Tỉnh dòng Phanxicô Việt Nam

Những người mang quà tặng Phúc Âm

Monday, May 21st

Last update06:02:34 AM GMT

Giải pháp thiêng liêng cho mọi vấn đề

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ HÀNH ĐỘNG THEO CHIỀU HƯỚNG THIÊNG LIÊNG

Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí  bình an của Chúa.
Để con đem yêu thương vào nơi oán thù,
Đem thứ tha vào nơi lăng nhục,
Đem tin kính vào nơi nghi nan,
Đem trông cậy vào nơi thất vọng,
Dọi ánh sáng vào nơi tối tăm,
Đem niềm vui đến chốn u sầu.
 
Lạy Chúa, xin hãy dạy con
Tìm an ủi người hơn được người ủi an,
Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết,
Tìm  mến yêu người hơn được người mến yêu,
Vì  hiến thân chính là nhận lãnh,
Tha thứ cho người chính là được thứ tha,
Cam lòng chịu chết là được sống muôn đời. (Thánh Phanxicô Atxidi)

Trong phần đầu, tôi đã trình bày tỉ mỉ những nguyên tắc liên quan đến việc nhận thức về giải pháp thiêng liêng cho mọi vấn đề. Trong phần này, tôi đưa ra những đề nghị cụ thể để áp dụng những nguyên tắc này, dựa trên Kinh Hòa Bình nổi tiếng của Thánh Phanxicô Atxidi. Kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô phản ánh chủ đề cuốn sách, cho nên tôi đã lấy các lời nguyện trong Kinh Hòa Bình làm tựa đề cho bảy chương sau đây.

Mỗi lời nguyện là một bài học đơn sơ và dễ hiểu để gia tăng nghị lực, nhờ đó bạn có thể nhận thấy những vấn đề của bạn là ảo tưởng và chúng  sẽ biến mất khi bạn đem sức mạnh tinh thần vào đó. Để có  thể hiểu rõ sứ điệp thâm sâu của Kinh Hòa Bình, bạn đâu nhất thiết phải là người tu sĩ độc thân và dâng hiến cuộc đời trong nếp sống nghèo khó.

Trong phần thứ hai mỗi chương sẽ có những đề nghị thực hành gợi hứng từ lời kinh của thánh Phanxicô. Cuối cùng, việc thực hành sẽ thay đổi nhận thức của bạn về cuộc sống và khi bạn chọn giải pháp thiêng liêng, bạn có thể rút ra điều bổ ích từ cái gọi là vấn đề.

Với lời kinh của thánh Phanxicô, bạn không cần loại trừ điều gì, ngoại trừ những ảo tưởng gây ra vấn đề.

Nếu bạn muốn tăng cường nghị lực và thực hành những đề nghị rút ra từ lời kinh của thánh Phanxicô, bạn sẽ không còn nghĩ đến việc nhận lãnh nữa, nhưng luôn nghĩ đến việc góp phần biến đổi trường lực của những tình huống nan giải. Thiện ý đó được diễn tả  trong phần thứ hai của kinh Hòa Bình: “Lạy Chúa, xin dạy con tìm an ủi người hơn được người an ủi, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn được người mến yêu…”

Với Giải pháp thiêng liêng, bạn ý thức là phải trở nên khí cụ bình an, chứ không đòi hỏi người khác mang bình an đến cho bạn. Bạn sẽ hiểu sự nghịch lý tột độ của một cuộc sống không có vấn đề, như lời nguyện kết thúc Kinh Hòa Bình: “Bởi vì hiến thân chính là nhận lãnh, tha thứ cho người là mình sẽ được tha thứ; cam lòng chết là được sống muôn đời.” Vâng, chúng ta nhận lãnh khi chúng ta trao ban. Thay đổi não trạng một cách triệt để là điều kiện thiết yếu của gỉai pháp thiêng liêng, mà bước đầu tiên là trở nên khí cụ bình an.

Chương 1
LẠY CHÚA, XIN DÙNG CON NHƯ KHÍ CỤ BÌNH AN CỦA CHÚA

Nếu bạn có bình an, thì ít ra trong thế giới cũng có một sự bình an nào đó. Bấy giờ, bạn chia sẻ sự bình an của bạn cho mọi người, và mọi người sẽ được bình an. (Thomas Merton)

Bình an của Chúa là cụm  từ quan trọng nhất trong lời kinh thứ nhất của thánh Phanxicô. Khi bạn nghĩ đến Thiên Chúa, bạn hãy nghĩ đến sự bình an. Chúng ta có bình an khi chúng ta tiếp xúc với Thiên Chúa một cách  ý thức. Người ta định nghĩa giác ngộ là chìm đắm trong bình an và bao bọc bởi bình an. Định nghĩa đó muốn nói người giác ngộ là người cảm nghiệm bình an một cách sâu xa. Khi bạn nối kết với cảm quan thiêng liêng của mình, bạn sống trong sự bình an mà chúng ta gọi là Thiên Chúa.

Bạn hãy chiêm ngắm những vị thánh vĩ đại đã từng sống trên trần gian. Điều khác biệt duy nhất là các ngài luôn luôn trao ban bình an. Bình an là gì? Đó là biểu lộ của thượng trí sáng tạo phổ quát, len lỏi trong mọi sự và qua mọi sự. Đó là sự tuyệt hảo của công trình sáng tạo. Đó là điều mà cụm từ “bình an của Chúa” muốn nói với tôi. Đó là điều mà tôi hằng nối kết, bởi vì không nơi nào là không có sự “bình an của Chúa.” Tôi mất bình an khi tâm trí tôi ảo tưởng là có vấn đề.

Tôi có một người bạn tên Edgar Mitchell, ông điều khiển phi thuyền Appolo 14 và là người thứ sáu đặt chân lên mặt trăng. Ong nói  rằng khi bay chung quanh mặt trăng, ông đã lấy ngón tay cái che khuất toàn thể trái đất. Khi ông nhìn thấy hằng triệu thiên thể chuyển động, quay và di chuyển một cách hết sức hài hoà, ông đã ngộ ra rằng tất cả chúng ta là thành phần của một hệ thống bình an được xếp đặt một cách thông minh. Sự hài hoà bình an hiện diện trong mỗi vật thể, trong trái đất cũng như trong mỗi centimét khối của không gian, trong từng vật thể đơn thuần và trong mọi sinh vật.

“Bình an của Chúa” là bản chất của vũ trụ. Chính Thiên Chuá hoạt động, điều khiển và hiện diện khắp nơi. Đó là tình yêu vô biên. Không có tức giận, sợ hãi, tham lam, ác tâm hay ghen tỵ. Một đại dương bình an bao la sẵn sàng đón tiếp bất cứ ai muốn biết thế nào là “bình an của Chúa.” Chỉ cần nhận thức rằng ở đây không có vấn đề.

“Bình an của Chúa” chỉ trở thành bình an của bạn, mỗi khi bạn quyết định sống trong ‘bình an của Chúa.’ Đó là điều cần thiết mà bạn phải làm. “Bình an của Chúa” biến bạn thành khí cụ bình an, như lời nguyện mở đầu trong Kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô. Khi bạn theo đuổi sự bình an của Chúa, sự bình an đó sẽ cung cấp cho bạn một giải pháp thiêng liêng cho mọi vấn đề.

XIN DÙNG CON NHƯ KHÍ CỤ BÌNH AN

Nếu sự hài hoà là bản chất của sự vật và mọi vật đều liên kết với nhau trong sự hiệp nhất tuyệt hảo nhờ quyền năng vô hình, thì chân lý đó khiến bạn tự nhủ: “Tôi cũng muốn sống trong bình an, bởi lẽ bản chất của tôi là hoà hợp chứ không chống lại sự bình an của Chuá.” Tự thâm tâm, bạn biết rằng bình an là điều tự nhiên, ngay cả khi bạn cảm thấy không có bình an vì phải đối phó với quá nhiều vấn đề. Không cảm thấy bình an là hậu quả của một quan niệm sai lầm.

Khi bạn không có bình an, ấy là vì bạn suy nghĩ đại khái như thế này: “Giá mà bạn giống như tôi, thì tôi đâu bực bội,” hay “giá mà thế giới giống như tôi nghĩ, tôi sẽ được bình an.” Thế nhưng người ta đâu phải như bạn nghĩ, thế giới cũng không thể khác. Bình an là hoa quả của việc tự huấn luyện, để bạn có thể tiếp cận cuộc sống như nó là, chứ không theo lối suy nghĩ của bạn. Đơn giản như hai với hai là bốn. Đó là bí quyết trở thành khí cụ bình an của Chúa.

Tôi không yêu cầu bạn tỏ ra dửng dưng hay lãnh đạm, nhưng chỉ muốn bạn quan sát thế giới và mọi người trên thế giới như họ là và đừng để cho đầu óc có những suy nghĩ khiến bạn xa rời tình trạng bình an tự nhiên và đầy năng lực của bạn. Tôi đã chỉ cho một cô tiếp viên hàng không phương pháp đó.

Chiếc phi cơ của chúng tôi nằm bất động trên đường băng  45 phút và chúng tôi được thông báo là phải trở lại cổng, vì có đèn báo khẩn cấp trong buồng lái. Khi tôi chuẩn bị ra cổng, cô tiếp viên hàng không cằn nhằn với tôi: “Mỗi lần hoãn chuyến bay, tôi luôn luôn căng thẳng. 250 hành khách sẽ  nổi cáu và tức tối nhìn tôi.”

Tôi nói chuyện với cô một lát và khuyên cô ý thức rằng cô luôn luôn có sự bình an trong tâm hồn. Tôi giúp cô hiểu rằng con người nội tâm của cô được bao bọc trong một cấu trúc vững chắc, tương tự như thân thể trong bộ đồng phục. Tôi nói:  “Cô đừng để cho bất cứ ai không có bình an đi vào nội tâm của cô. Cùng lắm là chỉ để họ chạm đến bộ đồng phục hay cái vỏ bên ngoài là thân xác cô thôi. Cô hãy quyết tâm chỉ để cho sự bình an thâm nhập vào con người nội tâm mà thôi.” Bởi thế, khi hành khách trừng mắt nhìn cô, họ thấy cô tỏ ra thanh thản và dễ thương. Chỉ trong vài phút, cô đã thay đổi tâm trạng.

Thủ bản Desiderata được tìm thấy trong một nhà nguyện xây dựng từ thế kỷ 19.  Thủ bản đó có nhiều lời dạy khôn ngoan, trong đó có một câu tuyệt vời mà tôi hằng ghi nhớ: “Hãy tránh xa những người thích ồn ào và gây hấn. Họ là những người gây phiền não cho tinh thần.” Tôi muốn nói thêm họ là những người làm cho bạn mất bình an!

Đó là một chọn lựa thiết thực, nếu bạn không muốn bị ảnh hưởng bởi những cảm xúc bất an. Khi người khác đến với bạn mà không mang theo bình an, họ chỉ có thể chạm đến cái vỏ bên ngoài của bạn. Điều quan trọng là bạn phải biết đối phó với các biến cố như thế nào, chứ đừng để các biến cố định đoạt sự bình an của bạn.

Bạn có thể trở nên khí cụ bình an trong bất cứ hoàn cảnh nào, nếu bạn quyết tâm không nghĩ đến điều gì khác ngoài sự bình an. Khi bạn phải đối phó với kẻ khó tính, tình trạng tài chánh, bệnh tật của người thân, hay phải đối mặt với ông chủ sàm sở, nợ thuế, nạn ùn tắc giao thông…, thì quyết tâm đó quả không dễ dàng. Bạn hãy loại bỏ thói quen luôn chờ đợi những điều bất an. Bạn hãy đến nơi yên tĩnh, thanh thản và bình an bên trong tâm hồn bạn. Nơi đó, bạn được bao bọc bởi lớp vỏ bên ngoài là thân thể của bạn. Chính nơi đó mà bạn biết thế nào là trở nên khí cụ bình an. Tại nơi đó, bạn biết rằng điều quan trọng là trao ban bình an hơn là nhận lãnh.

TRAO BAN BÌNH AN

Là khí cụ bình an của Chúa, bạn không còn tìm kiếm điều gì khác ngoài việc trao ban bình an. Bạn không nhìn vào cuộc sống của người khác và  muốn họ biến đổi để bạn được bình an hơn. Đúng hơn, bạn đem cảm giác thanh thản đến cho những người mà bạn gặp. Bạn không còn nhìn mọi tình huống dưới viễn cảnh bình an của bạn. Trái lại, bạn đem bình an vào nơi hỗn loạn và sự hiện diện của bạn xoa dịu sự náo loạn. Ngay cả khi không thể chấm dựt sự náo loạn, bạn vẫn tự do chọn lựa những cảm nghĩ bình an, hay lặng lẽ rút lui khỏi tình huống đó. Làm sao thực hiện được? Bạn hãy ghi nhớ lời kinh này và thầm thĩ lặp đi lặp lại: "Lạy Chúa, xin dùng con như khí cụ bình an của Chúa.” Sự hỗn loạn đó là cơ hội giúp bạn ý thức rằng sự bình an của bạn không đến từ bên ngoài và bạn quyết tâm đem bình an vào mọi hoàn cảnh.

Khi bạn vướng vào một cuộc tranh luận ồn ào, khi gặp người thích tranh cãi, tỏ ra gắt gỏng một cách vô lý và khi bạn có cảm tưởng đang rơi xuống địa ngục, đó là những lúc bạn phải trở nên khí cụ bình an của Chúa. Những lúc đó bạn thường quy trách nhiệm cho người khác hay hoàn cảnh bên ngoài về sự bất an của bạn. Bạn thử nhìn những tình huống đó với một cặp mắt mới. Cách nhìn đó không những giúp bạn trở nên bình thản, nhưng còn làm cho bạn trở nên khí cụ bình an đáng tin và chắc chắn.

TÔN KÍNH NHỮNG BẬC THẦY VĨ ĐẠI

Ai có khả năng điều khiển bạn và đẩy bạn vào sự điên loạn? Vợ hay chồng? Con cái? Cha mẹ? Một nhân công nào đó? Ông chủ của bạn? Một người láng giềng? Tôi muốn nói đến những ai thật sự có ảnh hưởng đối với bạn. Những ai có ý kiến như bạn và bạn dễ dàng quên họ, thậm chí có thể nói với họ một cách cao thượng và yêu thương vô điều kiện nhất: “Cám ơn bạn đã chia sẻ với tôi, ” họ không ngăn cản bạn trở nên khí cụ bình an. Trái lại, chính những người điều khiển bạn, làm cho bạn thất vọng hay rối loạn chỉ vì một cái nhìn phản đối hay cau mày bất đồng, họ mới là những bậc thầy vĩ đại của bạn.

Trước tiên, bạn hãy nhìn nhận họ là những bậc thầy tài giỏi và giúp bạn trở nên khí cụ bình an. Thật thế, họ là những bậc thầy hướng dẫn và dạy bạn nhiều điều. Khi một ai đó làm cho bạn cảm thấy rối loạn và hỗn độn, ấy là lúc bạn có cơ hội nhận thấy mình chưa làm chủ bản thân. Quả vậy, nếu bạn muốn trở nên khí cụ bình an, bạn cần có một phương tiện giúp bạn ý thức và hành động. Bạn nên biết giác ngộ là chìm đắm và bao phủ trong bình an. Khi một ai đó làm cho bạn mất bình an, người đó chính là dụng cụ giúp bạn nhớ là phải hành động để trở nên bình an hơn.

Trong cuộc đời tôi, vợ và con cái là những bậc thầy vĩ đại nhất. Những bậc thầy rất đặc biệt ấy là những người bạn tâm giao của tôi. Theo thiển ý của tôi, bạn tâm giao không  phải là người luôn luôn nhất trí với bạn về mọi việc, có chung sở thích và luôn làm vừa lòng bạn. Trái lại, bạn tâm giao là những người mà bạn yêu thương chân thành, những người mà bạn không bao giờ có thể loại trừ, những người luôn ở bên cạnh và thường bất đồng với bạn. Những người bạn tâm giao là những bậc thầy vĩ đại của bạn, bởi vì họ là những người được Thiên Chuá sai đến để không ngừng nhắc nhở và giúp bạn kiềm chế bản thân. Như vậy, quả hữu ích nếu bạn biết tôn kính những người bạn tâm giao như thế.

Vợ tôi là một trong những bậc thầy vĩ đại. Chúng tôi sống với nhau nhiều năm trời và cùng nhau vượt qua nhiều cơn khủng hoảng, thế nhưng tôi vẫn khó chịu vì ý kiến hay giọng nói của bà. Tôi biết rõ nếu một ai khác nói với tôi như vậy, tôi sẽ bỏ qua và vẫn giữ được bình an. Tuy nhiên, với người bạn tâm giao thì tôi không được bình an. Cũng vậy, tôi đã cho con cái được quyền điều khiển tôi như thế.

Trong những lúc yên tĩnh, tôi ngẫm nghĩ về sự khó chịu của tôi và nhận thấy rằng tôi đã không giữ được tâm hồn bình an khi đối diện với những bậc thầy uy thế của tôi. Để trở nên khí cụ bình an của Chúa, bạn (và tôi) phải có khả năng biểu lộ sự bình an nội tâm của chúng ta. Những bậc thầy uy thế hiện diện mọi lúc và mọi nơi để giúp chúng ta trở nên khí cụ bình an. Một ngày nào đó, tôi sẽ có được bình an, ngay cả khi những bậc thầy vĩ đại của tôi làm nhiệm vụ của họ!

CHỌN SỰ BÌNH AN

Tôi luôn tâm đắc với câu “Tôi muốn bình an” trong tác phẩm Một hành trình trong phép lạ. Thực vậy, tôi đã chép và dán câu đó khắp nhà, trong văn phòng và xe hơi. Câu nói đơn giản đó là một sự nhắc nhở tuyệt vời, khi tôi không làm khí cụ bình an của Chúa. Một lúc nào đó, câu nói ấy có thể giúp bạn biến đổi mọi sự chung quanh.

Có lần tôi đã nổi cáu vì đứa con trai bị mấy gã bợm nhận tấn công khi nó rời quán rượu. Nó về nhà giữa đêm khuya, mấy chiếc răng cửa bị gãy và xây xát nhẹ. Tôi tức giận và đau lòng, bởi biết bao lần tôi đã dặn con cái không nên la cà trong quán rượu, đó là chỗ của những kẻ thiếu nhân cách và đến đó chắc chắn sẽ gặp nguy hiểm.

Trong khi lòng tôi đau như thắt, tôi chợt nhớ đến câu nói “tôi muốn bình an” trong tác phẩm Một hành trình trong phép lạ, tôi lăp đi lặp lại và nỗi đau tan biến ngay. Bấy giờ, tôi đưa nó đến phòng cấp cứu, cậy nhờ ông bạn nha sĩ giúp đỡ và tôi có thể trở nên khí cụ bình an. Vả lại, qua kinh nghiệm đó, con tôi đã quyết định đoạn tuyệt với rượu và quán rượu.

Nếu không làm khí cụ bình an, tôi sẽ thụ động và bất an. Khi tôi muốn bình an, thì sự chọn lựa đó mang lại cho tôi một giải pháp, khiến tôi không còn để ý đến nỗi khổ tâm nữa.  Kahlil Gibran, một nhà thơ Libăng đã nói: “Phần lớn những đau khổ của bạn là do chính bạn chọn. Vị lương y nội tâm của bạn đã dùng thứ độc dược đó để điều trị cho cái tôi ốm đau của bạn.”

