Tỉnh dòng Phanxicô Việt Nam

Những người mang quà tặng Phúc Âm

Thursday, Feb 09th

Last update01:39:39 PM GMT

Trích những mẩu chuyện bên lề tháng sáu ...

d133Mến Thánh giá nào?

Trong giờ giảng phòng, thuyết trình viên đang say sưa thuyết giảng về mầu nhiệm Thánh giá, đặc biệt ngài gọi Phanxicô là "Vị Thánh Mến Thánh Giá" ngay từ thế kỷ thứ XIII và thánh nhân rất yêu mến chiêm ngưỡng tượng Thánh giá tại Nguyện đường San Đamianô, khiến mọi người thinh lặng chăm chú lắng nghe và miên man trầm tư về linh đạo.

Bỗng từ trên bục giảng nhìn xuống, trông thấy một tu sĩ đang đắm chìm trong giấc điệp nồng nàn, thuyết trình viên ngắt lời và nêu câu hỏi với người anh em:

- Anh ..., anh mến Thánh giá nào?

Bị đặt câu hỏi một cách bất ngờ và vốn là người anh em có quen biết và làm việc một thời gian khá lâu phục vụ rất nhiều chị em nữ tu DMTG chỗ này chỗ nọ, nên sau một vài giây phút nghĩ ngợi và dường như để so sánh, cân nhắc, anh điềm đạm trả lời:

- Thưa anh, đó là mến Thánh giá Chợ Quán.

Câu trả lời lạ lùng không làm cho thuyết trình viên cảm thấy hài lòng, nên ngài hỏi tiếp như để bắt bí vị tu sĩ ngủ gà ngủ gật kia:

- Vậy, anh hãy cho biết lý do tại sao như thế?

Một cách rất đơn sơ, người anh em trả lời:

- Vâng, cho dù rất nhiều lần phát động phong trào chỉnh trang thành phố, nhưng xem ra ở đó nhiều chợ trời vẫn được bày ra và quần áo bán "xôn" giá tương đồi mềm; vả lại, ở đó dọc theo các vỉa hè cũng có rất nhiều quán "cóc", ăn uống thoải mái và giá cả không mắc là bao nhiêu, rất hợp với túi tiền của anh em hèn mọn.

- Vị giảng phòng lẩm bẩm một mình: Ừ, nói thế mà nghe cũng được!

Đôi mắt sáng long lanh, thinh lặng ngồi lại xuống ghế và trước khi tiếp tục bài thuyết trình, anh còn gật gù, chúm chím miệng khẽ nói:

- Dù sao ..., mình cũng thích Chợ Quán. Ôi, Mến Thánh Giá Chợ Quán!

Mọi con đường đều dẫn tới Rô-ma

Thánh lễ vừa dứt, vị quản xứ nhà quê vào phòng thánh thay lễ phục và bước ra cửa. Một giáo dân cao niên, với vẻ hậm hực, chặn ngài ngoài cửa và nói:

- Tại sao con xin lễ hôm nay mà ông cố không dâng theo ý chỉ của con xin?

- Xin lỗi, tôi đã có nhắc cộng đoàn hôm nay cầu nguyện cho linh hồn An-nà, lúc đầu lễ và trong lúc đọc Kinh nguyện Thánh Thể.

- Nhưng con xin lễ cầu nguyện cho linh hồn An-na.

Một thoáng hụt hẫng, nhưng ngài giải thích cho ông lão hiểu:

- Linh hồn An-nà hoặc An-na thì cũng là một thế thôi!

Ông cụ có vẻ nóng nẩy và lớn tiếng với cha xứ:

- Làm sao mà như thế được? An-nà là An-nà, mà An-na là An-na, đâu có thể lầm lẫn như thế được?

- Xin cụ hiểu cho, đó chỉ là cách đọc quen miệng của người ta thôi; hoặc là do cách phiên âm tự do của người Việt Nam chúng ta. Mấy ngàn năm lịch sử oai hùng, nhưng chưa kịp thiết lập được một cơ quan, tạm gọi là "viện chữ nghĩa".

