là “ba không”: không kèn trống, không khăn tang và không cờ quạt.

Cái chết là điểm kết chung của mọi người để lại nhiều đau xót cho những kẻ còn ở lại. Đối với anh chị em Raglei cũng thế, nhưng những cái chết “ba không” và cách diễn tả đơn sơ của họ làm tôi không khỏi miên man suy nghĩ về cuộc sống hiện tại có thể còn đầy những toan tính của mình. 

Đồng Dài, ngày … tháng ,… năm 2010 

Lồng đèn muộn!

Khi còn nhỏ, mỗi lần Trung thu đến là bọn trẻ chúng tôi háo hức. Khi ấy, dù nghèo, bố mẹ tôi vẫn cố gắng tìm mua cho tôi một cái lồng đèn cho kịp đêm rằm. Tối nay, tôi lên thăm các em nhỏ Raglei tại xóm dốc Amei. Xóm đạo mới có khoảng năm mươi gia đình, không quên mang theo gần một chục cái lồng đèn làm quà Trung Thu muộn cho các cháu.

dungnguyen_dongdai_denlongmuonNhững chiếc lồng đèn muộn này đã đến đây khi con trăng đêm Trung Thu đã qua hơn hai tuần. Thế nhưng với các em nhỏ trong xóm lại là những món quà đầy ý nghĩa và niềm vui. Không có đủ để tặng mỗi em một cái. Vậy là tôi chia theo gia đình. Bất kể gia đình có mấy cháu nhỏ đều nhận một cái. Sự công bằng với anh em dân tộc là một yếu tố quan trọng trong giao tế hằng ngày. Những lồng đèn muộn như tìm được chỗ đứng ở đây. Ở đâu đó, trong lúc này, những chiếc lồng đèn đã qua một lần sử dụng chẳng khác nào những mãnh rác thừa sau ngày lễ hội thừa đèn dư bánh ngập kẹo. Nhưng ở ngôi làng lưng chừng dốc này, những chiếc “lồng đèn muộn” lại đem đến cho bọn nhỏ cả một đêm khó ngủ. Đám trẻ rủ nhau đi khắp các nhà. Từng đứa cứ thay nhau xách những chiếc đèn lạ lẫm, hò hét, vỗ tay … vui thực là vui. Niềm vui của trẻ thơ sao mà đơn giản và thi vị quá!

Kim đồng hồ đã chỉ hơn 22 giờ, tôi cũng cảm thấy khá mệt sau hơn hai giờ cuốc bộ lang thang ghé thăm bà con trong xóm; nhưng xem chừng bọn trẻ vẫn còn say sưa những với “lồng đèn muộn”. Trong những ánh mất thơ ngây ấy, tôi dường như đọc ra được sự vô tư đến lạ thường. Các em không hề thắc mắc: những chiếc đèn kia cũ hay mới và đêm nay có còn là Trung Thu nữa hay không. Các em chỉ cần biết: đó là những đồ chơi mà nhiều khi cả đời các em chưa hề được một lần chạm tay tới.

Andre Dũng Nguyễn ofm