Khi bạn muốn bình an ngay cả trong những tình huống gay cấn nhất, bấy giờ bạn trở nên thuộc hạ của Thiên Chúa. Bạn không xin Thiên Chúa xua tan đau đớn, nhưng bạn nhận thấy cầu nguyện nhiều quả là khôn ngoan.  Khi bạn muốn bình an, sự chọn lựa đó mời gọi bạn đừng than thân trách phận hay thắc mắc ‘tại sao như vậy?’ Khi bạn chọn sự bình an, bạn sẽ có được một tâm hồn thanh thản để tiếp xúc với Thiên Chuá và chịu đựng cái gọi là vấn đề. Tác giả của Một hành trình trong phép lạ còn nói thêm rằng: “Mọi nỗi đau đều phát xuất từ nỗ lực vô vọng, khăng khăng cho rằng bạn phải tìm thấy điều bạn muốn.”

Trong lời nguyện mở đầu, thánh Phanxicô xin Thiên Chúa dùng người như khí cụ bình an của Chúa. Người biết Thiên Chúa là sự bình an, và nếu bạn không có bình an, ấy là vì bạn tách rời với Thiên Chúa. Thiên Chúa chỉ vắng mặt trong tư tưởng của bạn thôi. Bình an và Thiên Chúa là một. Mỗi ngày, khi bạn tập sống trong bình an của ân sủng, thì dù có xảy ra điều gì đi nữa, bạn vẫn đang mở lòng  đón nhận những giải pháp thiêng liêng. Hoàn cảnh có thể vẫn như trước và bạn vẫn phải đối phó với những thực tế của đời sống hằng ngày. Tuy nhiên, nếu bạn ở trong bình an và nhận thức rằng lối suy nghĩ chính là nguyên nhân của vấn đề, bấy giờ vấn đề sẽ được giải quyết. Khi bạn ở trong bình an, bình an sẽ hướng dẫn bạn hành động hợp lý và phải lẽ.  Lúc bấy giờ vấn đề mà bạn trải nghiệm trong nội tâm sẽ không còn nữa.

Dưới đây là những gợi ý thực hành lời nguyện đầu tiên của thánh Phanxicô: “Lạy Chúa, xin dùng con như khí cụ bình an của Chúa,” ngõ hầu bạn tìm thấy giải pháp thiêng liêng cho những vấn đề mà bạn phải đối phó.

THỰC HÀNH

Bạn hãy chép câu “Tôi muốn bình an” thành nhiều bản và dán tại những nơi chiến lược như nhà ở, nơi làm việc và xe hơi

Khi bạn lo âu, sợ hãi, chán nản, xôn xao, thậm chí tức giận, bạn hãy dừng lại, tâm niệm hay lặp đi lặp lại lời đó. Trong khi tâm niệm lời đó, bạn hãy cương quyết để cho những tư tưởng bình an và thanh thản đi vào giữa những lo âu trong tâm trí bạn. Bạn sẽ hết sức ngạc nhiên, vì tư tưởng bất an sẽ biến mất, ngay lúc  bạn ý thức và quyết tâm đem tư tưởng bình an vào đó.

Nói như thế không có nghĩa phương pháp đó sẽ tức khắc phục hồi chiếc chân gãy của bạn, vô hiệu hoá một tai nạn, hay loại trừ mối mọt khỏi căn nhà của bạn. Điều kỳ diệu là bạn chứng tỏ mình có khả năng chọn sự bình an. Hơn nữa, khi những tư tưởng bình an chi phối mọi vấn đề mà bạn đang trải nghiệm, bạn sẽ khám phá được một sự thật còn quan trọng hơn nữa. Mọi vấn đề chỉ tồn tại trong tâm trí bạn, và khi tâm trí bình an, bấy giờ bạn sẵn sàng hành động thích đáng. Khi bạn muốn bình an ngay trong tình huống bất an, thì sự bất an mà bạn trải nghiệm trong tâm trí sẽ bị vô hiệu hoá.

Mỗi ngày, bạn hãy dành thời giờ  để ở một mình mà không bị ai quấy rầy

Bạn hãy tản bộ hay ngồi yên lặng trong phòng. Bạn hãy rời bỏ nhịp sống điên cuồng để tìm một nơi vắng vẻ và tự nhủ bạn đang tiếp xúc với Thiên Chuá. Câu nói nổi tiếng ‘Hãy buông bỏ và để Chuá lo ’ (let go and let God) rất hữu ích cho bạn. Trong khi ở một mình và không bị ai quấy rầy, bạn hãy tự nhủ: “Tôi đang buông bỏ và để Chua lo.” Làm như thế, bạn không còn nghĩ là phải chịu trách nhiệm về mọi sự và mọi người chung quanh, và bạn thanh thản phó thác mọi sự cho Thiên Chuá. Bạn sẽ cảm nhận tức khắc là mình được bao bọc trong  bình an.

Bạn nên nhớ cái tôi của bạn là chướng ngại vật kinh khủng nhất trong việc tiếp xúc với Thiên Chuá. Khi bạn nhất mực nghĩ rằng bạn tách rời với Thiên Chuá, thì đó là nguyên nhân gây ra cái gọi là vấn đề. Khi bạn ở một mình trong khoảnh khắc mà tôi gọi là thời gian của Thiên Chuá, bấy giờ những khảnh khắc đó sẽ giúp bạn trở nên khí cụ bình an. Khi bạn trở về với cuộc sống náo nhiệt, Thiên Chuá sẽ là người cộng tác của bạn, Người chính là “sự bình an của bạn.” Bài tập này sẽ giúp bạn trở nên khí cụ bình an trong mọi nơi mọi lúc.

Hãy suy niệm như một phần trong cuộc sống của bạn 

Thiếu suy niệm là một hiện tượng phổ biến trong thế giới tây phương. Hàng ngày tôi thường nghe nói: “Tôi quá bận việc. Tâm trí tôi không lúc nào yên. Chẳng suy nghĩ được gì cả. Có quá nhiều thứ trong đầu.” Bạn có lý do giải thích tại sao bạn không có thời giờ hay phương pháp suy gẫm. Bạn cho rằng cái tôi khổng lồ và khập khiểng của bạn là nguyên nhân khiến bạn không thể suy niệm mỗi ngày. Bạn biện minh như thế chẳng qua là vì bạn sợ biết Thiên Chuá và vì thế mà phải chế ngự cái tôi ích kỷ của bạn.

Trong 2 tháng tới, bạn hãy quyết tâm suy niệm mỗi ngày một lần, tốt nhất là hai lần. Bạn chọn phương pháp suy niệm nào cũng được. Tôi đã làm một đĩa CD tựa đề Suy niệm để biểu lộ, trong đó tôi hướng dẫn suy niệm buổi sáng và buổi chiều gọi là phương pháp JAPA, bằng cách lặp đi lặp lại các tước hiệu của Thiên Chuá như một câu thần chú. Đây là một phương pháp cổ truyền được Patanjali mô tả trong tập sách Những châm ngôn yoga mà tôi đã có dịp trình bày. Tôi không quan tâm nhiều đến phương pháp cho bằng sự quyết tâm của bạn. Có nhiều phương pháp và sách hướng dẫn suy niệm có giá trị. Tôi đã thảo luận nhiều về giá trị và phương pháp suy niệm trong các sách và băng ghi âm của tôi. Phương pháp nào cũng tốt, miễn là giúp tâm trí bạn yên tĩnh và bình an. Triết gia Robert Frost đã nói bình an là một “bí mật nằm ở trung tâm và là một nhận thức.”

Nhờ việc suy niệm, bạn đi vào cõi thinh lặng. Thinh lặng không thể bị phân chia. Giống như con số 0 trong toán học, nó không thể chia cho số nào khác ngoài số 0. Với Thiên Chuá cũng vậy. Chỉ là một. Không thể phân chia. Suy niệm là con đường để kinh nghiệm Thiên Chúa như một thực thể duy nhất và bất khả phân. Ý tôi muốn nói nếu bạn suy niệm đều đặn, thì sau mỗi giờ suy niệm, bạn sẽ cảm thấy đôi vai bạn dường như không còn bị đè bẹp dưới gánh nặng của vấn đề và linh hồn bạn được tăng thêm sinh lực đến nỗi bạn có thể tiếp xúc với mọi người và mọi vật cách bình an.  Thánh Phanxicô nói với những người ái mộ: “Điều gì có giá trị hơn lời nói? Thưa đó là hành động. Điều gì có giá trị hơn hành động? Thưa đó là thinh lặng.”

Bạn hãy dừng lại khi hoàn cảnh bên ngoài chi phối sự bình an của bạn

Nếu bạn nhận thấy mình đang đổ lỗi cho người khác hoặc hoàn cảnh bên ngoài về sự bất an của bạn, chừng ấy cũng đủ giúp bạn ý thức. Ngay lúc bạn cảm thấy bất an, bạn hãy tự nhủ nếu bạn không muốn thì không ai có thể tước đoạt sự bình an của bạn. Khi con cái bạn vung vãi nước trái cây trên thảm và vất đồ đạc bừa bãi khiến bạn tức giận la hét om sòm, nếu bạn biết lắng nghe lời nhắc nhở dịu dàng trong lòng, là đừng đánh mất bình an chỉ vì cuộc sống không suôn sẻ như bạn muốn, bấy giờ bạn sẽ lấy lại bình an. Bạn càng chế ngự những phản ứng có điều kiện vì những phiền toái bên ngoài khiến bạn mất bình an, bạn sẽ trở nên như một biểu tượng sống động của “bình an của Chúa.”

Bình an là chuyện giữa bạn và Thiên Chuá. Dứt khoát như vậy. Bình an không phải là chuyện giữa bạn và người khác hay hoàn cảnh khó khăn nào mà đôi khi bạn phải chấp nhận. Khi người ta hỏi tôi: “Làm sao sống bình an trong một xã hội bất an?” Tôi luôn luôn trả lời là bình an nội tâm thì ở  bên trong chứ không phải ở bên ngoài. Bạn cố gắng đem bình an đến cho mọi người và mọi vật, chứ đừng để cho những kinh nghiệm về thế giới bên ngoài chi phối sự bình an của bạn.

Một trong  những kinh nghiệm bất an mà tôi chán nhất, đó là những công nhân cắt cỏ cứ hai lần mỗi tuần đến nơi tôi viết lách. Họ mang theo những dụng cụ rất ồn ào như máy cắt cỏ, máy xén cỏ và máy quạt, thổi lên trời khói đen mù mịt và vang rền như sấm. Trước đây, khi vợ tôi hay một ai đó tỏ ra thông cảm và lắng nghe,  tôi thường phàn nàn và càm ràm về sự ồn ào làm tôi mất bình an. Còn bây giờ, tôi xem chúng là thầy dạy của tôi. Nhờ sự khích lệ của vợ tôi, tôi không còn để ý đến chúng nữa.

Khi tiếng động chấm dứt, tôi thầm tạ ơn Chúa. Mặc dù tôi chẳng ưa các thứ máy móc ồn ào đó, tôi vẫn không để cho chúng làm tôi mất bình an. Bình an của tôi là do tôi quyết định,  nên tôi không còn đổ lỗi cho những công nhân và các thứ máy móc ồn ào đã làm cho tôi mất bình an nữa. Thật thế, tôi đã tiếp đón họ như những thầy dạy giúp tôi làm chủ bản thân và cái tôi của mình. Mỗi khi các công nhân cắt cỏ đến, tôi thường nhớ đến một tư tưởng thâm thúy của Thomas Carlyle, nói về sự khác biệt giữa tiếng động và tạo dựng: “Khi đốn ngã một cây sồi, cả rừng cây vang dội, nhưng nhờ một làn gió nhẹ mà cả trăm hạt sồi âm thầm vùi vào lòng đất.”

Nghĩ đến bình an

Hãy nhớ rằng suốt ngày bạn suy nghĩ như thế nào, thì bạn sẽ trở nên như vậy. Bao lần bạn đã để cho tâm trí náo động vì những tư tưởng bất an? Bạn than phiền thế giới tồi tệ này bao nhiêu lần mỗi ngày? Chúng ta đã thô lỗ như thế nào? Chúng ta tỏ ra dưng dưng như thế nào? Chúng ta đã phân biệt chủng tộc như thế nào? Tại sao chính phủ chẳng quan tâm đến chúng ta? Những suy nghĩ đó và những biểu bên ngoài là dấu hiệu cho thấy tâm trí bạn đang bị sập bẫy bất an và bạn mắc kẹt trong một thế giới bất an. Khi bạn than vãn vì những điều kinh hoàng trên thế giới, khi bạn nghe tin tức về những điều ác, khi bạn đọc những tạp chí khai thác chuyên giật gân trong đời tư người khác, bấy giờ bạn không thể trở thành khí cụ bình an của Chúa được.

Nếu bạn nghĩ rằng bên cạnh một hành động xấu còn có cả ngàn hành động nhân ái, bấy giờ bạn làm cho tâm trí trở nên bình an.  Khi nghe kể chuyện bất hạnh của người khác, nếu bạn biết ngăn chận và lái câu chuyện sang đề tài khác dễ thương hơn, bấy giờ bạn đang trở thành khí cụ bình an. Khi bạn kiềm chế bản thân, không khơi lại những cảnh tượng tại nạn, tội ác, nghèo đói, ngược đãi và các hình thức bất hạnh khác, đồng thời trục xuất những chuyện đó ra khỏi tâm trí bạn,  bấy giờ bạn trở thành khí cụ bình an. Bạn hãy để cho tâm trí luôn nghĩ đến sự bình an, bởi vì bình an là tình trạng hạnh phúc tự nhiên của con người; còn điều ác, chiến tranh và hận thù là điều ô nhục đối với con người.  Bạn hãy hướng tâm trí về điều tự nhiên chứ đừng hướng về điều ô nhục.

Hãy kiến tạo bình an

Mỗi ngày bạn có nhiều cơ hội thuận tiện để kiến tạo bình an. Thánh Phanxicô viết: “Bởi vì trao ban chính là nhận lãnh.” Khi trao ban bình an, bạn sẽ nhận được bình an. Khi bạn có bình an, bạn sẽ giải quyết được mọi vấn đề. Khi bạn kiến tạo bình an, bạn sẽ có được một phương dược chữa lành nỗi xao xuyến của bạn. Hôm nay, bạn hãy tĩnh thức nắm bắt các cơ hội kiến tạo bình an.

Sáng nay, khi tôi đổ xăng và chờ trả tiền, tôi trông thấy người bán xăng nổi nóng vì một chàng trai không biết sử dụng máy rửa xe tự động. Ong dùng lời lẽ thô lỗ mạt sát chàng trai và nhất định không trả lại tiền. Vả lại, chàng trai không biết tiếng Anh, nên chẳng hiểu người bán xăng muốn nói gì và tại sao anh bị ngược đãi như thế. Trong khi chàng trai đứng ngơ ngẩn ở đấy, tôi nghĩ đây là cơ hội kiến tạo bình an. Tôi đặt tay lên vai chàng trai, dẫn anh đi và chỉ cho anh khởi động máy rửa xe. Anh vui sướng mĩm cười. 

Tối hôm qua, chúng tôi tổ chức một bữa cơm gia đình và mời thêm một số bạn bè. Trong khi ăn, hai vị lớn tuổi liên tục bất đồng với nhau và có nguy cơ nổi giận, bởi lẽ trong buổi họp ban sáng, hai vị đã bất đồng về nhiều chuyện. Tôi biết chẳng ai thích xen vào những chuyện rắc rối như thế, nhưng tôi ý thức là phải kiến tạo bình an và làm cho cả hai vị cảm thấy mình có lý. Bình an được tái lập. Cả hai ngồi xuống và cười hoà với nhau.

Chiều nay, khi tôi đang chạy xe trên đường cao tốc, tôi gặp một chiếc xe chạy trên lề đường suốt một quãng đường dài vì vướng một công trình đang dở dang. Anh tài xế cố gắng chạy xe vào làn đường của mình, nhưng không xe nào chịu nhường cho anh, cốt trừng phạt anh. Đến lượt tôi, tôi nghĩ đây không phải là chuyện giữa tôi và anh tài xế đó, nhưng là chuyện giữa tôi và Thiên Chuá. Thiên Chuá cho tôi thấy tôi có thể đem bình an đến cho người tài xế này, chắc hẳn là anh có lý do chính đáng khi chạy xe trên lề đường. Tôi ra hiệu cho anh chạy qua mặt tôi.

Nội trong một ngày, tôi đã có 10 cơ hội kiến tạo bình an. Mỗi lần tôi nắm lấy cơ hội trở thành khí cụ bình an , năng lực tinh thần được gia tăng và giải thoát tôi khỏi những vấn đề đang xảy ra. Để kiến tạo bình an, bạn hãy trao ban bình an chứ đừng tìm sự bình an từ bên ngoài. Quả thật, chính khi bạn trao ban, ấy là lúc bạn nhận lãnh.

Làm hoà với mình

Bạn không thể cho cái bạn không có. Nếu bạn không bình an với chính mình, bạn không thể trao ban bình an cho kẻ khác. Nếu bạn không thể trao ban bình an, bạn sẽ không bao giờ trở nên khí cụ bình an. Bạn hãy quyết định tha thứ mọi yếu đuối và thất bại của mình, hãy buông bỏ mặc cảm tội lỗi vì những lỗi lầm trong quá khứ đã từng huỷ hại bản thân bạn. Bạn nên biết hành trình trong đêm tối cũng có giá trị.

Khi bạn làm hoà với mình, bạn nhận định mọi việc cách trung thực và tự nhủ rằng những kinh nghiệm đó mang lại cho bạn một năng lực mới, thúc đẩy bạn vươn tới một tần số của tinh thần. Cuối cùng,  bạn  biết rằng mọi sự tiến bộ thiêng liêng đều khởi đầu với một tai hoạ nào đó và những biến cố bất ưng luôn là điều cần thiết. Tại sao vậy? Đơn giản là vì chúng đã xảy ra, và không có gì là ngẫu nhiên trong hệ thống thông minh mà chúng ta gọi là Vũ Trụ cả. Than thân trách phận, mặc cảm tội lỗi, thất vọng,  ghét bỏ bản thân và tức mình chỉ làm cho bạn mất bình an. 

Khi tôi khước từ bản thân, tôi liền cảm thấy xao xuyến và thậm chí ngã bệnh nữa. Bây giờ, mỗi khi  gặp hoàn cảnh như thế, tôi nhớ lời kinh của thánh Phanxicô: “Lạy Chúa xin dùng con như khí cụ bình an của Chúa.” Thế rồi, tôi hình dung  mình được bao bọc trong ánh sáng rực rỡ của bình an, tập trung năng lực yêu thương và thanh thản vào bản thân, và cuộn mình trong tấm chăn thanh bình của Thiên Chuá. Như một phép mầu, tôi không còn xao xuyến và khó chịu, nhưng cảm thấy hạnh phúc tuyệt vời.  Với cái nhìn mới về sự bình an, tôi thường trao ban bình an chứ không còn tuôn xổ sự cộc cằn khi lòng tôi xao xuyến và từ rẫy bản thân. Làm hoà với mình và tập trung vào sự bình an phát xuất từ Thiên Chuá, tôi có thể tha thứ những lỗi lầm mà mình đã phạm và quyết tâm sẽ không tái phạm. Mỗi lần bạn ghét bỏ bản thân, bạn hãy làm hòa với chính mình. Bạn sẽ ngạc nhiên và sung sướng vì những kết quả đạt được.

Trở về với thiên nhiên

Luther Burbank nhận xét: “Không cánh cửa nào dẫn ta vào sự hiểu biết ngoài cánh cửa thiên nhiên, không có sự thật nào khác ngoài sự thật mà chúng ta khám phá trong thiên nhiên.” Nếu bạn trở về với thế giới thiên nhiên, bạn dễ trở thành khí cụ bình an. Có lẽ bạn đã biết rằng đi bộ trên bãi biển hay trong thiên nhiên là một cách giải toả căng thẳng. Khi bạn trở về với thiên nhiên, bạn trở về với sự yên tĩnh và hài hoà là khung cảnh sống tự nhiên của bạn.