Ông cụ vẫn chưa chịu khuất phục, liền lên tiếng giải bày cho cha xứ:

- Chữ nghĩa dân ta phải rõ ràng, chỉ cần thêm bớt một dấu, hoặc một chấm, một phẩy, cũng lắm chuyện xảy ra! Ông cố không biết là xã hội chúng ta ngày nay rất lộn xộn sao? Nhất là mấy ông nhà báo cứ cắt xén, bôi xóa, chỉnh sửa câu cú tùy thích, khiến nhiều người cứ suy nghĩ loạn xà ngầu cả lên, như ong vỡ tổ! Còn bọn trẻ thì viết lách lung tung, chấm phẩy muốn thả ở chỗ nào thì thả, mỗi lần đọc bài, không nhảy lộp bộp như cóc nhái, thì cũng hụt hơi như bò kéo xe.

Cha xứ trợn tròn con mắt và chưa biết đối đáp như thế nào, ông lão tiếp lời:

- Ông cố chưa nghe người ta nói sao: Mọi con đường đều dẫn tới Rô-ma? Tới được Rô-ma thì có thể trông thấy Giáo triều; chứ thêm vào một dấu huyền, Rô-ma biến thành Rô-mà, thì có nước đi vào cõi âm và chỉ thấy âm triều mà thôi!

Cha xứ nhíu lông mày, ra chiều chưa thông suốt cho lắm. Ông cụ phán tiếp một cách cương quyết:

- Rô-ma thì còn Ra-mô; chứ Rô-mà là Ra mồ đấy!

- Cha quản xứ: Cảm ơn cụ. Lần tới, tôi sẽ cẩn thận hơn.

Bài thuốc gia truyền

Vị tu sĩ nọ, vốn rất tốt bụng nhưng tính tình thì thẳng như ruột ngựa, thỉnh thoảng cũng lên tiếng về chuyện này nọ có vẻ chướng tai gai mắt ngoài đời và trong đạo. Sau khi nghe vị thuyết giảng nói một vài điều đạo đức, khuyên nhủ mọi người hãy sống noi gương Đấng "hiền lành và khiêm nhường trong lòng", anh ta liền nghĩ ngợi:

- Chẳng biết ngài nói như thế là có ý nhắm vào mình không?

Một người anh em khác ngồi bên cạnh đoán được ý nghĩ thầm kín, nên nói nhỏ vào tai anh:

- Vị thuyết giảng của chúng ta ngoài kiến thức cao siêu về thần học, ngài còn có tài chữa bệnh theo phương pháp gia truyền khá nổi tiếng nữa đấy!

- Nhưng quái lạ! mình quá biết vị giảng thuyết này mà! Ông ta rất chuyên về lãnh vực thần học, còn về cái mảng y tế, chẳng biết ông ta học khi nào và học ở đâu, học với ai?

- Chuyện nhỏ! Học ở trong Phúc âm chứ học ở đâu nữa. Anh thừa biết: ngài là môn đệ của Thánh Phanxicô, luôn lấy Phúc âm làm chuẩn.

- Tớ thấy hai lãnh vực này, đạo đức và y tế, thường hay xung khắc với nhau lắm. Hiện nay, ngoài xã hội, thiên hạ thường kháo láo với nhau về chuyện y đức. Y mà "đứt" thì coi như "đứt" toi mạng! Đức mà y, "y tờ rít", nghĩa là không biết và không sống, thì mạng người cũng dễ toi!

Người bạn ngồi kế bên giải thích tiếp:

- Trong đạo thì lấy yêu thương hóa giải hận thù; vị Thánh nghèo thường dạy con cái của ngài: "Đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp ..."; còn trong y học cổ truyền thì trên xoa dưới bóp là cách chữa trị công hiệu nhất.

- Ừ. Trên xoa thì tốt, nhưng dưới bóp thì đau thấy ông bà nội!

- Yêu mà không đau thì ra thể thống gì! Bóp mà có đau thì mới mau khỏi bệnh, giống kiểu thuốc đắng dã tật, như cha ông ta xưa thường nói!

- Để tớ thử làm theo lời chỉ dẫn một lần này cho biết.

Ba tu sĩ và cây Thánh giá

Để được tận mắt chứng kiến tượng Thánh giá Đamianô nổi tiếng, nơi xảy ra câu chuyện Chúa Kitô chịu đóng đinh đã hiện ra với vị thánh nghèo thành Átxidi, ba vị tu sĩ nọ đã xin phép bề trên lên đường đến thăm viếng ngôi Nguyện đường năm xưa.

Khi tới nơi, ba người quỳ xuống thinh lặng cầu nguyện. Sau một hồi chiêm ngắm tượng Thánh giá, vốn là những người trẻ cũng có chút năng khiếu nghệ thuật, ba người mới chia sẻ những nhận xét và suy tư của riêng mình.

Tu sĩ A nói:

- Ngắm bức tượng, tôi thích nhất đôi mắt của Chúa. Đôi mắt Ngài mở to hết cỡ, thực đắm đuối, dịu hiền, như đang nhìn chúng ta; và dường như đặc biệt Ngài chăm chú nhìn tôi không nói một lời!

Tu sĩ B tiếp lời:

- Tôi bị đánh động bởi hai cánh tay của Chúa dang rộng hết cỡ, như thể Ngài đang bay lên và bay mất hút vào khoảng không bao la của vũ trụ, thực êm đềm và liệng qua liệng lại trông mới hấp dẫn làm sao!

Tu sĩ B vừa dứt lời, thì ngay lập tức tu sĩ C lên tiếng:

- Hai bạn có chú ý đến những mảnh vò sò được viền chung quanh tượng gỗ không, và cả cái con gà trống thiến béo ú ù nữa chứ? Tuyệt, tuyệt vời ...! Con người thời thế kỷ XIII sao mà họ yêu mến vũ trụ và vạn vật đến thế! Hèn chi ông thánh Phanxicô thưở ấy thích lui tới nơi vắng vẻ này để cầu nguyện và chiêm ngưỡng. Quả thiên hạ ngày nay cũng có con mắt tinh đời, khi họ chọn thánh nhân làm vị thánh Bổn mạng môi sinh!

Ba tu sĩ có vẻ thích thú, cứ đi tới đi lui, hết lượn qua bên phải rồi lượn qua bên trái, ngắm nghía bức tượng Thánh giá từ mọi góc cạnh. Bỗng họ nhìn thấy hai ngón chân cái nơi đôi chân bị đóng đinh của Chúa Giêsu trên cây gỗ nhúc nhích và nghe mơ hồ như có tiếng nói không được thoải mái cho lắm vọng lên:

- Này ba anh bạn của Ta, đừng có lượn lờ, ỏng ẹo như thế nữa. Ta ở trên cây gỗ này đang đau đớn khủng khiếp. Mắt trợn cả lên, còn môi miệng thì méo xệch. Tay của Ta bị đóng đinh cứng ngắc như thế này, thì bay với lượn chi nổi. Các ngươi không nhìn thấy máu me chảy nhỏ tùm lum và màu đỏ thấm đẫm loạn xạ cả lên sao? Còn ngươi nữa, đẹp đẽ thế quái nào được, môi sinh với chẳng môi trường?

Một tiếng thở dài ...; rồi tiếng nói lạ lùng lại vang lên:

- Mấy cái mảnh vỏ sò và con gà trống kia là cả một kinh nghiệm đau thương của Ta về tình bạn, mà nào các ngươi có hiểu! Một anh thì bán rẻ Ta lấy 30 đồng, sau đó rủ rê thêm mấy đứa đồng hương ra quán cóc bù khú bia bọt với nhau; chúng gọi hải sản ra nhậu, lủm hết thịt ngọt bên trong, rồi quăng vỏ sò lăn lóc dưới chân bàn. Còn anh kia: gà chưa gáy thì đã chối Ta tới ba lần; lại còn cái tội mê chọi gà và mê đi câu cá!

Tiếng nói vừa dứt, ba vị tu sĩ hoảng hồn khiếp vía. Nằm co quắp như mấy con tôm luộc, úp mặt xuống nền nhà, miệng lí nhí:

- Lạy ... Lạy ...Lạy Ngài, chúng con phải làm gì?

- Các ngươi hãy đi tu sửa lại Nhà Ta! Thôi đứng lên và mau lên đường. Hãy mau mắn, can đảm, khiêm tốn và nhiệt tình như vị thánh tổ của các ngươi. Đừng có nằm ì ra đó nữa!