Thiên nhiên vẫy gọi bạn ra khỏi thế giới chuyển động một cách chóng mặt của kỹ thuật, đầu tư, điện thoại di động và thư điện tử, tranh luận, tiếng động. Một thế giới của đám đông. Tôi biết bạn có thể nhận ra tiếng gọi của thiên nhiên, bởi lẽ những người nghe tôi diễn thuyết đều khao khát trốn vào thiên nhiên.  Mỗi lần đi ngang qua công viên đẹp, hình như bạn thích đi bộ giữa hàng cây xanh và hoa lá để cho tâm trí được tĩnh lặng. Đi bộ hay cắm trại nơi hoang dã có một sức lôi cuốn mãnh liệt, thậm chí đối với thị dân suốt đời sống trong thành phố. Nghe chim hót, nghe côn trùng rỉ rả và gió reo vi vu là một kinh nghiêm thú vị đối với nhiều người. Sống trong bóng tối và ngắm nhìn triệu triệu ánh sao trên bầu trời cũng là một kinh nghiệm mang lại bình an và hạnh phúc. Mới đây, khi vợ tôi và tôi tản bộ trong công viên Haleakala Crater vùng Maui, chúng tôi cảm thấy bình an lạ lùng khi sống trong khung cảnh hùng vĩ và  yên tĩnh đó. Mẹ vợ tôi luôn nhắc vợ tôi: “Đi bộ tạo nên sắc đẹp.” Bà muốn nói đến vẻ đẹp nội tâm hơn là vẻ đẹp thể lý.

Bạn hãy thường xuyên đón nhận quà tặng thiên nhiên bao nhiêu có thể. Hãy quý mến thiên nhiên và đắm mình trong sự bình an của thiên nhiên. Kìa xem Thiên Chuá yêu thương bạn biết bao và mọi thụ tạo hoà hợp với nhau biết chừng nào! Khi tôi có dịp bơi lội ngoài biển, tôi cảm thấy no đầy bình an, bất kể chuyện gì đang xảy ra. Bơi lội làm cho tôi sáng suốt hơn khi làm việc. Những vùng u tối và vẩn đục trở nên sáng sủa và trong suốt. Thiên nhiên trao ban bình an cho bạn, bởi vì bạn ở trong trường lực của Thiên Chúa, đó là vương quốc tinh thần chứ không phải ảo tưởng. Thật vậy, nếu bạn trở về với thiên nhiên, thiên nhiên sẽ mở ra cho bạn toàn bộ giải pháp thiêng liêng cho mọi vấn đề.

Qua bài thơ Thế giới của Thiên Chúa, Edna St. Vincent Millay đã chuyển tải thông điệp trên một cách tuyệt vời. Cái cảm giác bình an ngây ngất của bà cũng là điều tôi muốn diễn tả trên đây.

Thế giới của Thiên Chuá

Ôi thế giới làm sao ta ôm trọn!
Này gió ngàn, này trời rộng tối tăm!
Này sương mù bay bay cao cuồn cuộn! 
Này rừng thu buồn ủ rũ tái tê,
Này tất cả nhuốm sắc màu thắm lệ!
Đổ xuống đi, kìa núi hoang trơ trọi,
Dựng lên đi này vách thẳm cheo leo.
Ôi thế giới làm sao ta chạm tới!
Dù vẫn biết trong ngươi rực rỡ,
nhưng ta nào có thấu hiểu được đâu.
Đây đê mê, lạy Chúa, con run sợ.
Ngài sáng tạo thế giới quá đẹp tươi
Nhưng hồn con: đây mới là tất cả
Dù lá vàng, dù im bặt tiếng chim.

Để tìm thấy giải pháp thiêng liêng cho mọi vấn đề, trước hết và nhất thiết là phải trở nên “khí cụ bình an của Chúa.” Bình an chính là quà tặng mà bạn sẽ trao ban khi gặp vấn đề nan giải. Bấy giờ mọi vấn đề sẽ được giải quyết nhờ sức mạnh bình an.

 

Chương 2
GIEO YÊU THƯƠNG VÀO NƠI THÙ OÁN 

Mặt đất tràn đầy thiên đàng,
Mọi lùm cây bừng cháy vì Thiên Chuá hiện diện,
Ai thấy Thiên Chúa mới cởi dày ra,
Những người khác chỉ ngồi chung quanh hái quả mâm xôi
. (Elisabeth  Barrett Browning)

Khi bạn nhìn lại những phiền muộn do vấn đề của bạn gây ra, bạn hãy ghi nhớ lời  thánh Phaolô gởi cho tín hữu Côrintô: “Tình yêu không bao giờ thất bại.” Bạn hãy nghiền ngẫm lời đó, rồi tự hỏi có khi nào đức mến thất bại không. “Không bao giờ” nghĩa là không bao giờ. Tôi nghĩ bạn cũng xác tín như thế. Hễ khi nào tôi gặp vấn đề, thì trao ban tình yêu hẳn không bao giờ thất bại. Bất cứ khi nào bạn cảm thấy có vấn đề, bạn cũng có thể tìm thấy giải pháp nhờ lời nói đơn sơ ấy. Không vô nghĩa và lập lờ đâu. Tình yêu không bao giờ thất bại. Chân lý này luôn luôn đúng, ngay cả trong vấn đề hận thù.

Tôi có một khái niệm nhất quán về sự thù hận như tôi đã trình bày suốt cuốn sách. Nguyên nhân chính của phiền muộn là vì chúng ta tin hận thù có thật. Thoạt tiên, khái niệm này có vẻ khó hiểu. Tuy nhiên, tôi nghĩ chính quan niệm của bạn về sự thù hận là chìa khóa giúp bạn gieo yêu thương vào nơi thù oán. Gieo yêu thương có nghĩa là loại trừ ảo tưởng thù hận, bằng cách ban phát tình yêu. Làm được như thế là bạn đang tìm thấy giải pháp thiêng liêng cho mọi vấn đề.

HẬN THÙ LÀ GÌ?

Khắp nơi đều có sự giằng co giữa thế lực của sự thiện và sự ác, tình yêu và hận thù. Nhiều người nghĩ đó là sự đối nghịch giữa Thiên Chuá và ma quỷ. Trong tập sách này, nhiều lần tôi đã cố loại bỏ một quan niệm ngớ ngẩn như thế. Nếu vũ trụ này chỉ có một Đấng Tạo Hoá và một quyền lực mà thôi, thì làm sao Thiên Chuá và ma quỷ cùng hiện hữu được? Thiên Chuá đã dựng nên ma quỷ? Nếu có ma quỷ, thì phải chăng ma quỷ đã dựng nên Thiên Chuá?

Nếu vũ trụ này được dựng nên bởi một sự thật sáng tạo duy nhất và nếu bạn chấp nhận ma quỷ có thật, thì bấy giờ bạn buộc phải tin rằng hận thù, bạo lực, sự dữ, thành kiến, tệ nạn, nghèo đói và hỗn loạn là những biểu hiện của sự thật đó. Vì thế, tình yêu và sự thiện đều  giả dối.  Trái lại, nếu bạn chấp nhận Thiên Chuá là sự thật, thì bạn phải chấp nhận rằng tình yêu là sự thật và điều ác là giả dối.  Và sự thù hận hẳn là một phần của điều ác giả dối ấy.

Đối với tôi, thù ghét là yêu thương. Đúng thế, tôi quan niệm thù ghét là năng lực yêu thương chuyển động theo chiều hướng đối nghịch. Chúng ta có thể chiến thắng sự thù ghét nhờ tình yêu, vì tình yêu là tất cả, trong đó có sự thù ghét. Phải đảo ngược cảm xúc thù ghét và thái độ thù ghét theo chiều hướng đối nghịch. Kinh Dhammapada cổ kính dạy rằng sự thù ghét chấm dứt nhờ tình yêu, chứ không phải nhờ sự thù ghét. Đó là lý do khiến thánh Phanxicô nài xin Thiên Chuá cho người biết đem tình yêu vào nơi thù oán, và như thế là không còn ảo tưởng thù ghét nữa.

Trên nguyên tắc, những ai hay thù ghét thì phóng chiếu cảm xúc mình không được yêu thương. Họ cảm thấy cuộc sống không yêu thương họ. Khi bạn không cảm thấy cuộc sống yêu thương bạn, bạn phủ nhận sự hiện diện của tình yêu, cho dù tình yêu là một thần dược nối kết mọi thụ tạo trong vũ trụ lại với nhau. Bởi đó, khi bạn tiếp nhận tình yêu như một năng lực vô song và hướng năng lực ấy theo chiều   đối nghịch, bấy giờ bạn biểu lộ sự thù ghét. Kẻ thù ghét là kẻ cảm thấy mình bị thù ghét, và phóng chiếu cảm xúc thù ghét hay niềm tin ấy ra ngoài.

Khi gặp một người chọc giận bạn, bạn có thể chắc chắn rằng người đó đang tức giận. Người đó đang làm điều mà mình chỉ có thể làm, đó là cho đi cái mình đang có.  Nếu gặp một người hay chỉ trích, bạn hãy tin rằng người đó đang cố xua đuổi những lời chỉ trích mà mình đang chịu đựng. Những ví dụ đó cho thấy những người không tin mình được yêu thương, thì tuôn xổ cái năng lực bất bình và thù ghét của mình ra ngoài.

Chúng ta biết Thiên Chuá là tình yêu, đó là quyền lực duy nhất hiện diện khắp nơi, vì thế không nơi nào mà chẳng có quyền lực duy nhất đó, kể cả nơi những người thù ghét.  Đó là lý do tại sao tôi tin rằng thù ghét thật ra là yêu thương, và để tiêu diệt sự thù ghét, chúng ta phải thay đổi hướng đi của năng lực yêu thương và nỗ lực làm cho kẻ thù ghét biết rằng họ đang được yêu thương.  Như thánh Phanxicô, chúng ta hãy cầu xin: “Lạy Chúa, xin giúp con gieo tình thương vào nơi oán thù.”

Thù oán ở đâu? Làm sao đem tình thương vào nơi oán thù là nguyên nhân gây ra vấn đề?

GIEO YÊU THƯƠNG  VÀO NƠI OÁN THÙ TRÊN THẾ GIỚI

Bạn có thể nhìn thấy vô vàn kiểu oán thù trên thị trường thế giới: Dân tộc này oán ghét và đem quân xâm chiếm hay ngược đãi dân tộc kia; một số người chiếm giữ nguồn lương thực, đang khi những người khác lại bị bỏ đói; một chế độ áp bức con người bằng cách tiêu diệt, chiến đấu, vu khống và lừa đảo; vì thù ghét mà những nhà cầm quyền đưa ra những luật lệ có lợi cho nhóm này hơn nhóm khác. Rồi khi thay đổi chính quyền, người ta lại bắt đầu trả thù những người trước đây thù ghét họ. Oán thù dường như sinh ra oán thù.

Trong thế giới đó, bạn cần phải đi theo chiều hướng tự nhiên là yêu thương. Thông thường, khi người ta phóng chiếu sự oán thù sang cho bạn, bạn cảm thấy có vấn đề. Một công chức phóng chiếu sự oán thù sang cho bạn khi ông chẳng thèm lắng nghe bạn và bắt bạn phải chờ đợi vô thời hạn. Người thi hành luật pháp chống lại bạn, chỉ vì muốn moi tiền của bạn. Nhà cầm quyền đói khát quyền lực thích  hăm doạ bạn. Các ví dụ như thế thì không kể xiết. Điều bạn có thể thấy, đó là sự oán thù của họ.

Những tâm hồn đầy thù oán thường đinh ninh rằng cuộc sống không yêu thương họ. Họ thù ghét người khác là để chống lại cảm xúc bị oán ghét. Ai cảm thấy được yêu thương, thì ít phóng chiếu sự oán ghét. Bạn hãy ghi nhớ chân lý này: “Thiên Chuá là tình yêu.” Điều ác thì ở trong lòng người. Mọi sự oán thù đều phát xuất từ lòng trí của những người xa cách Thiên Chuá và năng lực tình yêu. Một khi bạn cũng oán thù như họ, bấy giờ bạn xa lìa Thiên Chúa. Trả thù, tức giận, ăn miếng trả miếng, sầu oán và tất cả những gì bạn gọi là vấn đề đều thuộc phạm vi tâm não.

Khi bạn thay đổi não trạng và gieo tình thương vào  nơi oán thù, thì bạn đã làm được một điều kỳ diệu vô song. Trước hết là cho chính bạn, sau đó là cho trường lực oán thù mà bạn đang ở trong đó. Khi bạn đặt niềm tin nơi tình yêu và ý thức rằng chúng ta sẽ được nên một với tình yêu đó, bấy giờ bạn có một ảnh hưởng to lớn đối với năng lực oán thù. Khi bạn thấy ai biểu lộ oán thù, bạn hãy nhớ rằng người đó đang cảm thấy bị oán ghét.  Đồng thời, bạn nên nhớ người đó cũng được Thiên Chuá yêu thương (vì Người là Tình Yêu). Dù bạn chỉ chứng kiến hay hứng chịu sự oán thù đó, bạn hãy chiếu tỏa tình yêu.  Nếu bạn lấy tình thương đáp lại sự oán thù (một trong ba điều khó nhất mà con người có thể làm như tôi đã trình bày trong chương trước), thì cuối cùng oán thù sẽ biến thành tình yêu. Bấy giờ, bạn sẽ biết rằng sự oán thù chỉ là một điều giả dối do lòng trí con người tạo ra.

Trong lịch sử, các bạo chúa và các nhà độc tài thường thù ghét người khác, bởi vì họ cảm thấy bị oán ghét.  Tất cả những vị tôn sư siêu phàm đều khẳng định tình yêu không bao giờ thất bại. Mọi tôn giáo đều  quả quyết như thế. Dưới đây là một số trích dẫn:

Kitô Giáo: Thiên Chuá là Tình yêu; anh em là sở hữu của Thiên Chuá và là con cái của Đấng Tối Cao.

Thần đạo Nhật bản: Tình yêu là chiếc bình chứa đựng Chúa.

Đạo thờ Thần Lửa: Con người được Chúa yêu thương, nên anh em phải yêu mến Người.

Do Thái Giáo: Anh em phải yêu mến Chúa là Thiên Chuá anh em  hết lòng và yêu thương tha nhân như chính mình.

Đạo Sikh: Thiên Chuá sẽ tái sinh những ai yêu thương bằng đôi tay của mình.

Phật Giáo: Hãy vun trồng yêu thương trên toàn thế giới.

Lão Giáo: Trời trang bị tình yêu cho những ai không huỷ diệt tình yêu.

Hồi Giáo: Tình yêu là thế này: bạn hãy xem mình thật nhỏ bé và Thiên Chuá thật vĩ đại.

Đạo Ba-hai: Nếu bạn không yêu thương tôi, tình yêu của tôi không có cách nào đến với bạn được.

Khổng Giáo: Yêu thương mọi người là sự thiện lớn nhất.

An Giáo: Yêu thương là phụng thờ Thiên Chuá cách tuyệt hảo nhất.

Tôi tin rằng nếu chúng ta biết yêu thương, sự oán thù sẽ không thể thống trị chúng ta. Ong Nelson Mandala đã đem tình yêu và hoà giải vào nơi oán thù vì phân biệt chủng tộc tại Nam Phi và sự thù oán dần dần biến mất. Những thù oán vì chiến tranh trong quá khứ dần dần biến mất, bởi vì người ta nhận ra được tính duy nhất của mọi người. Những địch thù xưa nay trở thành anh em chung sống hoà bình. Dĩ nhiên là ảo tưởng oán thù vẫn còn tồn tại và chúng ta còn phải nỗ lực nhiều để gieo yêu thương vào nơi thù oán. Những ai muốn tìm thấy giải pháp thiêng liêng thì buộc phải ý thức rằng chỉ có tình yêu mới hiện hữu mà thôi.

Oán thù phát xuất từ những kẻ cảm thấy bị oán ghét một cách nào đó. Có hai cách để giúp họ thay đổi cảm nghĩ oán ghét. Thứ nhất, bạn hãy làm cho họ thấy rằng bạn chỉ có thể trao ban cho họ tình yêu mà thôi. Thứ hai, bạn hãy xác tín rằng Thiên Chuá yêu thương họ với một tình yêu vô điều kiện, cho dù họ không nhận ra sự thật đó. Thánh Gioan đã nói: “Tình yêu là thế này: không phải chúng ta yêu mến Thiên Chuá, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta.” Tình yêu vô điều kiện rốt cuộc sẽ xua tan sự thù ghét, bởi vì khi bạn yêu thương một cách vô điều kiện, bạn ý thức rằng chỉ có tình yêu là thực thể bất khả phân mà thôi.

Bạn có thể nghĩ rằng tình yêu ấy có vẻ trừu tượng và huyền bí, khó có thể áp dụng khi đối diện với kẻ gây oán thù. Tôi cam đoan nếu bạn nhận thức rằng sự oán thù chỉ là một hình thức yêu thương lệch hướng và là sự phóng chiếu của kẻ không cảm thấy được yêu thương, thì bấy nhiêu thôi cũng đủ làm cho sự thù oán mất tác dụng. Cuối chương, tôi sẽ đề nghị một vài thực hành để đối phó với sự thù oán. Còn bây giờ, bạn hãy tâm niệm là bạn có  thiện chí muốn gieo tình yêu vào nơi thù oán và muốn xem oán thù như một nhu cầu muốn được yêu thương. Có như thế, bạn sẽ biến đổi môi trường và thay thế oán thù bằng yêu thương.

Tôi muốn chia sẻ với bạn lá thư của một phụ nữ đã từng đối diện với sự oán thù và bạo lực tột độ. Bà đã gieo yêu thương vào nơi thù oán ngay trong giây phút hãi hùng nhất. Bà đã thuật lại câu chuyện đó như sau:

Khoảng 2 giờ rưỡi sáng một ngày thứ sáu nọ, một người đàn ông đeo mặt nạ đánh thức tôi dậy, dí con dao vào cổ tôi. Thoạt tiên, tôi nghĩ đó chỉ là cơn ác mộng, nhưng sau đó, tôi ý thức mình đang tỉnh và người đàn ông đó thật sự đang đứng trước mặt tôi. Khỏi cần phải nói thì ngài cũng biết tôi kinh hãi như thế nào rồi. Người đàn ông đó chỉ hỏi tôi vài câu, rồi bịt mắt tôi lại và cột tréo tay tôi sau lưng. Sau đó, anh ta lấy dao cắt chiếc áo ngủ và áo lót của tôi. Tôi biết mình có thể chọn lựa giữa hai điều: một là gồng mình  kháng cự và có thể bị thương nặng, hai là im lặng chấp nhận và hy vọng tình thế sẽ khả quan hơn. Tôi đã chọn giải pháp thứ hai. Khi anh ta chạm vào người tôi, tôi chẳng có một chút cảm giác gì về sự đụng chạm đó. Bởi thế, tôi lấy lại bình tĩnh và bắt đầu gợi chuyện với anh ta. Những tư tưởng trong cuốn băng xuất hiện trong đầu tôi, và tôi đã nói ra những lời mà trong tình huống hãi hùng như thế thì chẳng thể nào nói được.

(Đầu thư, cô Ruth nói là nhờ nghe những cuốn băng của tôi mà cô đã chấp nhận cái chết của em cô một năm trước. Một tuần trước  khi xảy ra vụ việc đó, cô cũng đã nghe lại cuốn băng và thực tập).

Anh ta nói với tôi là anh ta ở Los Angeles. Anh cần tiền và một chiếc xe để về nhà. Tôi nói: “Anh quả là một chàng trai trẻ dễ thương. Anh có muốn tôi cầu nguyện cho anh không? Lạy Chúa, xin ban cho chàng trai này số tiền anh cần để trở về Los Angeles và xin ban cho anh một cuộc sống hạnh phúc và tốt đẹp.” Tôi hỏi anh ta có bạn gái không, anh trả lời: “Có, cô ta ở Los Angeles.” Rồi tôi hỏi anh ta có con cái gì không, anh trả lời: “Không, nếu tôi có con, làm sao tôi ở đây được?” Tôi nói: “Tôi có con và cháu. Con cháu tôi thật tuyệt vời. Anh nên cưới vợ và anh cũng sẽ có những đứa con tuyệt vời.” Tôi nói chuyện với anh ta như với một người đàn ông tử tế, cuối cùng anh ta nói: “Thế này thì không được” và chẳng hề hãm hiếp tôi. Anh ta còn làm nhiều điều khác khiến tôi nghĩ là sắp kết liễu cuộc đời, thế nhưng rốt cuộc anh ta bỏ đi và còn ngoái đầu lại nói với tôi: “Cô quả là người phụ nữ dễ thương.”