- Vâng, Lạy Chúa, chào Chúa, chúng con ra đi.

- Á, mà này, các ngươi hãy dùng việc làm và lời nói mà làm chứng cho Ta. Cũng đừng quên sử dụng cả cái trí tưởng tượng dồi dào và cái tài vẽ vời rất dễ thương mà Ta đã biếu không cho mỗi người trong các ngươi!

Từ trên Thánh giá cúi xuống, Chúa Giêsu mỉm cười nhìn các người bạn của Ngài hồ hởi bước ra khỏi cửa nhà nguyện.

Trái tim của Bản Luật

Trong buổi thảo luận chuyên sâu về Di cảo của thánh Phanxicô, các nhà trí thức bàn cãi rất say sưa và sôi nổi. Họ suy tư và phân tích từng câu, từng chữ; thậm chí một từ cũng có thể được các vị mổ xẻ ra từng thành mẫu tự abc. Trong một khoảnh khắc cao hứng, một học giả lên tiếng:

- Này anh em, đối với tôi, chương 6, 1 – 9, đúng là trái tim của Bản Luật.

Một người khác:

- Theo ý kiến của tôi, đây mới là trái tim của Bản Luật: chương 10, 7 – 13.

Một học giả khác:

- Nếu dành thời gian đọc chậm rãi và phân tích chương 9, 1 - 2, tôi thấy câu nói này đúng là lỗ tai của Bản Luật, vì Cha thánh dạy "không được giảng ...". Không được giảng, thì đương nhiên là phải thinh lặng dựa cột mà nghe rồi và chỉ có dỏng tai mà nghe thôi. Thây kệ, ai muốn nói hươu nói vượn thì nói, bổn phận của chúng ta là chỉ có vâng lời và vâng lời.

Người ngồi sát bên cạnh vị này, tiếp lời:

- Anh em thử nghe câu này: "Tôi cấm ngặt toàn thể anh em không được nhận tiền bạc ..." . Theo tôi, đây đúng là lá gan của Bản Luật. Vì sống trong thời buổi khó khăn này, ai mà không thích tiền bạc; hơn nữa, lúc này, như thiên hạ thường nói: "tiền là tiên là phật, sức bật của tuổi trẻ, sức khỏe của người già, cái đà danh vọng, cái lọng che thân, cán cân công lý, cái lý của bề trên, cái hên của bề dưới". Quả thực, phải to gan lắm mới có thể đề xuất lý tưởng này và dám sống theo điều đó.

Buổi trao đổi qua lại cứ thế mà tiếp tục ... Mỗi người một ý kiến; và hết phổi lại tới phèo, hết phèo lại tới ruột, hết ruột rồi lại tới mắt mũi ...vv. Có thể nói Bản Luật của thánh nhân đã được nhân cách hóa một cách sống động; và như một cơ thể sống, thậm chí Bản Luật như còn có thể chạy tới chạy lui, tung tăng nhảy nhót trên những đôi bàn tay các nhà trí thức và hết chuyền sang đầu bàn lại tới cuối bàn, không khác gì cô gái trẻ cứ ngây ngất lắc lư trong vũ điệu cung đình.

Sau bữa cơm chiều, đến giờ tưởng niệm thánh nhân vào buổi tối, tất cả mọi người đi vào nhà nguyện và thinh lặng trước tượng thánh. Trong ánh sáng lung linh huyền ảo của những ngọn nến vàng, mọi người bất chợt nhìn thấy thánh nhân hiện đến. Đôi mắt ngài nheo nheo, đượm chút sự tinh nghịch vui tươi như thời còn trai trẻ hát dạo trên các nẻo đường thành phố Átxidi với đám bạn con nhà giàu; đôi môi ngài tủm tỉm như mỉm cười thân thiện với đàn em đang đầy lòng sốt mến, Thánh nhân nói đủ lớn cho mọi người có thể nghe:

- Anh em thân mến, cảm ơn anh em đã có công tìm học nơi cha. Nhưng trên hết, anh em hãy tạ ơn Chúa, vì Người đã tỏ lộ cho cha là một kẻ dốt nát, có khả năng viết ra những lời cao siêu và thánh thiện để hướng dẫn anh em sống mà phục vụ Thiên Chúa và mọi người.