Tôi tin rằng nhờ những cuốn băng của ngài mà tôi có thể bình tĩnh và  nói những lời lẽ tử tế trong tình huống như thế. Những lời hay ý đẹp trong cuốn băng in vào tâm trí tôi và mang lại cho tôi bình an và sức mạnh tuyệt vời, giúp tôi nói những lời ân cần tử tế. Thế nên, tôi hết lòng cảm ơn ngài đã chia sẻ kinh nghiệm sống và sự khôn ngoan của ngài. Những kinh nghiệm khôn ngoan đó đã giúp tôi biết chọn lựa trong tình huống nan giải.

Cám ơn ngài, cám ơn ngài, xin hết lòng cám ơn ngài về những cuốn sách và băng cát-xét kỳ diệu ấy… kinh nghiệm khôn ngoan của ngài còn tuyệt vời hơn cả những lời đã được viết trong sách hay thu trong băng.

Tôi đã liên lạc với cô Ruth và xin phép sử dụng câu chuyện của cô, hy vọng một ai đó sẽ có thể gieo tình thương khi đối diện với sự thù oán.

GIEO YÊU THƯƠNG VÀO CÁC MỐI TƯƠNG QUAN CỦA BẠN

Đây là bí quyết để đối phó với sự oán thù của những người sống bên cạnh bạn. Trước hết, bạn hãy nhớ sự oán thù là một phản ứng nhằm đối phó với sự thất vọng trong tình yêu.  Sau đó, bạn hãy thinh lặng và lặp đi lặp lại câu này: “Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa, để con đem yêu thương vào nơi oán thù.”

Để gieo yêu thương, bạn hãy bình tĩnh và nhận biết rằng trong thâm tâm và vô thức của kẻ gây thù oán, họ cảm thấy bị oán ghét và đang cố xua đuổi cảm xúc khó chịu ấy. Tình yêu vô điều kiện thì không thể đi đôi với sự thù ghét, bởi thế nhiệm vụ của bạn là phải gieo yêu  thương vào nơi thù oán. Bạn hãy chuyển cho họ thông điệp này là trong bất cứ hoàn cảnh nào, bạn không hề oán ghét họ. Làm được như thế, bạn sẽ xua tan sự oán thù và tìm thấy giải pháp thiêng liêng cho vấn đề oán thù.

Khi người ta oán thù bạn, thì sự oán thù đó chẳng qua là nỗi đau mà người ta đang chịu và muốn vứt bỏ. Khi sự oán thù tan biến, thì nỗi đau đang dày vò người ấy cũng không còn khủng khiếp nữa.  Qua lời kinh trên đây, thánh Phanxicô nài xin Chúa ban  cho người nghị lực  để gieo vãi tình yêu, một tình yêu có khả năng xoa dịu đau khổ khi đối diện với sự oán thù. Bạn hãy cầu nguyện như thế mỗi khi những người sống chung và làm việc với bạn tỏ vẻ oán thù bạn.

Qua những điều tôi viết trên đây, tôi không hề có ý bảo bạn phải trở nên nạn nhân của người khác.  Một trong những cử chỉ yêu thương mà bạn có thể thực hiện để đáp lại sự oán thù, đó là im lặng cầu nguyện cho người đó và âm thầm rút lui khỏi trường lực sợ hãi và thù oán. Khi bạn âm thầm rút lui mà không lẩm bẩm kêu ca, không nguyền rủa hay to tiếng, bạn muốn nói với người gây hấn là bạn quý trọng bản thân và không muốn trở thành nạn nhân của kẻ ấy.  Sau khi họ lấy lại bình tĩnh và bầu khí oán thù không còn nữa, bạn có thể trở lại để trao đổi.

Bạn hãy cương quyết đừng để cho ai làm cho bạn khiếp sợ, phẫn nộ hay đau đớn. Mục tiêu của bạn là ở trong yêu thương. Bạn tự ý rút lui khỏi hiện trường là bạn giữ cho trường lực của mình không bị ô nhiễm và để cho người gây hấn có cơ hội nhìn lại hành động của họ. Bạn nên nhớ sự thù oán của họ là nỗi đau đang dày vò đay nghiến họ. Nếu bạn không oán thù vì sự oán thù của người khác, bấy giờ bạn giúp kẻ gây hấn vô hiệu hoá nỗi đau của mình.

Bất cứ khi nào bạn bắt gặp sự thù ghét, bạn hãy dành ít phút để tự nhủ là phải quay về với Thiên Chuá. Khi bạn đi ra khỏi cái tôi của mình, một cái tôi muốn ăn miếng trả miếng và chiến thắng thù oán, bấy giờ bạn đang gieo yêu thương. Cội nguồn của bạn là Thiên Chuá. Cội nguồn của oán thù là niềm tin sai lạc cho rằng họ tách rời với Thiên Chuá.  Bạn hãy quay về cội nguồn mỗi khi giáp mặt với thù oán, và bạn sẽ biết phải làm gì để gieo yêu thương.  Nếu ai đó cố nhử bạn rơi vào bẫy thù oán của họ, bạn hãy cương quyết đừng để mình dính mồi. Giăng bẫy như thế thì tương tư như khiêu khích một người không muốn tranh luận ầm ĩ. Người hung dữ sẽ hết tức giận nhờ phản ứng hiếu hoà và yêu thương. Tất cả những gì được tình yêu đoái nhìn sẽ biến thành niềm vui và vẻ đẹp. Nói cách khác, tình yêu và sự thù oán không thể sống chung với nhau.

Nhiều cái-được-gọi-là-vấn-đề trong cuộc sống phát sinh từ việc chúng ta phải đối phó với những kẻ gieo thù oán vào trường lực chúng ta. Bạn hãy để ý xem sự thù oán gây tai hại cho nhà cửa, công sở, gia đình và bạn bè, tương quan, thậm chí sức khoẻ của bạn như thế nào. Rồi hãy tự hỏi liệu bạn có nên làm gia tăng sự thù oán bằng cách oán ghét những kẻ gây hấn không.

Bạn thấy đấy, nếu bạn thực hành lời kinh của thánh Phanxicô, “Xin giúp con đem tình thương vào nơi thù oán,” thì chẳng có gì còn gọi là vấn đề nữa. Nhiệm vụ của bạn là đừng để mình rơi vào mạng lưới của thù oán này đến thù oán khác. Ngay cả khi bạn bị bao trùm trong trường lực thù oán và không thể nào tẩu thoát, bạn vẫn có thể lấy quyết định là chỉ nghĩ đến tình yêu. Bạn hãy thinh lặng và lặp đi lặp lời kinh này: “Lạy Chúa, xin dùng con như khí cụ bình an của Chúa, để con đem yêu thương vào nơi oán thù.” Tình thế sẽ thay đổi.

Thay đổi như thế nào? Các vấn đề chỉ hiện diện trong tâm trí bạn. Nếu tâm trí bạn có tình yêu, thì ở đấy không có chỗ cho thù oán, cả hai không thể sống chung với nhau. Khi bạn đối diện với thù oán, nếu bạn ý thức và quyết tâm chỉ nghĩ tưởng đến yêu thương, thì đó là giải pháp thiêng liêng. Với thời gian, tình yêu chắc chắn sẽ biến đổi thù oán thành niềm vui và vẻ đẹp.

GIEO YÊU THƯƠNG VÀO NƠI OÁN GHÉT BẢN THÂN

Nếu sự oán ghét bản thân cự ngụ trong lòng bạn, thì bạn phải lấy tình yêu thay thế cho sự oán ghét bản thân ngay. Gieo yêu thương vào nơi thù oán, tức là gieo yêu thương vào bất cứ nơi nào bạn gặp thấy sự thù oán, dù là nơi thâm cung lòng bạn. Hãy lắng nghe lời sau đây của thánh Phanxicô: “Tôi chỉ là kẻ tội lỗi, nếu Thiên Chuá nhờ tôi mà hành động, thì Người cũng có thể nhờ người khác.”

Bạn hãy tưởng tượng một người đã từng được mang năm dấu thánh của Chúa Kitô, đã thuần hoá thú dữ, đã chữa lành bệnh nhân và rao giảng tình yêu vô điều kiện, vậy mà người đã tự thú “tôi là kẻ tội lỗi.” Nếu thánh Phanxicô xem mình là kẻ tội lỗi, thì bạn ắt phải kiểm điểm hành vi và tư tưởng xấu xa của mình, và tha thứ cho mình, rồi sau đó hãy quý mến bản thân chứ đừng oán ghét bản thân nữa.

Mọi cử chỉ khi dễ bản thân đã lùi vào quá khứ. Bởi thế, kể từ nay bạn đừng phí phạm thời giờ vào việc oán ghét bản thân nữa. Bạn nên nhớ oán ghét chính là tình yêu, một thứ tình yêu lạc hướng. Bạn hãy bẻ tay lái và suy nghĩ theo chiều hướng yêu thương. Tha thứ là phương tiện đổi hướng. Trong cuốn sách này (và trong những sách khác), tôi đã nói nhiều về tầm quan trọng của lòng quí mến bản thân và việc tha thứ cho mình.

Khi nhắc lại việc quí mến bản thân ở đây, tôi muốn nhấn mạnh nơi nào có cảm xúc oán ghét, thì nơi đó cần phải gieo yêu thương. Tất cả những sai lầm của bạn trong quá khứ, những phán đoán sai lạc và thiếu nhận biết bản thân là chuyện đương nhiên của con người. Bạn cần phải ở trong bóng tối rồi mới có thể chiến thắng bóng tối. Các lầm lỗi của bạn xúc phạm đến Thiên Chuá, đơn giản thế thôi. Bạn là thụ tạo thánh thiêng của Thiên Chuá, không hề xấu xa, bởi vì Thiên Chuá tốt lành và mọi thụ tạo do Người tạo dựng đều thuộc về Thiên Chuá, không sai lầm, không xấu, không ai tốt hơn ai. Bạn hãy thực hiện lời sau đây của Emerson như một phương dược chữa trị những lỗi lầm của mình.

Đừng bao giờ đánh mất cơ hội nhìn thấy mọi sự đều đẹp; bởi vì vẻ đẹp là chữ viết của Thiên Chuá – một bảng chỉ dẫn bên đường. Hãy nhận ra vẻ đẹp nơi khuôn mặt kiều diễm, nơi bầu trời trong sáng, nơi cánh hoa mĩ miều và hãy dâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chuá vì vẻ đẹp đó.

Bạn hãy cảm tạ Chúa vì bạn có một khuôn mặt đẹp. Bạn hãy đặt mình vào chén chúc tụng và để cho tình yêu cư ngụ trong lòng bạn. Đó quả là một cơ hội để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của bạn.

THỰC HÀNH 

Tôi xin bạn thực hiện điều mà tôi đã thực hiện khi thấy mình ở trong tình huống thù oán 

 Tôi lặp đi lặp lại lời kinh của thánh Phanxicô: “Lạy Chúa, xin giúp con gieo tình thương vào nơi thù oán.” Mỗi khi tôi lặp đi lặp lại lời kinh đơn giản ấy, thì tâm trạng tôi chuyển từ thù oán sang yêu thương. Đó là sự thật, tin hay không là tuỳ bạn! Lời kinh uy lực đó đã cho tôi sức mạnh để hành động vì yêu thương, chứ không còn lấy oán báo oán như khuynh hướng của cái tôi.

Tuần trước, tôi đi xem một trận đấu quần vợt, bỗng nhiên một cầu thủ tuôn ra những lời hằn học, tố cáo đối thủ gian lận. Anh càng tức giận xỉ vả đối thủ, thì bầu khí trên khán đài càng nhiễm độc. Bấy giờ, tôi liền nhớ đến lời kinh của thánh Phanxicô, lời kinh đó nhắc tôi phải gieo yêu thương vào nơi  thù oán. Thế nên, tôi đã nói với người bị xỉ vả là hãy im lặng, chứ đừng ăn miếng trả miếng. Rồi tôi hét thật lớn vào tai anh cầu thủ đang tức giận, cốt cho mọi người nghe: “Anh bạn ơi, dầu bạn thắng hay thua, tất cả chúng tôi đều yêu thương bạn.” Tôi hết sức ngạc nhiên vì phản ứng của anh ta. Anh nhìn tôi, mĩm cười và nói: “Xin lỗi, tôi mất bình tĩnh.” Đó là một ví dụ tuyệt vời về việc gieo yêu thương vào nơi thù oán.  Sự thù oán đã tan biến ngay.

Nếu có ai công khai oán ghét bạn, bạn hãy nhớ Chúa Giêsu đã rửa chân cho các môn đệ trong đêm trước ngày chịu khổ nạn

Vợ tôi quả quyết là đã thực hành điều đó ngay từ nhỏ và sẽ thực hành suốt đời. Bạn hãy tưởng tượng là mình hiểu rõ tâm trạng của kẻ gây hấn đó. Rồi tưởng tượng đang cởi dày và rửa chân cho người đó như Đức Giêsu đã làm. Khi bạn tưởng tượng như thế, bạn phóng chiếu tình yêu vào nơi oán thù và chế ngự thói quen dễ bị tổn thương và nóng giận.

Mỗi khi bạn bị oán ghét hay chứng kiến sự phẫn nộ của oán thù, bạn đừng để cho sự kiện đó âm ỉ trong lòng

Ngoài ra, bạn hãy chống lại cơn cám dỗ thích bàn luận hay nói chuyện về việc thù oán. Nhiều người, tuy không gieo rắc oán thù, nhưng thích bàn luận về sự oán thù của người khác và lấy đó làm đề tài thảo luận. Họ huyên thuyên kể lại những lời thô lỗ của người khác và mọi người đã chịu đựng như thế nào. Làm như thế là gia tăng oán thù trong môi trường mình đang sống.

Khi bàn chuyện người khác, bạn cố gắng hết sức để chuyển tải năng lực yêu thương đến trường lực của họ, và khuyến khích mọi người chuyển tải năng lực yêu thương cho những kẻ đang chìm đắm trong oán thù. Bạn hãy bênh vực quan điểm là con người có thể thay đổi. Bạn hãy xin mọi người trong gia đình và bạn bè thân hữu lấy tình thương mà cầu nguyện cho những kẻ sa lầy trong thù oán.

Khi suy niệm, bạn hãy tập chú vào tình yêu chứ đừng nghĩ đến oán thù. Ngay cả khi bạn không chứng kiến sự oán thù, bạn vẫn có thể gieo vãi yêu thương bằng cách cầu nguyện cho những người lòng đầy thù oán. Cầu nguyện cho họ thì cũng tương tự như cầu nguyện cho bệnh nhân, người nghèo hay nạn nhân.

Đem yêu thương vào trường lực oán thù

Nếu bạn không để mình liên luỵ với oán thù, bạn có nhiều cơ hội lấy yêu thương mà ngăn chặn những cảm xúc mãnh liệt của thù oán. Khi cõi lòng chan chứa tình yêu, bạn sẽ toả chiếu một năng lực tinh thần mạnh mẽ. Bạn có thể chuyển tải năng lực yêu thương ấy đến những nơi thù oán.

Một buổi chiều nọ, tôi đang đi dạo trong công viên với hai cháu, bỗng dưng tôi thấy một người cha nọ bừng bừng nổi giận với đứa con nhỏ của mình. Ong vung tay múa chân doạ nạt đứa bé. Tôi liền ra tay, không phải để đương đầu với người cha thô bạo, mà để chuyển tải cho ông năng lực yêu thương. Tôi tưởng tượng mình bao bọc ông trong áng mây ân cần tử tế. Rồi khi tôi âm thầm bước vào trường lực của ông, tôi thấy ông bắt đầu dịu lại, một phần vì ông cảm thấy ngượng cho thái độ hung hãn của mình. Tuy nhiên, ông dịu lại là vì tôi đã đem năng lực tình yêu cao cả vào nơi có năng lực thù oán. Trước khi ông nhìn thấy tôi, thì năng lực tình yêu đã tác động trên tác phong của ông.

Bạn hẳn đã biết lời này: “Hãy truyền năng lực tích cực cho người khác.” Đó không phải là chuyện bịa đặt, nhưng đích thực là cách gieo yêu thương vào nơi thù oán. Bạn có khả năng sử dụng năng lực yêu thương để truyền năng lực tích cực cho người khác.

Mỗi khi gặp thù oán, bạn hãy nhớ kẻ gây thù oán đang cảm thấy bị oán ghét

Nếu bạn nhận thức như thế, bạn sẽ muốn xoa dịu nỗi đau của kẻ khác, bằng cách mang tình yêu ấm áp đến cho kẻ cảm thấy bị oán ghét. Mỗi khi con cái chúng tôi biểu lộ cảm xúc căm ghét qua lời nói hay việc làm, vợ chồng chúng tôi luôn cam đoan với chúng là chúng tôi yêu thương chúng và chúng đáng được yêu thương. Sau khi trời tạnh, chúng tôi biểu lộ một vài cử chỉ đơn sơ như ôm nó vào lòng, vỗ về và nói với nó: “Con biết đấy, ba mẹ yêu thương con và Thiên Chuá cũng yêu thương con; yêu con mãi mãi, ngay cả khi con giận dỗi.” Không cần dài dòng, mà chỉ cần một cử chỉ đơn sơ là chúng cảm thấy được yêu thương.

Khi tranh luận, nếu thấy có dấu hiệu thù oán, bạn hãy nhủ thầm Thiên Chuá yêu thương mọi người. Nếu bạn dùng mọi cách để chuyển tải chân lý ấy cho mọi người, thì bấy nhiêu thôi cũng đủ giải tỏa sự căng thẳng và tìm thấy giải pháp thiêng liêng cho vấn đề.

Bạn hãy quan tâm đến người kém may mắn

Trong xóm giềng, hẳn một ai đó cảm thấy thất vọng và cần được giúp đỡ. Họ không biết rằng họ lo âu là vì thiếu tình cảm yêu thương. Họ cảm thấy thế giới và những người thân không yêu thương họ. Bạn có thể trở nên khí cụ bình an khi bạn gieo yêu thương vào lòng họ. Họ không cần tiền bạc, thực phẩm hay của cải vật chất. Chỉ cần yêu thương thôi. Nếu bạn hành động như vậy, bạn mới có thể tìm ra giải pháp thiêng liêng cho vấn đề của họ và nuôi dưỡng linh hồn bạn.

Đừng bao giờ chấp nhận mình đang thù oán

Để gieo yêu thương vào nơi thù oán, bạn phải luôn nhớ rằng bạn là tình yêu và bạn chỉ có thể trao ban tình yêu. Bởi thế, khi người ta bắt bạn chịu đựng sự thù oán, thì sự thù oán không thể nào tác động trên linh hồn bạn được, bởi vì sự thù oán không thể sống chung với tình yêu hiện diện trong linh hồn bạn.

Để giải tỏa thù oán, cách tốt nhất là xem xét bạn phản ứng như thế nào đối với sự thù oán. Nếu bạn bực tức vì thái độ thù oán của người khác, thì chính bạn đã nhận lấy sự thù oán đó và đã để cho cái tôi của bạn tham gia vào cuộc xung đột. Khi bạn đáp lại kẻ gây hấn bằng những lời lẽ như “anh cảm thấy…,” bạn muốn khẳng định sự thù oán không ở trong bạn, mà ở trong người kia. Nói như thế là quyết tâm gieo yêu thương và sự thù oán chẳng làm gì được bạn. Nếu có kẻ nói với bạn: “Tôi căm thù anh; anh lạnh nhạt và chẳng bao giờ khen tôi. Từ trước đến giờ anh chỉ toàn chỉ trích tôi.” Bạn có thể trả lời như thế này: “Anh cảm thấy tôi khen anh chưa đủ, cho nên anh tức giận. Anh biết tôi luôn nghĩ anh có năng lực và có tài. Tôi sẽ nói với anh nhiều hơn.” Bạn đã không nhận lấy bất cứ điều gì và đã lấy tình yêu đáp lại sự thù oán. Quả là một giải pháp thiêng liêng! Giả như người ta vẫn tiếp tục thù oán, bạn hãy nhất quyết đừng bao giờ thừa nhận mình đang thù oán.

Bạn hãy chia sẻ đời sống với những kẻ gây hấn

Khi tìm hiểu những kẻ gây thù oán, bạn thấy rằng họ cũng khao khát những điều tương tự như bạn. Họ muốn được yêu thương và những biểu hiện thù oán không gì khác hơn là một tiếng kêu gào muốn được yêu thương.

Cách đây vài năm, khi cô con gái của tôi bước vào tuổi vị thành niên, cô thường giận dữ, nổi loạn và căm ghét cấp trên, nhất là tôi. Tôi mời cô đi ăn tối, cô miễn cưỡng nhận lời. Tôi đã nói chuyện với cô - nói với cô chứ không phải là nói về cô – một cách bình đẳng và ân cần quan tâm đến cuộc sống của cô.  Sau một vài giờ, tương quan giữa chúng tôi đã thay đổi.

Khi bạn cố gắng hiểu biết người khác, dành thời giờ cho họ, cố gắng thêm một chút để gieo yêu thương vào nơi nhen nhúm oán thù, bấy giờ bạn tạo nên bầu khí cởi mở và nhờ bầu khí đó mà tình yêu có cơ hội trổ sinh hoa trái. Không chỉ người thân trong gia đình, mà cả người ngoài cũng cần được quan tâm như thế. Bạn có thể đi ăn trưa với nhân viên bất kính nhất, và sau khi ăn chung với nhau, sự oán thù sẽ suy giảm. Từ Thành kiến bắt nguồn từ tiếng la-tinh, có nghĩa là “phê phán trước.” Phê phán trước là đánh giá người khác mà chẳng cần tiếp xúc. Đánh giá trước khi tiếp xúc. Qua tiếp xúc, bạn thấy rằng cả hai đều chia sẻ một số quan điểm chung, và vì thế mà cái “trước” sẽ biến mất và việc phê phán cũng  không còn.

Hãy trao ban tình yêu bằng thư tín

Chúng ta thường khó tiếp xúc với những người gây hấn. Bạn càng nỗ lực nói chuyện với họ, họ càng khăng khăng nghĩ rằng họ không có con đường nào khác ngoài con đường đã chọn. Trong tình hình như thế, gặp gỡ thường biến thành tranh luận, cải vã ầm ĩ và cố chấp.

Bạn nên viết thư bày tỏ cảm xúc của bạn, như thế người nhận sẽ không thể lấy oán thù mà tranh cãi với bạn. Ngay cả khi họ bất đồng ý kiến với bạn, bạn cũng hãy làm cho họ hiểu họ là người quan trọng, có giá trị, thông minh mà bạn và Thiên Chuá yêu thương. Tuy nhiên, bạn cũng nói cho họ biết cảm xúc của mình khi  họ oán ghét bạn, và tại sao bạn tránh xa tầm ảnh hưởng của thù oán.  Khi bạn dùng thư để trao gởi yêu thương, tia lửa thù oán không thể bùng cháy. Tia lửa oán thù chỉ có thể bùng cháy trong những cuộc tranh luận sôi nổi khi lời qua tiếng lại. Đấy là một cơ hội nữa để bạn trở về với lòng mình, và gieo yêu thương vào nơi thù oán.

Bạn hãy tỏ ra ân cần và ân cần hơn nữa.

Tôi đã khám phá được một cách khác để gieo yêu thương vào nơi thù oán, đó là quảng đại và trao ban. Bạn hãy gửi hoa cho người đã sỉ nhục bạn. Gửi một gói kẹo hay một món quà để đáp lại sự thù oán.

Nhiều năm qua, tôi thấy nhiều khách hàng không đủ khả năng chi trả mà vẫn cứ đặt hàng. Họ gởi ngân phiếu thanh toán, nhưng tài khoản của họ đã cạn kiệt. Có lần tôi cảm thấy bị lừa gạt và chỉ trích tinh thần vô trách nhiệm và thiếu đạo đức của họ. Cách đây chừng 5 năm, tôi đã thay đổi thái độ. Mỗi khi nhận được ngân phiếu không còn khả năng thanh toán, tôi gửi tặng cho khách hàng đó một cuốn sách có chữ ký của tôi và yêu cầu trả tiền vì ngân phiếu bị trả lại. Kết quả thật bất ngờ. Khoảng 98 phần trăm khách hàng không những đã trả tiền, mà còn viết thư xin lỗi. Còn trước đây thì không tới 40 phần trăm. Người xưa nói: “Lấy ân đền oán.” Còn tôi, tôi thích “đáp trả bằng yêu thương và lòng quảng đại” hay “gieo yêu thương” như thánh Phanxicô.

Hãy tha thứ và yêu thương mình

Bạn hãy luôn nhớ rằng bạn được nối kết với Thiên Chuá từ muôn đời. Bạn là một thụ tạo linh thánh, và bạn đừng sợ sự thánh thiêng của bạn nữa. Bạn không buộc phải tuân giữ bất cứ chuẩn mực nào rồi mới được yêu thương. Bạn được yêu thương vô điều kiện. Dù bạn mắc sai lầm, bạn vẫn luôn luôn được yêu thương. Dù bạn thất bại, bạn vẫn luôn được yêu thương.

Nếu bạn oán ghét bản thân, ấy là vì bạn cho rằng cái tôi của bạn nắm giữ mọi quyền lực. Cái tôi nghĩ rằng bạn có giá trị là vì chức vụ, của cải bạn sở hữu và những gì người khác nghĩ về bạn. Cái tôi tin rằng bạn tách biệt với mọi người và với Thiên Chuá. Cái tôi luôn luôn phê phán, đánh giá và so đo với kẻ khác. Nếu bạn không trân trọng bản thân, bạn sẽ khinh rẽ mình. Lúc bấy giờ bạn sẽ luôn nhớ đến những thất bại và căm ghét bản thân vì những thất bại đó.

Là một con người thánh thiêng, bạn không buộc phải thành công, so đo với người khác, chiến thắng hay làm bất cứ điều gì khác. Giá trị của bạn là một quà tặng. Bạn là một tác phẩm của Thiên Chuá. Luôn luôn nối kết với Thiên Chuá. Bạn hãy ghi nhớ chân lý đó mỗi khi bạn cảm thấy oán ghét bản thân. Hãy tha thứ cho mình và gieo yêu thương vào trường lực của bạn, bấy giờ bạn sẽ tìm thấy giải pháp thiêng liêng cho “vấn đề” khinh rẽ bản thân.

Đến đây, tôi xin kết thúc các gợi ý thực hành. Tự thâm tâm, tôi nghĩ không ai có thể yêu thương người khác mà không yêu thương nhân loại. Khả năng yêu thương bắt nguồn từ cảm nhận về sự liên kết giữa mình với mọi thụ tạo khác, với toàn thể nhân loại và với Thiên Chuá.

Để minh hoạ cho sứ điệp được trình bày cũng như lời kinh của thánh Phanxicô, xin bạn nghe câu chuyện của một người nô lệ. Ong tên là Booker T. Washington. Sau khi ông được thả tự do, người ta nghĩ là ông có đủ lý do để nuôi căm thù. Thế nhưng, ông đã viết: “Tôi không bao giờ để cho linh hồn trở nên ti tiện bằng cách căm ghét người khác.” Ong đã từng lao động khi mới 9 tuổi, giữ chân gác gian để kiếm tiền đi học, và về sau ông làm hiệu trưởng Trường Cao đẳng Tuskegee bang Alabana. Ong đã cự tuyệt với oán thù. Tại sao? Bởi vì oán thù làm cho linh hồn nên ti tiện. Khi bạn gieo yêu thương, linh hồn bạn sẽ được tô điểm bởi muôn vàn hoa thơm.

Chương 3
ĐEM THỨ THA VÀO NƠI LĂNG NHỤC

Thế giới không cần một tôn giáo mới hay một triết thuyết mới, nhưng cần sự chữa lành và tái sinh. Thế giới cần những con người tận hiến cho Thiên Chuá, đầy tràn thần khí đến nỗi có thể trở thành khí cụ chữa lành, bởi lẽ mọi người cần được chữa lành. (Joel S. Goldsmith)

Nghệ thuật chữa lành tâm hồn

 (the Art of a spiritual Healing )

Hai từ lăng nhục tha thứ của thánh Phanxicô diễn tả cách tuyệt với ước muốn chữa lành người đau ốm và bị tổn thương. Tha thứ  là muốn giải thoát người ta khỏi sự lăng nhục, giống như tù nhân được trả tự do nhờ sự tha thứ. Như bạn đã biết, thánh Phanxicô là người chữa bệnh nổi tiếng trong thời đại của người. Khi người hiện diện giữa những người bị thương, thì họ được chữa lành cách lạ lùng khiến các y sĩ đương thời không sao hiểu nỗi. Qua lời kinh này, thánh Phanxicô xin cho mình được hợp nhất với tinh thần, cho thân xác người và thượng trí phổ quát trở nên một, và cho thân xác người được thấm nhuần ý thức toàn hảo của Thiên Chuá, để người chuyển tải năng lực tinh thần cho kẻ ốm đau.

Tôi không yêu cầu bạn làm phép lạ chữa bệnh như  thánh Phanxicô hay Chúa Giêsu, mặc dầu tôi không có ý nói là bạn không thể làm phép lạ như các ngài. Tôi chỉ xin bạn mở lòng đón nhận một ý tưởng mà bạn có thể cho là kỳ quặc, thậm chí  là bất khả thi. Nếu không thì hãy xem đây là dịp thư giãn với cái “ông Dyer vớ vẩn.”  Nhà sư Tilopa sống vào thế kỷ 10 đã định nghĩa giác ngộ là “mở lòng đón nhận mọi sự mà không gắn bó với bất cứ sự gì.” Lời này muốn khuyến khích bạn mở lòng tiếp nhận những ý tưởng mới lạ.

Tôi xác tín rằng chúng ta có thể tìm hiểu bệnh tật và tổn thương trong viễn cảnh của giải pháp thiêng liêng. Khi thân xác chúng ta ốm đau, chúng ta cần một phương pháp trị liệu. Chúng ta muốn phục hồi sức khỏe càng sớm càng tốt.

Khi nói đến nguyên nhân của bệnh tật và thương tổn, tôi muốn bạn đừng nên mang mặc cảm tội lỗi hay ân hận vì bệnh tật. Khi bạn nói “bệnh tật và bất ổn hiện nay là của tôi, tôi làm chủ nó và chịu trách nhiệm về thái độ của tôi đối với nó,” bạn ý thức mình có sức mạnh, bởi vì bạn mở lòng tiếp nhận năng lực chữa lành qua giải pháp thiêng liêng. Cảm xúc có lỗi hay tức giận về chứng viêm khớp, ung thư, đau tim, suy thận hay bất cứ chứng bệnh nào, đều cản trở bạn tìm thấy giải pháp thiêng liêng.

Chúng ta sống trong một thế giới đầy chất độc hại gây bệnh ung thư. Không khí, thực phẩm và nước đều bị ô nhiễm. Khi bạn cảm thấy có lỗi và tức giận vì điều kiện sống hay đổ lỗi cho những tác nhân gây ô nhiễm, bạn chỉ làm cho vấn đề thêm trầm trọng. Nếu muốn tìm thấy giải pháp thiêng liêng, bạn phải loại trừ năng lực tiêu cực như hối hận, cảm xúc có lỗi, tức giận và oán trách. Nếu bạn khẳng định “đây là vấn đề của tôi và tôi đang tìm một giải pháp thiêng cho vấn đề,” bấy giờ bạn đang đi trên đường dẫn tới năng lực chữa lành.

Thân xác là con đường đưa bạn đến với Thiên Chúa. Một vài người trong chúng ta bị hói đầu, lùn, mù, điếc, què và vân vân. Nếu bạn quyết tâm không xem những khiếm khuyết đó là vấn đề và làm tròn số phận mà không mang mặc cảm tội lỗi, tức giận hay hối hận, bấy giờ bạn đưa năng lực tinh thần vào đời sống của bạn. Tóm lại, bạn đừng cho hình thể bên ngoài chi phối căn tính và công việc của bạn. Thân xác là phương tiện để bản ngã thiêng liêng của bạn được nhập thể. Thân xác dù mạnh khỏe hay đau ốm, nó không phải là bạn và bạn cũng không phải là thân xác.

Tôi tin rằng trong phép lạ chữa bệnh luôn luôn có một định luật. Định luật đó không bao giờ vô hiệu và có thể được chứng minh bởi nhiều phép lạ khỏi bệnh tại những nơi đầy năng lực như Lộ Đức ở Pháp, Fatima ở Bồ đào Nha và tại những nơi xa xôi hẻo lánh ở Brasil. Đó chỉ là một vài ví dụ điển hình thôi.

Đau khổ và bệnh tật của trẻ em quả là điều hết sức bức xúc. Một lần nữa, từ viễn cảnh thiêng liêng, chúng ta ý thức rằng chúng ta là những linh hồn bất tử, không bao giờ chết và cũng không bao giờ sinh ra.  Bản chất của chúng ta không phải là thể chất. Một đứa trẻ có thể mặc lấy một linh hồn già cỗi. Ai biết được? Nếu chúng ta giúp đứa trẻ bệnh tật đừng nghĩ đến con người hữu hạn của mình, mà chỉ nghĩ đến linh hồn hoàn hảo luôn luôn nối kết với Thiên Chuá, bất chấp sự bất toàn của thân xác, bấy giờ đứa trẻ có thể tìm thấy giải pháp thiêng liêng. Luôn luôn nhìn thấy Thiên Chuá hiện diện trong mọi người, ngay cả nơi thân xác yếu đau của trẻ em. Làm như thế  là chúng ta đem tha thứ vào nơi lăng nhục và tạo điều kiện cho tiến trình chữa lành.

Qua lời kinh “đem thứ tha vào nơi lăng nhục,” tôi tin nếu chúng ta kết hiệp với quyền năng chữa lành của Thiên Chuá, chúng ta có thể xoa dịu bệnh tật, tổn thương và lăng nhục. Điều đó muốn nói chúng ta phải quan niệm thân xác và tinh thần là một, và vận dụng bản chất thiêng liêng của con người mà duy trì sức khoẻ. Nếu bạn có một tinh thần minh mẫn được nuôi dưỡng bằng tình yêu, lòng nhân ái, sự tha thứ, nối kết, cảm tạ và ý thức, đồng thời loại trừ cảm xúc sợ hãi, hoài nghi, oán thù và cô đơn, bấy giờ bạn có khả năng cải thiện sức khỏe của mình và sức khoẻ của người khác.  Chữa lành là tình trạng ý thức, qua đó bạn để cho Thiên Chuá dùng bạn mà tuôn đổ quyền năng của Người xuống trên sự thương tổn và người bị thương tổn.  Theo cách nói siêu hình thì mọi bệnh tật đều phát xuất từ việc tâm trí và thân xác chúng ta tách lìa với Thiên Chuá.

Tự thâm tâm, tôi xác tín rằng không ai có thể tách lìa khỏi nguồn sức mạnh duy nhất là Thiên Chúa. Tách lìa với Thiên Chúa là một ảo tưởng. Bởi đó, bệnh tật chính là một ảo tưởng mà chúng ta có thể loại trừ khi chúng ta đưa tinh thần vào nơi sai lầm này. Tha thứ là một hình thức khác của tinh thần. Cụ thể là bạn có khả năng đem năng lực chữa lành của sự tha thứ vào nơi lăng nhục, nghĩa là để cho quyền năng  của Thiên Chuá tác động trên sự lăng nhục.

Nói đến giải pháp thiêng liêng cho mọi vấn đề, tôi không loại trừ những vấn đề liên quan đến sức khoẻ.  Tôi không xem thường các phương tiện y khoa, nhưng theo tôi, bác sĩ, dược liệu hay phương pháp trị liệu không phải là tác nhân chữa lành. Những ông bạn bác sĩ của tôi đều nhìn nhận rằng bệnh nhân được chữa lành là nhờ một sức mạnh kỳ diệu phát xuất từ thân xác. Có một quyền năng đang hoạt động mà họ không thể thấy hay sờ mó. Là năng lực thiêng liêng thuần thuý, quyền năng đó đã chữa lành vết thương và giữ cho cơ thể hoạt động hài hoà. Để gieo tha thứ vào nơi lăng nhục như lời kinh của thánh Phanxicô, bạn phải quay về với năng lực thiêng liêng và toàn hảo đó.

THÂN XÁC BẠN CẮM RỄ TRONG TINH THẦN

Qua sự vận hành của thân xác, bạn có thể nhận thấy năng lực vô hình của vũ trụ đang hoạt động trong bạn. Bạn không làm cho máu lưu thông hay cung cấp chất acid cho dạ dày để thực hiện phép lạ tiêu hoá. Thân xác bạn bắt nguồn từ một thực tại vô hình mà tôi gọi là tinh thần. Thân xác cắm rễ trong tinh thần và tinh thần thì hoàn hảo. Theo một nghĩa nào đó, thân xác bạn biểu lộ  thượng trí vô biên của Thiên Chuá và ý định của Người.

Thân xác là một thành phần trong đời sống của vũ trụ mà bạn có thể nhìn thấy qua tiến trình gieo hạt, đâm chồi, nở hoa, phát triển, rụng lá và trổ sinh sự sống mới. Thân xác bạn cũng như thân xác mọi người đều nhằm diễn tả ý định của tinh thần. Thân xác hằng cắm rễ vững chắc trong tinh thần hoàn hảo ấy. Khi thân xác không còn tiếp xúc với tinh thần hoàn hảo, nó sẽ bị tổn thương và ốm đau. Do vậy, không có thân xác bất toàn, mà chỉ có những ý tưởng làm cho thân xác tách lìa với Thiên Chuá. Chỉ có những ý tưởng bất toàn. Chính những ý tưởng bất toàn làm cho ta nghĩ rằng ta không thể chữa lành cho mình hay cho người khác.  Chính vì thế mà ta thường nghĩ rằng tôi bị viêm khớp, nhức đầu và hết sức nhức nhối mà chẳng làm được gì, chứ không nghĩ rằng tôi đau đớn là vì những ý tưởng bất toàn của tôi.

Tôi muốn khẳng định rằng sự thông minh trong  thân xác sẽ làm được điều bạn muốn. Nó làm cho thân xác mạnh khoẻ hay ốm đau là tuỳ bạn vận dụng đầu óc như thế nào. Nếu bạn muốn có một thân xác mạnh khoẻ và có khả năng đem tha thứ vào nơi lăng nhục nào, trước tiên bạn phải lấy tình yêu vô điều kiện mà chữa lành tâm trí bạn và ý thức rằng thân xác bạn là môt khí cụ vững chắc của tinh thần. Hãy làm cho tâm trí bạn đầy sinh khí, đầy yêu thương, mạnh khoẻ và tích cực, rồi thân xác bạn sẽ được khỏe mạnh.  Bấy giờ, bạn có khả năng chữa lành cho mọi người mà bạn gặp. Thánh Phanxicô nổi tiếng là vì thế. Bạn cũng có thể đem tha thứ vào nơi lăng nhục và  tạo thuận lợi cho việc chữa lành. Bạn chia sẻ cùng một năng lực. Có một tác nhân chữa lành trong bạn, tác nhân đó cắm rễ và luôn kết nối với tinh thần. Để nhận ra tác nhân chữa lành và để cho tác nhân đó hoạt động trong đời sống bạn cũng như trong  đời sống người khác, bạn phải loại trừ cái tôi của bạn.