Cả phòng nguyện đắm chìm trong thinh lặng và tất cả anh em đều cảm thấy phấn khởi như ngọn lửa đang bừng cháy trong tâm hồn. Thế rồi, một cách thong thả, thánh nhân nói tiếp:

- Cha thực không hiểu tất cả những điều anh em đã phát biểu trong buổi họp. Cha nghe loáng thoáng cứ y như thể anh em là những y sĩ giải phẫu, chứ không phải là những tu sĩ hèn mọn. Thú thực với anh em, từ khi được Chúa gọi và dốc quyết một lòng một dạ đi theo Chúa, cha đã dâng lên Chúa trọn vẹn cả xác hồn và mạng sống của cha; và dĩ nhiên trong đó, có hết cả trái tim, trí khôn, sức lực, lục phủ ngũ tạng và hết thảy mọi giác quan. Cha chỉ xin Chúa cho cha giữ lại đôi chân khẳng khiu của cha. Để với bộ vó gầy guộc này, cha nguyện một đời bước đi theo sát vết chân Chúa Kitô, Đấng đã chịu đóng đinh. Chính nhờ đôi chân này mà cha đã có thể bước đi từng bước vững chắc, từ thế giới của con người vượt sang thế giới của Thiên Chúa; và cũng từ thế giới của Thiên Chúa mà giờ đây, cha lại có thể còn đến được với anh em.

Dừng lại trong giây lát, như thói quen mỗi lần nghe nhắc tới Danh Thánh, thánh Phanxicô cứ như một kẻ xuất thần. Ngài ngước mặt lên trời, hai tay chắp lại trước ngực, miệng thầm thì những lời khẩn nguyện mà chắc chắn chỉ có Chúa mới có thể biết được thánh nhân đang nói gì. Thế rồi, đưa mắt rảo quanh một vòng nhìn anh em hết thảy, ngài như muốn chờ đợi xem có ai muốn hỏi han điều gì không.

Một anh em cao tuổi và cũng là một giáo sư dạy thần học, giọng khàn khàn, lên tiếng:

- Thưa Cha, thế không phải Bản Luật Cha đã viết và trối lại cho chúng con là tất cả cuộc sống, là tất cả con người, tất cả ước vọng của Cha sao?.

- Đúng như anh nói đó. Nhưng anh phải biết đôi chân là quan trọng lắm! Không có đôi chân đủ mạnh thì làm sao người ta có thể đi theo Chúa, mà lại phải đi thật sát theo vết chân của Chúa. Anh biết, mỗi lần đi tới với Chúa Cha và đi tới với con người, nhất là những người nghèo hèn bé nhỏ, ốm đau và tội lỗi, thì Chúa Giêsu bước mau và bước khỏe vô cùng, đến gặp gỡ và cứu giúp họ.

Thấy người anh em còn đang phân vân, lưỡng lự, Cha thánh nói tiếp:

- Trong xã hội hiện nay, anh thấy đó, mỗi người chỉ có hai chân, người ta đi khắp nơi mà chẳng biết phân biệt nơi nào tốt xấu, đến nỗi Chúa phải ngao ngán thốt lên: "muốn đi đâu thì cứ việc đi"! Rất nhiều người khác lại còn hối hả chạy. Họ chạy đủ thứ chuyện: chạy tiền, chạy giấy, chạy con dấu, chạy trường, chạy chức, chạy ghế và ngoài đường phố, lại còn chạy đua và chạy ẩu nữa đấy! Đôi chân quả thực là vô cùng quan trọng!

Một người khác đã từng một thời gian lăn lộn khắp nơi, miệt mài với sứ vụ truyền giáo, nay chuyển sang công tác huấn luyện, thưa lên với Cha Thánh:

- Đôi chân thực là quan trọng; không những quan trọng mà còn đáng trân trọng, vì như ngôn sứ nói: "Đẹp thay trên đồi núi, bước chân người loan báo tin mừng ...". Anh em chúng con, trong thời gian gần đây, cũng thường kháo láo với nhau rằng: "Chúa nói với chúng ta trên đường đi". Có chân thì mới bước, mới đi và đi xa được. Chúa hiện diện ở khắp nơi, thì Người cũng nói ở khắp mọi nơi. Dường như, Người rất ít nói với mấy anh bị tai biến, thường nằm liệt giường hoặc phải xoay xở trên chiếc xe lăn, vì chúng con thấy trong cộng đoàn, mấy người anh em đó rất ít nói.