VƯỢT TRÊN CÁI TÔI

Để phát huy sức mạnh chữa lành của thiên nhiên, bạn phải làm cho thân xác bạn hoà hợp với thân xác, tâm trí và tinh thần của thiên nhiên. Bạn phải kiềm chế tối đa cái tôi của bạn. Bạn nên nhớ cái tôi chỉ là ý niệm giúp bạn nhận diện bạn là một cá thể tách biệt với những người khác, bao gồm các thành tựu và của cải mà bạn thủ đắc. Tóm lại, cái tôi của bạn thúc giục bạn phải đấu tranh với mọi thân xác và nhân cách khác mà bạn gặp mỗi ngày.

Khi bạn quan niệm mình như một thân xác/ tinh thần độc lập, bạn đang ở trong một thế giới ảo tưởng, trong đó bệnh tật và tổn thương là hậu quả tất nhiên. Cái tôi của bạn không nhìn thấy những chiều kích rộng lớn của sự sống. Do đó, cái tôi thường tỏ ra tức tối, cô đơn, thất vọng, sợ hãi và khép kín để bảo vệ cái giá trị thấp kém mà nó gán cho cuộc sống. Chính cảm nghĩ khinh dễ bản thân, lối suy nghĩ nông cạn và sợ thất bại bộc lộ qua tổn thương và bệnh tật. Đến đây, bạn đã biết ý nghĩ đó thật sai lầm. Chỉ có một sức mạnh duy nhất hiện diện khắp nơi và luôn hiện diện trong bạn. Cái tôi của bạn là nguyên nhân khiến cho ảo tưởng đó trở nên đáng tin. Nếu bạn muốn cảm nghiệm sự chữa lành, bạn phải vượt thắng cái tôi và đem tha thứ vào nơi lăng nhục.

Bạn dễ vượt thắng cái tôi khi bạn chú ý đến quyền lực duy nhất, đó là sức mạnh hòa hợp mọi thụ tạo trong thiên nhiên. Con đường dẫn đến phép lạ đang mở ra trước mặt bạn, thế nhưng vì sợ hãi mà bạn làm tiêu tan năng lực và gây ra nhiều hình thức tổn thương. Mọi chuyện bắt đầu với việc tư duy và chế ngự những đòi hỏi của cái tôi. Thân xác bạn sẽ trở nên khí cụ hoàn hảo của tư duy, nếu bạn tỉnh táo loại trừ những tư tưởng về bệnh tật hay tổn thương. Nếu muốn giải thoát (hay tha thứ) con người bạn khỏi những tư tưởng như thế, bạn hãy tiếp xúc với tinh thần trong lòng bạn. Chính tinh thần đó làm cho thế giới tự nhiên, kể cả thân xác bạn, trở nên hài hòa. Kinh thánh khẳng định: “Với Thiên Chuá thì mọi sự đều có thể.” “Mọi sự đều có thể” nghĩa là không có gì là không thể làm được.

HÃY LOẠI TRỪ KHÁI NIỆM VÔ PHƯƠNG CỨU CHỮA

Cái nguyên lý cơ bản ẩn khuất trong vũ trụ vật chất là nguyên lý này: tư tưởng biến thành sự vật. Cội nguồn của mọi vật hữu hình là tư tưởng. Khi bạn nghĩ không thể thực hiện được một việc gì đó, bạn tăng thêm sức mạnh cho ý tưởng bất khả thi. Khi bạn nghĩ căn bệnh này vô phương cứu chữa hay tổn thương kia không thể phục hồi, thì bạn như thể đang nói với Thiên Chuá rằng: “Con không tin Chúa và cũng không tin mình là sự nối dài của Chúa nữa.” Tinh thần tuyệt hảo thì ở trong mọi người . Khi chúng ta loại bỏ được những ảo tưởng bệnh tật, bấy giờ chúng ta mới có thể mở lòng tiếp nhận tiềm năng chữa lành.

Tôi thích suy nghĩ về bệnh tật hay thương tổn dưới khía cạnh năng lực. Tất cả đều là năng lực và năng lực là một rung động. Khi thân xác bạn bị bất động, ấy là vì tần số của thân xác không tương hợp với tần số của hài hoà, tức là tần số của sự mạnh khỏe do tinh thần tạo ra.  Khi bạn nhận ra tần số của bệnh tật và tìm thấy giải pháp mới và mạnh mẽ, thì tần số tiêu cực có thể bị trục xuất và bị loại bỏ vĩnh viễn. Nếu bạn muốn đem tha thứ vào nơi lăng  nhục, thì  trước tiên bạn hãy giữ cho năng lực được quân bình.

Khi bạn kiên định chống lại sự ngu dốt (đồng hoá với cái tôi), bạn có thể giáng phúc, thậm chí chữa lành cho mình và cho người khác, khi bạn  đi vào trường lực của họ. Quân bình năng lực là trở về tình trạng ân sủng tự nhiên của bạn nhờ suy niệm, quyết tâm chỉ nghĩ đến yêu thương, luôn nối kết với tinh thần, vui tươi và ý thức. Trên tần số đó, không có chỗ cho ý niệm vô phương chữa trị.

Ong Stephen Lewis, bạn tôi, đã viết tác phẩm Cung thánh: con đường ý thức . Ong viết cuốn tiểu thuyết này dựa trên những kinh nghiệm của ông. Ong say sưa nói về năng lực chữa lành và loại trừ năng lực không tương hợp ra khỏi thân xác. Một vài chuyện có vẻ “kỳ lạ” và khó chấp nhận, nếu chúng ta nghĩ rằng các phương tiện y khoa như y dược, phẫu thuật, xạ trị và hoá trị là phương pháp điều trị duy nhất nhằm khống chế bệnh tật.

Tôi đang thực hiện chương trình quân bình hoá năng lực và đã có tác dụng đối với người khác cũng như đối với tôi. Khi tôi mở lòng đón nhận mọi tiềm năng, tôi liền thay đổi nhận thức về chữa lành và ý thức sâu sắc hơn về hạnh phúc. Tôi biết rất rõ là có nhiều tiềm năng trong vũ trụ và năng lực quân bình mà chúng ta chưa chạm tới. Khi buông bỏ khái niệm nan y, bạn có thể đi vào địa hạt của năng lực hoà hợp tuyệt hảo, tức là địa hạt của ý thức, và nhận thấy rằng Thiên Chuá không bao giờ muốn chúng ta bị hư hoại, tổn thương hay phiền muộn vì bệnh tật. Nếu bạn nhận ra  tinh thần hoàn hảo của bạn, bạn sẽ biết rằng ý niệm bất khả thi quả phi lý.

CHỮA LÀNH LÀ GÌ?

Khi người ta cảm thấy đau đớn hay bị lăng nhục như kiểu nói của thánh Phanxicô, thì một cách nào đó họ đang tách rời với Thiên Chuá. Nếu muốn chữa lành trên bình diện tinh thần, người ta cần nối kết lại với Thiên Chúa, tôi gọi sự nối kết đó là nhận thức về Thiên Chuá. Ở đây chẳng có gì liên quan đến các chứng bệnh, uống thuốc hay phẫu thuật. Chữa lành là nối kết bản thân lại với toàn thể. Tôi không ngừng nhắc lại rằng bệnh tật ( cũng như sự rối loạn và không hài hoà) là ảo tưởng , bởi vì mọi sự do Thiên Chuá tạo dựng thì tốt lành. Tôi sẽ khai triển điểm này khi chúng ta đề cập đến tiến trình chữa lành.

Khi nói rằng bệnh tật là ảo tưởng hay không có thật, tôi không muốn ám chỉ là nó không hiện hữu. Tôi không muốn bạn tự lừa dối mà nghĩ rằng những gì đang hiện hữu nơi bạn hay nơi người khác chỉ hiện hữu trong trí tưởng tượng của bạn mà thôi. Joel Goldsmith đã nói trong tác phẩm Nghệ Thụât Chữa Lành Tinh Thần:

Khi coi bệnh tật (cũng như cái chết hay tội tỗi) là điều không có thật, chúng ta không phủ nhận sự hiện hữu của chúng,  mà chỉ phủ nhận sự hiện hữu của chúng như thành phần của Thiên Chuá hay của thực tại… Trong vương quốc sự thật, tức là Nước Thiên Chuá, không có chỗ cho những bất đồng về ý nghĩa. Tuy nhiên, điều đó không làm thay đổi sự thật là chúng ta đau khổ vì chúng… khởi đầu của khôn ngoan là nhận thức rằng những tình trạng này không cần phải hiện hữu.

Như vậy, chúng ta không xin Thiên Chuá chữa lành, nhưng xin Người giúp chúng ta nối kết lại với trường lực tinh thần là nơi Người hằng hiện diện.  Vì thế, muốn chữa lành thì chúng ta phải vượt lên khái niệm thể lý hay vật chất, để có thể nhận biết Thiên Chuá. Khái niệm ‘không có thật’ hay ‘ảo tưởng’ ám chỉ rằng trong vương quốc của sự toàn vẹn và ý thức tinh thần thì không có bệnh tật. Khi thánh Phanxicô xin Thiên Chuá giúp người đem tha thứ vào nơi lăng nhục, người khao khát được kết nối lại với tinh thần toàn vẹn và chiếu toả sự hiểu biết trên mọi người sống trong thế giới “không có thật” của bệnh tật và bất hoà. Nếu bạn biết yếu tính của bạn là tinh thần, và tâm trí bạn luôn hướng về tinh thần, bấy giờ thân xác bạn sẽ hoà hợp với tâm trí và tất nhiên là sẽ được chữa lành.

Sự chữa lành là một biến cố kỳ diệu xảy ra mỗi ngày dưới nhiều hình thức. Một vết sẹo biến mất khi làn da được chữa lành và trở nên lành lặn. Triệu chứng cảm cúm dai dẳng bỗng nhiên chẳng còn tác hại gì đối với bạn. Mũi bạn ngưng chảy nước, thân nhiệt của bạn trở lại bình thường, chứng đau dạ dày giảm nhẹ, ngón tay gãy trở nên lành lặn. Tất cả những việc “chữa lành” ấy không gì khác hơn là trở về với sự toàn vẹn. Tư tưởng của bạn đóng góp rất lớn cho tiến trình chữa lành này.

Bạn càng nghĩ đến hạnh phúc và hài hoà với Thiên Chuá, bạn càng tạo điều kiện thuận lợi cho quyền năng  duy nhất của vũ trụ tuôn đổ năng lực xuống trên bạn.  Tư tưởng tiêu cực và năng lực thấp kém có thể làm phát sinh ung bướu và không thể phục hồi sự cân bằng năng lực. Tinh thần thật sự nối kết với thân xác, nhưng sự nối kết giữa Thiên Chuá và thân xác mới là cốt lõi của chữa lành. Khi bạn nối kết với những rung động của năng lực tinh thần và cố ở lại trong trường lực ấy, thì nguyên lý cơ bản của sự chữa lành đang hoạt động.

Thế nhưng, bạn có thể thắc mắc: Tại sao thánh Phanxicô chết vì lao phổi? Tại sao Chúa Giêsu chết trên thánh giá? Tại sao nhiều vị thánh đã chết vì ung thư, trong khi các ngài vẫn tiếp xúc với nguồn năng lực cao nhất của sự toàn vẹn? Giống như bệnh tật, sự chết không có thật, trong vương quốc thiêng liêng không có sự chết. Khi thánh Phanxicô chiến đấu với cơn bệnh giai đoạn cuối, người ta hỏi tại sao người không tự chữa cho mình, người đã trả lời: “Tôi muốn mọi người biết rằng không phải tôi là người chữa lành.” Đối với linh sư, cái chết không có thật, không hiện hữu, không thật. Thực tại tinh thần thì vô hạn, không có sinh mà cũng chẳng có tử. Thực tại tinh thần thì vô hình vô tượng, vô tận và vô biên. Sống trong chiều kích đó là sống trong vương quốc của sự toàn vẹn.

Đem tha thứ vào nơi lăng nhục là nối kết thân xác với ý thức về Thiên Chuá. Làm như thế, việc chữa lành sẽ xảy ra cách kỳ diệu. Thánh Au-tinh đã nói cách ngắn gọn: “Phép lạ không trái nghịch với tự nhiên, nhưng trái nghịch với điều chúng ta biết về tự nhiên.” Nếu bạn biết rằng việc chữa lành là nhận thức về Thiên Chuá, và nếu bạn loại trừ mọi ý tưởng tách rời với Thiên Chúa, tức là cảm tưởng sợ bệnh và sợ chết, bấy giờ bạn tạo ra một trường lực để liên kết với tinh thần. Đó là sự chữa lành và qua lời kinh của thánh Phanxicô, người yêu cầu bạn trở thành khí cụ của việc chữa lành.

NGƯỜI CHỮA LÀNH LÀ AI?

Trong tác phẩm Vị Lương Y Trong Lòng Bạn, Gladys Taylor McGarey kể lại cuộc đàm thoại giữa bà với Carl, con trai của bà. Anh  vừa hoàn tất thời gian thực tập tại bệnh viện và đang học chuyên khoa chỉnh hình. Sau khi nghe Carl nói anh cảm thấy lo sợ vì mạng sống bệnh nhân nằm trong tay anh, bà đã nói với anh: “Con là bác sĩ giải phẫu, con có thể rạch và khâu vết thương, nhưng con không thể làm cho vết thương lành lặn. Nếu con nghĩ mình là người chữa lành, thì con lo sợ là phải. Trái lại, nếu con ý thức con chỉ là cái máng để năng lực chữa lành hoạt động, và nếu con tiếp xúc với sức mạnh chữa lành hiện diện trong bệnh nhân, bấy giờ con chẳng có gì phải sợ. Con hãy đánh thức vị lương y ở trong họ và giúp họ tự điều trị.”

Khi bạn sống trên bình diện tinh thần và giúp bệnh nhân hay người bị thương ý thức chính họ có khả năng tha thứ và chữa lành, bấy giờ thân xác và tâm trí bạn trở thành khí cụ của Thiên Chuá. Khi chúng ta tiếp xúc với sức mạnh chữa lành của mình, nhờ tin vào sự hoàn thiện của tinh thần và tình yêu vô điều kiện ở trong chúng ta, bấy giờ chúng ta sẽ có khả năng chữa lành. Người chữa lành không phải là tác nhân chữa lành, nhưng là người mang lại sự tha thứ, bằng cách lấy tình yêu vô điều kiện và năng lực ý thức mà chịu đựng sự tổn thương, đồng thời quy hướng trọn vẹn về Thiên Chuá.

Bạn đang áp dụng định luật phổ quát, khi bạn tin vào sự hoàn hảo của tinh thần, loại bỏ nghi ngờ và sợ hãi, đồng thời đặt cái tôi nhỏ nhen sang một bên và sống theo nguyên tắc tư tưởng biến thành sự vật. Chính tư duy hay tình trạng tâm thần là nguyên nhân của ảo tưởng và xem bệnh tật như một điều gì tách rời với Thiên Chuá. Và chính tư duy về sự hoàn hảo tinh thần kích hoạt sức mạnh chữa lành nơi con người.

Ở đây, tôi không muốn bàn đến việc đặt tay chữa bệnh trong thế giới huyền bí, nhưng chỉ muốn nói là người chữa bệnh phải ý thức và nhìn nhận sự hoàn hảo của tinh thần và thân xác mình, cũng như sự hoàn hảo tinh thần của những người bị tổn thương. Tắt một lời, tình yêu là sức mạnh chữa lành. Trái với tình yêu là sợ hãi, và tin vào sợ hãi là tin vào sức mạnh của bệnh tật. Bạn hãy nhớ “tình yêu đích thật loại trừ sợ hãi,” và cội rễ mọi bệnh tật và tổn thương là sự sợ hãi vì tách rời khỏi quyền năng duy nhất của Thiên Chuá.

BẠN TRỞ THÀNH NGƯỜI CHỮA BỆNH ĐƯỢC KHÔNG?

Ai muốn chữa bệnh cho người khác thì phải nhớ rằng mình chỉ là chiếc máng để cho tình yêu thiêng liêng tuôn chảy. Khi bạn ốm đau, ấy là vì bạn đã đoạn tuyệt với  năng lực chữa lành của bạn. Bạn không còn tiếp xúc với nguồn mạch chữa lành của bạn. Bạn sẽ tìm thấy khả năng chữa lành, khi bạn tiếp xúc với nguồn mạch.  Người chữa trị phải tiếp xúc với toàn thể, đừng bao giờ rơi vào cạm bẫy của mê tín về sự chia cách, khiến cho bệnh tật chiếm giữ vị trí độc tôn. Khi bạn lấy năng lực tinh thần tiếp cận với người bệnh, bạn giúp họ nối kết lại với nguồn mạch và tạo thuận lợi cho tiến trình chữa lành. Theo nghĩa đó, bạn là một người chữa bệnh, cho dù bạn không chữa cho ai lành bệnh. Bạn không cần biết việc chữa lành diễn ra như thế nào. Khi giúp người khác nhận ra nguồn mạch phát sinh sự chữa lành, bạn không chỉ tạo điều kiện cho sự chữa lành, mà còn giúp họ phòng bệnh.

Tôi tin bạn có thể trở thành khí cụ chữa lành bằng cách gia tăng trường lực của bạn tới mức độ cao nhất và thiêng liêng nhất. Tôi đã giải thích là Thiên Chuá không chữa bệnh, bởi vì bệnh tật không phải là một sức mạnh độc lập. Nói cho đúng thì Thiên Chuá là sức mạnh duy nhất tạo nên sự hoà hoà.

Bạn hãy trở nên sức mạnh đó, hãy thể hiện sức mạnh đó, rồi bạn sẽ làm cho mình trở nên khí cụ đem tha thứ vào nơi lăng nhục, dù đó là sự lăng nhục của bạn hay của những người sống trong ảo tưởng bệnh tật. Bạn hãy đặt niềm tin vào sức mạnh duy nhất này. Đây không phải là một phép lạ, mà là con đường tất yếu. Thánh Tôma Aquinô đã nói: “Phép lạ không phải là dấu chỉ  cho những kẻ tin, nhưng là cho những kẻ không tin.”

THỰC HÀNH

Tập trung tư tưởng vào năng lực chữa lành hơn là bệnh tật.

Người ta thường tập trung năng lực vào những điều sai trái mà mình không muốn. Những kiểu nói “bệnh cảm lạnh của tôi càng ngày càng trầm trọng,” “tôi chẳng thể làm gì được, vì nay đang mùa cảm cúm và cảm cúm sẽ lây lan khắp nơi,” “cơn bệnh phải trở nặng như thế rồi mới thuyên giảm được,” là những cách nói biểu lộ điều bạn không muốn. Ở đây, xin nhắc lại rằng bạn suy nghĩ thế nào thì bạn hành động như vậy. Điều đó ứng dụng cho thân xác bạn cũng như những người chung quanh. Nếu tư tưởng bạn tập trung vào điều bạn không muốn (bệnh tật), bạn sẽ hành động theo tư tưởng đó và càng biểu lộ rõ hơn điều bạn không muốn.

Khi đi vào trường lực tổn thương hay bệnh tật, bạn hãy nhớ là bạn đang đem năng lực tinh thần vào  trường lực đó. Bạn hãy tập trung năng lực tinh thần, chiếu toả năng lực đó ra ngoài, lấy trường lực tinh thần bao vây trường lực bệnh tật và đừng bao giờ tham gia vào năng lực bệnh tật.

Tôi có dịp đi thăm một người đàn ông trẻ tên là Anthony tại một bệnh viện ở Canada. Anh ta hôn mê sau một tại nạn mô-tô khủng khiếp. Bạn bè khuyên tôi đến thăm anh, vì anh rất hâm mộ các tác phẩm của tôi. Đàng khác, anh không thể đến nghe tôi nói chuyện tại Tôrôntô, bởi vì anh phải nằm viện lâu dài. Trên đường ra sân bay, tôi ghé lại khoa điều trị đặc biệt. Các y tá nói là anh không hy vọng sống sót. Anh bị bao phủ bởi năng lực thương tổn. Những bệnh nhân khác trong khoa cũng ở trong tình trạng hoàn toàn  ọp ẹp. Vừa tròn 25 tuổi, Anthony nằm bất động trong một nơi thiếu niềm hy vọng chữa lành.

Tôi ở bên Anthony một giờ, cố gắng hết sức để làm chiếc máng vận chuyển sự chữa lành.  Tôi tiếp xúc với Thiên Chuá (qua suy niệm) và hình dung một luồng ánh sáng bao quanh người đàn ông trẻ đó. Khi từ giã anh, tôi tin chắc rằng anh sẽ hồi phục. Mười tám tháng sau, khi tôi đang nói chuyện tại một hội nghị thì Anthony xuất hiện. Trông anh có vẻ mạnh khoẻ. Anh nói là đã hoàn toàn bình phục. Tôi xin anh chia sẻ đôi điều với hội nghị. Anh kể rằng, khi anh vừa tỉnh lại, anh nghe các y tá nói là tôi đã đến thăm anh, đã cầu nguyện, rảo bước chung quanh gường bệnh và hầu như chìm đắm trong nguồn phúc lành.

Bạn biết là không phải tôi đã chữa lành cho Anthony. Cái tôi này hay cái thân xác này có làm được gì để chữa lành cho anh đâu. Tôi chỉ đem ý thức tinh thần đến cho anh. Hiện nay, anh Anthony đang du thuyết về kinh nghiệm chữa lành. Khi đến thăm anh, điều duy nhất mà tôi đã thực hiện, đó là ở lại trong năng lực tinh thần và không bao giờ tin vào sức mạnh của sự tổn thương.

Trước sự tổn thương của mình hay người khác, bạn hãy đặt niềm hy vọng vào sự chữa lành (tha thứ)

Tư tưởng bạn phải tập trung vào sự lành mạnh và làm cho sự lành mạnh thể hiện nơi thân xác. Tôi nghĩ chưa ai hiểu đầy đủ tác hại của sự bi quan, và mọi người đều có thể được chữa lành, ngay cả những người hoàn toàn ở trong tần số thấp nhất.

Có lần tôi nhận được một lá thư của một người phụ nữ. Bà là gái điếm, nghiện ma tuý, ốm tong teo như một bộ xương cách trí. Một buổi sáng nọ, bà quanh quẩn trong tiệm thuốc tây và ăn cắp một băng ghi âm hướng dẫn cách cải thiện bản thân. Đó là một trong những băng ghi âm của tôi. Bà mang về nhà và nghe.

Khi tôi gặp bà, bà đồng ý chia sẻ câu chuyện của bà trên truyền hình quốc gia. Bà đã vượt qua tình trạng thấp hèn bằng cách chỉ nghĩ đến những tư tưởng đầy uy lực và có sức chữa lành như tôi đã ghi âm trong băng. Mỗi ngày, bà nghe đi nghe lại và những tư tưởng đó dần dà trở nên tư tưởng của bà và đã chữa lành tổn thương của bà. Hiện nay, hằng năm bà vẫn gởi cho tôi một tấm thiệp Giáng Sinh, một tấm ảnh gia đình, và một đôi hàng về sự thành công của bà trong công việc mới.

Khi bạn vượt thắng sự khó chịu và tư tưởng bi quan như ‘không thể được’ hay ‘vô phương cứu chữa,’ và thay vào đó bằng năng lực tinh thần có thể làm được mọi sự, bấy giờ thế giới vật chất sẽ hưởng ứng và sự toàn vẹn sẽ thay thế cho viễn ảnh bất hạnh.  Nếu bạn suy nghĩ một cách tích cực ngay cả trong những tình huống xấu nhất, bạn sẽ có được một giải pháp thiêng liêng.

Tóm lại, bạn hãy luôn suy nghĩ tích cực: Tôi có thể làm điều đó, tôi sẽ làm được điều đó, tôi tin tưởng hoàn toàn vào Thiên Chuá, bởi vì mọi điều không tốt thì không có thật, cho dù nó hiện hữu trong thế giới vật chất.

Hãy nhớ lại những khi bạn bị sập bẫy của cái tôi.

Tôi tham dự một cuộc họp do ông Swami Satchidana tổ chức trên đảo Maui. Chúng tôi thảo luận về sự khác biệt giữa đau ốm và mạnh khoẻ. Ong bảo chúng tôi quan sát thật kỹ hai từ Illness và Wellness. Từ “Illness” (đau ốm) bắt đầu với mẫu tự I (tôi), đó chính là nguồn gốc mọi bệnh tật. Bệnh tật là hậu quả của niềm tin sai lạc cho rằng tôi tách rời với Thiên Chuá toàn hảo. Trái lại, từ “wellness” (mạnh khoẻ) bắt đầu với hai mẫu tự WE (chúng ta)  ngụ ý rằng tôi nối kết với Thiên Chuá trong mọi sự hoàn hảo của Người. Khi ở lại trong We (chúng ta) chứ không phải trong I (tôi), bạn ở lại trong sự mạnh khoẻ và tránh được đau ốm.

Khi bạn muốn đem tha thứ vào nơi lăng nhục, bạn hãy ý thức rằng sự lăng nhục là dấu hiệu của sự tách rời thiêng liêng. Bạn đừng vì thế mà cảm thấy có tội hay yếu đuối, nhưng hãy xem đó là cơ hội để thay đổi nhận thức.  Khi bạn được nối kết với Thiên Chuá, bạn sẽ cảm thấy mình dễ thương , cởi mở, tin cậy và hiếu hoà hơn. Đó là những tín hiệu mà bạn gửi cho thân xác và những nơi mà bạn muốn chuyển thông sức mạnh chữa lành.

Xem tổn thương của người khác như cơ hội để tha thứ.

Khi gặp sự lăng nhục, bạn đừng chán nản hay rối lòng rối trí, nhưng hãy để cho những cảm xúc thúc đẩy bạn hành động.  Dưới đây là câu chuyện có thật của một độc giả, ông đã thực hành đề nghị này một cách nghiêm túc. Tôi chỉ thay đổi một chút để bảo vệ đời tư của những người liên hệ.

Tôi và các đồng nghiệp cùng nhau ăn tối tại một nhà hàng dưới phố. Vừa ngồi vào bàn thì một cô tiếp tân đến hỏi chúng tôi muốn uống gì. Ngước mắt lên, tôi thấy cô thật duyên dáng và mĩm cười với cô. Tuy nhiên, khi cô mở miệng cười, tôi cảm thấy hơi “sốc”… Hàm răng cô bị hư, một nửa bị gãy, số còn lại cái thì sứt mẻ cái thì lởm chởm. Cô vẫn cười và ghi thực đơn.  Sau khi cô đã đi, tôi và các bạn cùng bàn luận. Tôi cảm thấy xót xa khi cô phải mang một hàm răng như thế. Thật chẳng công bằng, nhất là khi xã hội hôm nay đã có nhiều kỹ thuật chữa răng. Sau bữa ăn ấy, tôi không ngừng nghĩ đến cô. Tôi không biết cô là ai, hoàn toàn không biết gì về cô, nhưng tôi cảm thấy phải làm điều gì đó để giúp cô. Tôi cũng không biết tại sao tôi lại bị thôi thúc phải giúp đỡ cô, trong lúc biết bao người đang cần giúp đỡ.

Về đến nhà, tôi tiếp tục suy nghĩ và quyết định giúp đỡ cô. Tôi không đủ khả năng để trang trải chi phí cho cô, song tôi biết nhiều cơ quan từ thiện sẵn sàng giúp đỡ những người như cô. Thật thế, tôi đã từng làm việc trong nhiều cơ quan, nên tôi biết phải liên lạc với ai. Tôi nghĩ đúng là cô ít giao tiếp với người khác. Thế nên, vấn đề là làm sao tiếp xúc với cô và đề nghị cô chấp nhận sự giúp đỡ mà không làm cô bị xúc phạm. Do đó, tôi viết cho cô một lá thư và nếu cô trả lời, thì tôi sẽ bắt đầu. Tôi đích thân đưa thư tận nhà cô, và  năm phút sau, tôi nhận được một cú điện thoại của cô. Nói ngắn gọn, tôi hứa sẽ giúp cô làm một bộ răng mới hoàn toàn miễn phí, và tôi nghĩ điều đó quá đơn giản!

Tôi gọi cho United Way, cơ quan này bảo không hỗ trợ chương trình như thế nữa. Tôi gọi cho Uỷ Ban Sức Khoẻ Cộng Đồng, họ nói là không có nha sĩ.  Tôi gọi Cơ Quan Chữa Răng Miễn Phí, họ bảo là phải chờ ba năm mới đến lượt. Tôi gọi Area Foundation, họ bảo là không có kinh phí cho việc chữa răng. Tôi gọi đến Vụ Xã Hội của chính phủ, thì họ cho biết cô làm việc toàn giờ, nhưng lại không đủ tư cách công nhân. Tôi không thể tin nổi. Mọi cửa đều đóng kín!!! Tôi gọi đến nhiều nha sĩ và họ đòi 5.000 đô la. Tôi rất thất vọng, nhưng buồn nhất là vì tôi đã hứa giúp cho người phụ nữ ấy một bộ răng mới. Bây giờ tôi phải làm gì đây?

Tôi đi ăn tối với gia đình, có cha mẹ tôi cùng với vợ chồng các anh tôi. Tôi kể cho họ nghe câu chuyện trên đây và xin ý của họ. Tối hôm đó, mọi người đã ký ngân phiếu. Thế rồi tôi gọi điện thoại cho ông nha sĩ, ông hứa sẽ tặng cho cô 1.500 đô la và chỉ phải trả 3.500 đô la. Mọi sự hoàn tất!!! Trên đây là một bài báo viết về người phụ nữ đó. Tôi nghĩ bạn cũng cảm thấy vui khi đọc bài báo này.

Đó là một kinh nghiệm sống động trong việc đem tha thứ vào nơi lăng nhục và giải toả sự lăng nhục. Tôi còn nhớ câu châm ngôn “Khi học trò sẵn sàng, thầy giáo sẽ xuất hiện,” nhưng nói thế này cũng đúng: “Khi thầy giáo sẵn sàng, học trò sẽ xuất hiện.” Khi bạn sống như một linh sư, không ngừng tìm kiếm một giải pháp thiêng liêng cho mọi vấn đề, bấy giờ học trò của bạn xuất hiện trong đời sống mỗi ngày và mọi ngày của bạn. Bạn sẽ biết đem tha thứ vào nơi lăng nhục bằng cách đi ra khỏi cái tôi và để cho thần trí ngự trị.

Đọc sách vở nói về sự chữa lành chứ đừng đọc sách vở nói về sự ác

Bạn hãy đọc và nghe những câu chuyện về việc chữa lành phi thường, năng lực tích cực và những việc thiện trên thế giới. Hãy tiếp nhận những cách Thiên Chuá biểu lộ ân sủng và cách con người thể hiện tiềm năng trong việc hoàn thiện bản thân về mặt tâm linh.  Làm như thế, bạn có khả năng chuyển thông sự chữa lành. Bạn hãy đọc tiểu sử các thánh và bạn sẽ thấy các thánh đã biến đổi cuộc đời những người mà các ngài gặp gỡ, nhất là những người bị tổn thương. Bạn hãy xem phim và chương trình truyền hình ca tụng những đức tính nhân bản, chứ đừng xem những gì biểu dương sự bất cập hay ác tâm của loài người. Bạn hãy luôn tâm niệm rằng loài người tốt lành, bệnh nhân có thể được chữa lành và sự lăng nhục có thể được tha thứ. Thế giới này có vô vàn cử chỉ nhân ái đáp lại sự thô bạo. Bạn hãy thực hiện những cử chỉ nêu cao chân lý này.

Xin trưng dẫn một ví dụ để minh họa cho chân lý đó. Một phụ nữ ở Pottstown, bang Pennsylvania gửi cho tôi một lá thư, sau khi đã đọc cuốn sách mà tôi cùng viết với Marcelene, vợ tôi. Đó là cuốn Một Lời Hứa Là Một Lời Hứa. Đây là một câu chuyện có thật về một tình yêu vô điều kiện và khôn sánh của bà Kaye O’Bara. Bà chăm sóc cho cô con gái bị hôn mê trên 30 năm với tinh thần phục vụ và tình yêu xả kỷ chưa từng thấy. Những hàng vắn vỏi của Bà Barbara Binkey dưới đây minh hoạ cho việc đem tha thứ vào nơi lăng nhục.

 “Tôi đang đọc cuốn sách của ông: Một Lời Hứa Là Một Lời Hứa. Cuốn sách này thật tuyệt vời, chất chứa tình yêu và phép lạ. Sau khi đọc được một vài chương, tôi cảm thấy khuỷu tay trái không còn đau nhức nữa, sự nhức nhối mà tôi phải chịu kể từ tháng 11. Xin Thiên Chuá chúc lành cho ông. Barbara J. Binkley.” Quả thú vị  khi đọc những câu chuyện truyền cảm.

Bạn hãy chăm sóc bệnh nhân, nhưng đừng lo lắng đến bệnh tật

Đừng yêu thương và quan tâm quá mức đối với bệnh tật. Bạn hãy áp dụng điều này khi điều trị cho người khác cũng như cho chính bạn. Đừng tìm cách biện minh cho sự tồn tại của bệnh tật. Đừng biến bệnh tật thành cơ hội bày tỏ sự ân cần và quan tâm. Bệnh tật và tình yêu có thể liên kết với nhau. Khi một người khao khát tình thương, nhất là trẻ con, họ thường lầm tưởng rằng ngã bệnh là cách để được yêu thương.

Hãy nhớ rằng bệnh tật không có thật. Nó không phát xuất từ Thiên Chuá, và vì thế mà không có thật. Bạn hãy xem bệnh tật như một ảo tưởng, nó không thuộc ý thức của bạn hay ý thức của bệnh nhân. Bạn hãy dửng dưng với bệnh tật. Đàng khác, bạn hãy vững tin con người đích thật của bạn không phải là bệnh nhân, và bệnh tật sẽ biến mất khi bạn ý thức rằng bạn không muốn và không đáng chịu như thế.

Những người chịu nhiều đau khổ và bệnh tật thường tỏ ra thích thú khi nói về bệnh tật của mình. Khi tôi thấy người ta tự hào về bệnh tật của mình, tôi phản ứng với một thái độ dửng dưng. Tôi nói với họ: “Bạn không buộc phải sống chung với đau khổ. Bạn mạnh hơn bệnh tật.” Tôi không làm cho người ta tin sự đau khổ là có thật. Tôi cũng hành động như thế đối với gia đình và chính mình. Từ lâu, tôi thấy gia đình tôi ít nói về sự mỏi mệt, khó chịu hay nghĩ đến điều bất ưng “sắp xảy đến.” Vợ chồng chúng tôi thường nói với con cái là chúng mạnh hơn bệnh tật. Nói cách khác, chúng tôi muốn liên kết tình yêu với sự mạnh khoẻ, nghị lực và ý thức tinh thần, hơn là liên kết với bệnh tật, mệt mỏi và tổn thương. Bạn đừng lấy tình yêu mà gia tăng sức mạnh cho sự tổn thương. Trái lại, bạn hãy lấy tình yêu mà gia tăng sức mạnh cho sự tha thứ, bấy giờ sự chữa lành sẽ thay thế cho bệnh tật.

Tập điều khiển năng lực chữa lành.

Để đem tha thứ vào nơi lăng nhục, bạn hãy xem mình là một người gieo vãi năng lực chữa lành. Hãy ý thức hơi thở và cảm nhận thực chất của bạn là một ý thức và năng lực tinh tuyền được biểu lộ qua thân xác/tâm trí.  Hãy hình dung ý thức đang ở trong tim và hơi thở đang ở trong ý thức của con tim. Sau đó, bạn hãy tưởng tượng một dòng năng lực yêu thương tuôn trào từ trái tim và chảy đến những vùng bị tổn thương trong thân xác bạn hay thân xác của kẻ khác, những tổn thương thể lý cũng như tâm lý.

Việc hình dung và điều khiển năng lực rất có uy lực. Thân xác bạn là một hệ thống gồm những rung động ở tần số cao/nhanh, trong đó hoạt động của tâm trí đi trước hoạt động thể lý (bạn suy nghĩ thế nào thì bạn sẽ như thế). Bạn có thể đạt tới nguồn năng lực hài hoà và sống động của bản thân nhờ việc hình dung. Nguồn năng lực đó tuôn chảy vào vùng bị đau hay thương tổn để chữa lành.

Nhiều sách vở đã viết về khả năng hình dung của tâm trí và chuyển đạt hình ảnh con người nội tâm đến thực tại vật chất. Vận động viên bóng rổ sử dụng phương pháp hình dung khi ném bóng. Bởi thế, bạn có thể tập luyện phương pháp này để đem năng lực chữa lành vào nơi bị tổn thương hay bệnh tật. Tôi tập phương pháp hình dung này mọi lúc. Tôi đã loại bỏ được chứng nhức đầu bằng cách tập trung năng lực của con tim vào vùng bị đau nhức.

Bạn có thể làm được như thế, nếu bạn ý thức rằng bạn có khả năng sử dụng năng lực chữa lành để khôi phục sự hài hoà tự nhiên của thân xác.

Bạn hãy tiếp xúc với vẻ đẹp và cảm nhận quyền năng chữa lành của thế giới hài hoà của Thiên Chuá. Hãy chiêm ngắm và thưởng thức các loài hoa, cảnh hoàng hôn và bình minh, đồi núi, bãi biển và văn chương lành mạnh. Khi bạn cần chữa lành, tôi đề nghị bạn hãy thưởng thức những bản nhạc nâng cao tâm hồn càng nhiều càng tốt. Trên hết, bạn hãy nhớ lời của Người Lữ Hành Vì Hoà Bình: “Sự chữa lành không nhất thiết là duy trì sự sống. Đôi lúc Thiên Chuá có những kế hoạch khác cho con cái Người – cả hai mặt của sự sống cũng là một.”

Hãy buông bỏ

Vâng, đúng vậy! Bạn hãy loại bỏ những cảm nghĩ tức giận, chua cay, than thở hay những cảm nghĩ tương tự. Bạn hãy quý mến thân xác như đền thờ của linh hồn mà Thiên Chuá bạn tặng. Khi bạn buông bỏ và cự tuyệt với những cảm nghĩ đau ốm, bạn sẽ có ngay một năng lực êm ái của sự chữa lành và  phần thưởng của sự buông bỏ chính là sự bình an.

Sẵn sàng tha thứ mọi sự xúc phạm

Càng sống trên bình diện tinh thần, bạn càng ít vướng vào những tần số thấp của tức giận, thành kiến, sợ hãi và trả thù. Thánh Phanxicô xin Thiên Chuá biến người thành khí cụ tha thứ mỗi khi người cảm thấy bị tổn thương vì lối cư xử của người khác. Khả năng tha thứ sẽ trở thành bản tính tự nhiên, nếu bạn đừng chất chứa sự oán hờn trong lòng.