Một giáo sư khác, tuổi trẻ tài cao, rất ư là hội nhập văn hóa, ước mơ nồng cháy mang đạo vào đời, anh gật gù ra chiều tâm đắc:

- Thưa Cha, quả vậy! Trong các cuộc thi hoa hậu và người mẫu đang loạn xả cả lên trong xã hội ngày nay, và cả trong giới các cầu thủ, ngôi sao thể thao bóng đá, có nhiều người còn chịu chi rất nhiều tiền để chỉ mua bảo hiểm riêng cho cái cặp giò. Theo con được biết, các đại gia, các vip hôm nay cũng rất thích các eva cẳng dài, y như thể cứ dài cẳng thì có cơ may hái ra tiền dài dài.

Thánh nhân có vẻ trầm ngâm một chút; sau đó, ngài dặn dò:

- Trong đời sống thiêng liêng, chính thánh Phaolô có kinh nghiệm quý báu về chuyện này, khi anh em nghe ngài mách lại cho ông Timôthê biết: "Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin". Nếu không có đôi chân cứng cáp như vận động viên đường trường, thì làm sao mà Thánh Tông đồ chạy nổi?

Vừa dứt lời, thánh nhân xoay lưng và thong thả cất bước đi khuất vào phía cửa hông bên phải cung thánh. Tất cả mọi bóng điện trong nhà nguyện vụt sáng và anh em cất tiếng hát rộn rã:

- "Theo gương Con Chúa xưa nơi thế trần, cao sang nhưng đã muốn sống đời thanh bần, Phanxicô, đấng nối gót Chúa chí nhân, đã xây nên một cơ nghiệp giàu có ...".

Thường huấn "Trái Cà"

Vốn phụ trách về mảng hoạt động môi trường, đặc biệt lại có tâm hồn yêu mến thiên nhiên vạn vật, vị tu sĩ được Nhà Dòng đề cử lên lớp thường huấn cho anh em.

Sau khi đã giải thích rất mạch lạc, cặn kẽ, tỉ mỉ đến từng chi tiết những khoản luật, cũng như nói tới lịch sử phát triển của con người và thế giới, mối tương quan mật thiết, hài hòa giữa con người và vũ trụ, anh đã trình bày lịch sử của trái cà.

Trong phòng học, đâu đó vang lên một vài tiếng cười. Đằng hắng vài tiếng, anh nghiêm giọng:

- Một trái cà thôi, tuy nhỏ bé, nhưng cũng là thiên nhiên và có cả một quá trình phát triển; hơn nữa, trái cà cũng là một thứ cây trái lương thực góp phần nuôi sống chúng ta.

Khi tiếng cười đã chấm dứt và ngay cả tiếng xầm xì to nhỏ cũng không còn, anh nói tiếp:

- Kinh nghiệm bản thân, trước đây tôi đã từng là một người trồng hẹ. Canh lá hẹ ăn rất ngon và bổ, tuy nhiên ăn canh lá hẹ không thôi thì mau đói. Nay, để chắc bụng hơn, tôi đã chuyển sang trồng cà.

Thế rồi, đứng dậy, bước ra khỏi ghế, đi đi lại lại, anh tiếp tục say sưa giảng giải:

- Cà là một loại cây ăn trái, có nguồn gốc tận thế kỷ XIII; nếu chính xác hơn, có thể phỏng đoán vào năm 1209, cà đã xuất hiện trên trái đất này. Lúc ban đầu, trái nhỏ, tròn và mang nhiều màu sắc. Khi ăn, người ta cắn một cái thì phát ra một tiếng động không lớn lắm, nghe giống như tiếng nổ đì đẹt của loại pháo chuột, nên bà con thường gọi tên là cà pháo. Theo thời gian, có lẽ nhờ kinh nghiệm sản xuất, trái cà to lên hơn nhiều, hấp thụ được nhiều ánh sáng mặt trời, nên trở thành cà chua đỏ chói. Một vài năm sau, vì ô nhiễm môi trường gia tăng, trời thường mây mưa nhiều hơn nắng, nên cà đổi từ màu đỏ sang màu tím, trước đây trái hình tròn thì nay lại thon và dài ra, nên thiên hạ gọi là cà tím. Người bình dân thì căn cứ theo hình dáng, gọi là "cà-gờ-dê".

Rồi đặc biệt, tùy theo tâm tính con người của mỗi vùng miền, khi mang cây giống về trồng trỉa trên đất địa phương và tùy theo cung cách ăn uống, nói năng của dân sành điệu, người ta còn gọi tên là: cà chớn, cà rỡn, cà tàng, cà khịa, cà ngẳng.

Tại nhiều địa phương, thời tiết thuận lợi, nên mỗi vụ trồng thường trúng và đi đâu cũng gặp thấy trái cà, nhà nào cũng có, nhiều người tận dụng phương tiện sẵn có, chuyên chở ra chợ đầu mối rất xa nhà để bán bớt cho bà con ở các tỉnh thành khác; hoặc thậm chí đóng bao tải, cõng trên lưng, đi bộ hàng cây số sang địa phương khác để tiêu thụ. Tùy theo loại phương tiện chuyên chở hoặc nhìn bước chân của những người mang vác, thiên hạ còn gọi những tên khác thực dễ thương như: cà rịch cà tàng, cà tửng, cà tưng, cà niểng, cà lỉa, cà thọt ...vv.

Đến khoảng thế kỷ XVI, một số nhà thừa sai khi đi truyền đạo tận vùng rừng núi xa xôi, đã có công mang quảng bá cho cư dân đem trồng tại những vùng đất cao. Với khí hậu khắc nghiệt tại chỗ, trái cà lại biến đổi hình dáng, thậm chí có nhiều trái chỉa ra thành hai nhánh, dài lêu khêu; hoặc trở nên dai nhách, mỗi khi ăn phải ra sức nhai cho thực kỹ trước khi có thể nuốt vào bụng, khiến hàm răng lâu ngày bị hao mòn. Tại những vùng cao như thế, thiên hạ gọi là cà kheo, hoặc cà răng căng tai.

Cũng tại nhiều nơi, vùng cao cũng như vùng thấp, vì trái cà có liên hệ tới hàm răng. Không biết có phải vì ăn cà quá nhiều chăng, hàm răng của nhiều người bị ảnh hường, không mòn, thì sún; không hô, thì rụng, khiến cho việc phát ngôn gặp khó khăn. Vì thế, trong giới y khoa, người ta còn gọi loại trái này là: cà cà ..., hoặc theo ngôn ngữ chuyên môn là: cà lăm.

Bên cạnh đó, một số sư sãi lại thấy rằng loại cây trái này dễ trồng, dễ mọc, có thể cứu đói cho nhà chùa trong những ngày vụ mùa thất thu. Các thầy đem về trồng khắp nơi quanh đất chùa và thường ủ gốc bằng lá đa, cây cà trổ hoa và đậu trái, nhưng trái chuyển sang màu vàng, gọi là cà sa.

Trong thế kỷ XX, thời kháng chiến chống thực dân, quân đội phải rút vào chiến khu, nhiều ông tướng hậu cần thấy được lợi ích to lớn của loại cây trái này, lại đem theo phổ biến cho các chiến sĩ đem trồng ngay trong rừng rậm, căn dặn bất cứ đi đâu mỗi chiến sĩ cũng phải nhớ mang theo bên mình như mang theo cà mèng đựng cơm, đề phòng khi bất trắc, để cứu lấy tính mạng. Loại trái này lại được mang tên là: cà na, cà nông. Lính tây chẳng hiểu là trái gì, nhưng họ sợ hãi mỗi khi nhìn thấy chúng, họ đặt tên cho chúng là "grenade" vì các chiến sĩ thảy trái cà nho nhỏ đụng chỗ nào là nơi đó nát bét, tống trái nào lớn hơn rơi xuống trúng chỗ nào thì nơi ấy bà con nông dân bỏ ruộng bỏ vườn mà chạy trối chết, nên gọi là "canon".

Tại những quốc gia không xảy ra chiến tranh, nhiều người còn mang loại cây này ra trồng cả ở thành phố, thiết đặt cả hệ thống nhà kiếng, tưới tắm một cách khoa học hiện đại. Nhưng vì chăm sóc quá kỹ, lại trồng gần nhà cao cửa rộng, hơi hám bê tông cốt thép ảnh hưởng trên cây trồng, cây cho trái nhưng trái lại nhỏ và rất cứng, màu sắc linh tinh và kiểu dáng tùm lum, nên gọi là cà rá. Khốn nỗi quý bà quý cô lại lấy làm thích thú với thứ trái cây đa dạng này và đeo lủng lẳng khắp nơi trên tay, trên cổ, trên tai; đến nỗi có người gọi đùa đây là trái cây được Tạo hóa dành riêng cho giới phụ nữ, theo ngôn ngữ thời thượng của thị thành, đây là "quả phụ".

Hiện nay, trong các gia đình và hàng quán, tùy theo cách thức chế biến, người ta chỉ gọi một cách đơn giản là: cà mắm, cà luộc, cà hấp, cà nướng v.v...

Dừng lại một chút, vị tu sĩ hỏi thử xem có anh em nào không kịp theo dõi và nắm bắt được gốc gác của trái cà. Dường như hết thảy anh em đều ngớ người ra, vì chưa bao giờ họ được biết trái cà lại có đường đi nước bước huyền ảo như thế, cho dù trước đây trong Nhà Dòng, món ăn này có một thời là món tủ của mấy thầy bếp. Vị tu sĩ lại tiếp tục lên tiếng:

- Hiện tại, cần phải tiếp tục nghiên cứu, để xem có mối liên hệ nào giữa trái cà này với một thứ mới khác, có tên là cà phê, hạt nhỏ mịn và màu đen bóng, mà rất nhiều người trong xã hội rất thích thú. Thứ cà này lại thường được sử dụng đi kèm với thuốc lá, gọi chung là cà phê thuốc lá; ngoài ra, bà con có thể dùng nóng thêm chút đường, hoặc thêm chút sữa, hoặc thêm chút đá cục nếu muốn dùng lạnh, vừa làm phát triển kinh tế vì các hàng quán to nhỏ mỗi ngày một sinh sôi nảy nở khắp hang cùng ngõ hẻm, lại vừa làm phát triển mối quan hệ bạn hữu giữa con người với nhau, vì có dịp người ta ngồi lại chuyện trò cà kê dê ngỗng.

Anh vừa dứt lời, cả phòng học nhốn nháo, mọi người trầm trồ thán phục. Và một anh em phát biểu ý kiến:

- Quả là các đấng bề trên có con mắt, chọn lựa đúng người, đúng việc!

Cuối cùng, vị tu sĩ kết luận:

- Thưa anh em, qua bài thường huấn đơn sơ này, tôi xin rút ra hai điều tâm đắc: Một là tôi vui mừng vì trái cà đã được ghi nhận trong sách tự điển của nhiều quốc gia trên thế giới, dẫu rằng bản thân trái cà không có gì vĩ đại. Hai là dẫu lịch sử thường linh tinh và thậm chí lịch sử trái cà cũng rất ư linh tinh, như tôi vừa trình bày; nhưng trong thiên nhiên vũ trụ, vạn vật đều tương tác lẫn nhau và giữ cho sự cân bằng của hệ sinh thái, thì từ chuyện nhỏ cho tới chuyện lớn, nhỏ như trái cà cho tới lớn rộng như trái đất, nếu chúng ta biết chăm chút nghiên cứu học tập, tránh xa những việc làm ảnh hưởng xấu và thực hiện những điều mang lại ích lợi cho môi trường, thì thiết tưởng chúng ta cũng đã góp phần nâng cao cảm thức yêu mến, tôn trọng, dựng xây nền hòa bình trên thế giới và sự hài hòa giữa con người với Mẹ Đất của chúng ta.

Tiếng chuông báo hiệu đã tới giờ nghỉ reo lên inh ỏi. Buổi thường huấn kết thúc thành công tốt đẹp. Tạ ơn Chúa.

Chiều Giêricô