Mỗi khi người ta xúc phạm danh dự, làm mất danh thơm tiếng tốt, hay xúc phạm thân xác bạn, thì tha thứ chính là giải pháp thiêng liêng. Tha thứ quả là việc khó khăn. Tuy nhiên, nếu bạn ở lại trong sự đau đớn và tìm cách trả thù, bạn chỉ lún sâu trong sự đau đớn và vấn đề sẽ trở nên trầm trọng hơn. Ngạn ngữ Trung Hoa có câu: “ Nếu bạn muốn trả thù, bạn nên đào sẵn hai nấm huyệt.” Bạn hãy buông bỏ những cảm xúc bị xúc phạm bằng cách yêu thương và tha thứ, và bạn sẽ tìm thấy giải pháp thiêng cho vấn đề của bạn. Hãy buông bỏ và đón nhận lời chỉ dạy của Thiên Chuá: “Mọi sự xung đột giữa bạn với người khác không phải là xung đột giữa bạn với họ, mà là giữa bạn với Thiên Chuá.”

Đến đây tôi xin kết thúc những suy tư và đề nghị trong việc đem tha thứ vào nơi lăng nhục. Bạn có thể tự đi vào không gian của năng lực tinh thần và trở thành khí cụ chữa lành. Bạn chữa lành tổn thương nơi bạn, cũng như tổn thương của người khác.

Khi bạn trở thành khí cụ tha thứ, bạn sẽ chữa lành cho mọi người trên hành tinh này, bởi lẽ tất cả chúng ta cùng chia sẻ một sức mạnh duy nhất của Thiên Chuá. Đó là buông bỏ cái tôi, phó mình cho ân sủng và sẵn sàng tha thứ. Ramakrisna đặt câu hỏi: “Đón nhận ân sủng có dễ dàng không? Muốn đón nhận ân sủng, người ta phải từ bỏ tính độc tôn; bao lâu còn người ta còn cho mình là tác nhân thì người ta chưa thể thấy Thiên Chuá.”

Chương 4
ĐEM TIN KÍNH VÀO NƠI NGHI NAN

Một trong những chức năng của các tôn giáo là không cho tín đồ trực tiếp cảm nghiệm Thiên Chuá. (CG. Jung)

Tôi thường dùng bài tập trái xoài để chứng minh rằng nếu chúng ta không kinh nghiệm trực tiếp về Thiên Chúa thì không thể có đức tin. Trong khi nói chuyện với cử toạ, tôi mời một người chưa bao giờ ăn xoài tham gia thí nghiệm. Sau đó, tôi yêu cầu những người đã ăn xoài mô tả hương vị trái xoài cho người ấy. Sau khi cố gắng mô tả hương vị trái xoài, họ thấy rằng những điều họ mô tả chẳng thể truyền đạt mùi vị trái xoài. Người ta không thể dùng ngôn từ để truyền đạt mùi vị trái xoài. Cuối cùng thì người kia vẫn không biết mùi vị trái xoài như thế nào.

Đem tin kính vào nơi nghi nan cũng tương tự như cảm nếm mùi vị trái xoài. Bạn không thể biết mùi vị trái xoài, nếu bạn chưa ăn xoài. Cũng vậy, bạn không thể biết đức tin là gì, nếu bạn chưa có một kinh nghiệm về Thiên Chuá. Nếu bạn chỉ dựa trên chứng từ hay kinh nghiệm của người khác, thì đức tin của bạn sẽ gặp trở ngại. Đức tin của bạn y hệt như người chưa bao giờ thưởng thức trái xoài. Bạn không thể đem tin kính vào nơi nghi nan, nếu bạn chưa loại bỏ quan niệm là người ta có thể biết Thiên Chuá qua lời giảng dạy hay kinh nghiệm của người khác. Bởi thế, bạn phải nỗ lực tiếp xúc với Thiên Chúa để có thể nhận biết tần số của năng lực tinh thần.

 Một khi chính bạn đã biết được Thiên Chúa, bạn sẽ không còn nghi nan. Bấy giờ, bạn sống trong chiều kích tinh thần và bạn có thể tiếp cận sự hiểu biết này bất cứ lúc nào. Tôi gọi sự hiểu biết ấy là đức tin, không thể chứng minh và xác nhận nhờ những phương tiện bên ngoài. Khi bạn biết bằng đức tin, bạn sẽ tìm thấy giải pháp thiêng liêng cho mọi vấn đề.

LẤY ĐỨC TIN THAY CHO NGHI NAN

Bạn có tin là mình có thể đi vào thế giới tâm linh mỗi khi bạn gặp rắc rối hay gặp vấn đề không? Câu trả lời tùy thuộc nhận thức của bạn về sự khác biệt giữa tin và biết.

Niềm tin phát xuất từ kinh nghiệm hay chứng từ của người khác, họ muốn thuyết phục bạn tin những điều họ nói. Việc dạy giáo lý của các tôn giáo, Kinh Thánh và tín điều có giá trị và vô cùng chính xác, tuy nhiên những chân lý ấy thường được áp đặt trên mọi người. Nếu bạn tiếp nhận và được nuôi dạy với các niềm tin ấy từ khi lọt lòng mẹ, thì bạn hầu như không thể kháng cự áp lực của niềm tin. Tôi không bảo dạy giáo lý là sai, song tôi nghĩ rằng khi người ta bị bắt buộc phải tin Thiên Chuá, thì người ta sẽ nghi ngờ, bởi lẽ niềm tin của họ không bắt nguồn từ sự tiếp xúc có ý thức và kinh nghiệm trực tiếp với Thiên Chuá. Để có được sự hiểu biết của đức tin, bạn phải kinh nghiệm trực tiếp về Thiên Chuá.

Bạn có thể đi xe đạp. Bạn tin như thế không phải vì chứng từ hay kinh nghiệm của người khác, nhưng vì bạn đã có kinh nghiệm đi xe đạp. Khi bạn hành động, kinh nghiệm sẽ cung cấp đức tin cho bạn. Bạn tin mình có thể đi xe đạp không phải vì những bằng chứng về định luật thăng bằng, cũng không phải vì tính chất khả thi của định luật cân bằng, thậm chí cũng không phải vì mọi người chung quanh đi xe đạp một cách dễ dàng. Bạn tin là vì bạn biết nhờ kinh nghiệm trực tiếp  chứ không phải vì lý do nào khác.

Bởi thế, đức tin liên quan đến mọi sự hiểu biết, kể cả việc biết Thiên Chuá. Bạn phải loại bỏ các nỗi sợ hãi và thoát ra khỏi mọi ảnh hưởng từ bên ngoài, ngõ hầu bạn có thể leo lên chiếc thang năng lực và tiếp xúc với những tần số của ý thức thần linh. Khi bạn sống trong tần số của ý thức thần linh và hít thở năng lực của Thiên Chuá, đức tin của bạn sẽ không bao giờ lay chuyển được. Muốn được như thế, bạn đừng sợ trải qua kinh nghiệm trực tiếp ấy, không lệ thuộc ý kiến của những thế lực bên ngoài đang chi phối đời sống của bạn.

ĐỨC TIN VÀ SỢ HÃI

Khi buông bỏ sợ hãi, bạn gặp lại bản chất thần linh của bạn. Bản chất đó đưa bạn trở về tình trạng quân bình của thân xác và tâm trí, tức là tình trạng hài hoà tuyệt hảo và không có vấn đề.  Sợ hãi và đức tin không thể sống chung hài hoà với nhau, tình yêu và oán thù, hoà bình và hỗn loạn không thể cùng tồn tại.

Có lẽ bạn còn nhớ điều tôi đã nói ở đầu cuốn sách: Con người chỉ có một vấn đề duy nhất, đó là niềm tin cho rằng chúng ta tách rời với Thiên Chua, mọi vấn đề khác đều phát sinh từ đó. Mọi nỗi sợ hãi đều bắt nguồn từ cảm nghĩ tách rời với Thiên Chuá  và đưa tới sự nghi ngờ. Bạn có sợ khi biết rằng Thiên Chuá là bản ngã thật sự của bạn không? Bạn có sợ khi biết rằng Thiên Chuá nhờ bạn mà tỏ mình ra và bạn không bao giờ tách rời với Thiên Chuá không? Nếu bạn biết như thế, thì bạn sẽ không còn sợ hãi.

Bạn hãy nhớ rằng sự dữ không thể hiện hữu, còn sự thiện thì hiện diện khắp nơi. Sự dữ là sản phẩm của tâm trí bạn (cũng như tâm trí của tập thể), là một sai lầm mà bạn cần phải sửa sai. Tác phẩm Một Hành Trình Trong Phép Lạ cho thấy rằng chúng ta chỉ có hai loại cảm xúc: yêu thương và sợ hãi. Khi bạn sợ hãi thì bạn đang có vấn đề. Khi bạn khử trừ sợ hãi và thay thế bằng yêu thương, các vấn đề sẽ biến ngay khi bạn nhận ra sự hiện diện của chúng trong tư tưởng của bạn. Kinh Thánh nhắc chúng ta rằng “tình yêu trọn hảo thì không sợ hãi.” Nói cách khác, bạn không bao giờ có thể tách rời khỏi Thiên Chuá là bản ngã đích thực của bạn.

THAY THẾ SỢ HÃI

Sự sợ hãi làm thay đổi hoá chất trong cơ thể. Sự sợ hãi cũng làm thay đổi cả thế giới bên ngoài. Mẹ Têrêxa đã nói đến nỗi sợ hãi của bệnh nhân và người vô gia cư. Một lần kia, bạn tôi hỏi mẹ có cần gì không, mẹ trả lời: “Bốn giờ sáng, anh hãy thức dậy, đi đến phố Phoenix và tìm gặp một người cô độc đang sống ở đó. Anh hãy làm cho người đó tin là anh ta không cô đơn.”

Những người sống trong cảnh bần cùng và lạc lõng, nghiện ngập và tuyệt vọng thường tin là mình cô đơn. Họ hầu như mất hết tinh thần và cần gặp được tình yêu. Tình yêu là sức mạnh duy nhất  thường hằng trong vũ trụ. Đó là phương thế chính của việc chữa lành và hoà hợp. Bạn hãy thể hiện sức mạnh và quyền lực của tình yêu trong mọi sự, bấy giờ bạn và những người khác sẽ trở về nơi không còn sợ hãi. Bạn hãy liệt kê mọi vấn đề của bạn, và hãy xem có vấn đề nào mà không bắt nguồn từ sự sợ hãi vì tách rời với tinh thần chăng.

Lần sau, khi bạn cảm thấy sợ hãi, bạn hãy tự nhủ mình là một thành phần của tình yêu hoàn hảo và quan sát xem điều gì đang xảy ra trong nội tâm bạn là nơi trú ngụ của sợ hãi. Tình yêu sẽ thế chỗ của sợ hãi. Đó là bước đầu của việc đem tin kính vào nơi nghi nan. Bạn chỉ cần ý thức rằng bạn có khả năng đem tình yêu đến nơi chia tách với nguồn mạch của bạn.

Tôi thường dùng phương pháp đó khi có bất đồng gay gắt với vợ tôi. Trong khi tôi bảo vệ lập trường của mình và vợ tôi cũng nhất mực bảo vệ lập trường của bà, tôi cảm thấy tức tối. Bấy giờ, tôi đã dừng lại và ý thức rằng sợ cô đơn là nguyên nhân khiến tôi cảm thấy bị tổn thương.  Chẳng bao lâu tôi có thể xua tan sự sợ hãi và không còn cảm thấy bị tổn thương khi tôi đem tình yêu vào cuộc tranh luận đó. Tôi biết là tôi không bao giờ cô đơn, tình yêu sẽ xua tan sợ hãi và giải thoát tôi khỏi cảm xúc bị tổn thương. Thánh Phanxicô mời gọi chúng ta xua tan sự nghi nan bằng cách đem tin kính vào nơi nghi nan.

HIỂU BIẾT

Rabindranath Tagore, nhà thơ nổi tiếng của An độ, đã nói: “Đức tin là một chú chim hót líu lo khi bình minh vẫn còn trong đêm tối.” Đức  tin là một sự hiểu biết, trong đó luôn  có ánh sáng, ngay cả trong đêm tối. Không ai có thể ép buộc bạn tin hay yêu. Khi bạn cưỡng bức tình yêu, bạn tạo ra sự kháng cự, thậm chí oán hận. Đức tin bị ép buộc thường dẫn đến nghi nan và hoài nghi. Nếu bạn chưa sẵn sàng thì chẳng thế lực nào có thể làm cho bạn nhìn thấy ánh sáng giữa đêm tối đựợc. Trái lại, nếu bạn sẵn sàng, bạn sẽ biết đức tin, bất chấp mọi hậu quả. Tôi xin chia sẻ với bạn làm sao tôi đã có được sự hiểu biết đó và nó đã giải thoát tôi khỏi mọi nghi nan như thế nào.

Ngày kia, sau khi nghe kể lại một câu chuyện đầy ý nghĩa, tôi đã quyết định từ nay sẽ lấy đức tin thay thế mọi nghi nan. Trước đây tôi đã từng thắc mắc liệu Thiên Chuá có hiện hữu không và có giải pháp thiêng liêng cho các vấn đề không. Tôi không chỉ là đồ đệ của thuyết bất khả tri, mà còn là người thực dụng. Tôi nghĩ rằng người ta không thể ứng dụng điều không thể thấy, sờ mó hay ngửi. Suy nghĩ đó dường như xoá sạch mọi thứ nơi tôi. Tuy nhiên, nếu vũ trụ hoạt động một cách tuyệt hảo mà không cần một trí thông mình nào thì quả là phi lý.

Bạn hãy hình dung một bãi rác. Nào là giây điện, rác kim loại, vỏ xe, nệm, các bộ phận điện, đinh ốc và bù long, kính,  bàn ngồi vệ sinh và mọi thứ bạn có thể tưởng tượng ra được. Thình lình, một luồng gió mạnh thổi qua bãi rác và cuốn hút các loại rác lên trời, làm cho chúng va chạm với nhau, bay lượn và vỡ tung. Ngay khi luồng gió lắng dịu, thì một chiếc phản lực cơ khổng lồ 747 xuất hiện và đang chuẩn bị cất cánh. Nhờ may mắn và trùng hợp kỳ lạ, hàng triệu mảnh vụn đã được nối kết với nhau làm thành một chiếc phản lực cơ hoàn hảo? Những vật vô giá trị trở thành một sự hoàn hảo một cách ngẫu nhiên?

Trước đây tôi đã từng có một cách giải thích về vũ trụ, trong đó hàng tỷ tỷ thành phần tương tác với nhau một cách cân đối, hoàn toàn ngẫu nhiên, tình cờ và may mắn. Tôi đã thay đổi quan điểm và tin rằng trong vũ trụ có một năng lực sáng tạo đang hoạt động.

Năng lực sáng tạo là một hệ thống thông minh mà tất cả chúng ta là thành phần. Có một sức mạnh, một quyền lực và một ý thức đã tạo dựng và gìn giữ hệ thống này. Sức mạnh đó hiện diện khắp nơi và cũng hiện diện trong bạn. Thân xác bạn là một thành phần của hệ thống này và cũng là một hệ thống bao gồm những cấu tố liên kết hoàn chỉnh với nhau. Khi người ta xem một điều gì đó là ngẫu nhiên hay không thể hiểu được, ấy là do sự kiêu ngạo và  ngây ngô. Chắc gì ngọn gió đã ngẫu nhiên thổi hàng triệu vật phế liệu lại với nhau mà làm nên chiếc phản lực cơ khổng lồ 747. Chắc gì có một quyền lực đã ngẫu nhiên sắp đặt hệ thống thông minh mà hết thảy chúng ta là một thành phần trong hàng nghìn tỷ thành phần đang chuyển động. Câu chuyện đơn giản ấy đã khiến tôi ý thức rằng có một thượng trí được gọi dưới nhiều tên khác nhau, nhưng thiết yếu gồm có sự hợp tác, hài hoà, bình an, tuôn chảy hay tình yêu là nguồn mạch của mọi sự.

Khi chúng ta ở trong năng lực hợp tác, hài hoà, bình an và tuôn chảy, chúng ta được nối kết với sức mạnh mà tôi gọi là tinh thần hay Thiên Chuá. Tôi biết là tôi có thể biến đời sống tôi thành sức mạnh đó bất cứ khi nào. Khi tôi nhận thấy tư tưởng mình tách lìa khỏi năng lực sáng tạo duy nhất đó, tôi liền lấy tình yêu thay thế cho ảo tưởng là có vấn đề. Nói cách khác, khi tôi đem tin kính vào nơi nghi nan, thì sự nghi nan sẽ biến mất. Người Ai Nhĩ Lan có câu châm ngôn cổ kính: “Khi sự sợ hãi gõ cửa, nếu ta lấy đức tin mà trả lời, thì sự sợ hãi sẽ biến mất.”

LẤY ĐỨC TIN MÀ LÀM  CHỦ SỐ PHẬN CỦA BẠN

Lấy đức tin để vô hiệu hoá sự nghi nan là  một nhiệm vụ trong cuộc sống của bạn. Bạn không chỉ khử trừ sợ hãi, nhưng còn phải tiếp cận sức mạnh sáng tạo mỗi khi bạn muốn được trợ giúp. Khi bạn tiếp xúc với sức mạnh thiêng liêng ấy, bạn hãy ý thức rằng có một điều gì đó không thể bị huỷ diệt, không bao giờ được sinh ra và cũng chẳng bao giờ chết, nhưng luôn luôn hiện diện ở đây, không hình dáng, không giới hạn.  Bạn không cần sự nhất trí hay tán thành của người khác về niềm tin đó. Không cần tranh luận về sự hiện diện của nguồn mạch thiêng liêng của mọi sự sống. Bạn đừng bao giờ tranh cãi. Nguồn mạch đó là của bạn. Theo nhà tâm lý Carl Jung, thì mối tương giao với Đấng Vô Biên là vấn đề quan trọng nhất trong cuộc đời con người. Bạn hãy dành thời giờ để khám phá mối tương giao của bạn với Đấng Vô Biên.

Đức tin của tôi là chuyện rất riêng tư. Mọi nỗ lực gây ảnh hưởng trên người khác hay tranh luận về công trạng của đức tin không chỉ làm mất thời giờ, mà còn khiến tôi rời xa tinh thần và đưa tôi vào thế giới của cái tôi. Khi tôi muốn bảo vệ đức tin hay tranh luận về đức tin, tôi luôn cho mình là đúng. Tôi liền bị cuốn hút vào sự nghi nan và không thể tiếp xúc với ý thức thiêng liêng. Câu Kinh Thánh sau đây đã từng nhắc nhở tôi: “Tinh thần mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng ích gì.” Yên lặng và kín đáo ở lại trong năng lực thiêng liêng của sự hiểu biết,

  1. tôi đem năng lực tình yêu và bình an vào trong hoàn cảnh hiện thời,
  2. tôi có được một gỉai pháp thiêng liêng;

và đem tin kính vào nơi trước đây bị thống trị bởi sự nghi nan.

Do vậy, đức tin là một con đường nội tâm và ý thức làm chủ cuộc sống mình vào một thời điểm nhất định. Khi bạn tiếp xúc với Thiên Chúa một cách ý thức và trực tiếp, bạn có thể ứng dụng sự hiểu biết ấy mọi nơi mọi lúc. Sự hiểu biết ấy không phải là niềm tin mà bạn hấp thụ từ khi mới sinh, nhưng bạn có được sự hiểu biết ấy là nhờ sự ràng buộc của bạn với năng lực thiêng liêng.  Khi bạn đứng trước một vấn đề, bạn hãy trở về với đức tin, ngay cả khi vấn đề trở nên nghiêm trọng và không thể chịu đựng nỗi. Vua Đavit đã nói: “Dầu bước đi trong thung lũng tối tăm của sự chết, tôi vẫn không lo sợ, vì Chúa ở với tôi.”

Thật khủng khiếp khi “bước đi trong thung lũng tối tăm của sự chết,”nhưng sứ điệp gởi đến cho bạn thật rõ ràng. Bạn hãy tin và bấy giờ bạn không còn sợ hãi. Khi bạn đem tin kính vào nơi nghi nan, bạn sẽ làm cho trường lực của bạn chuyển động nhanh nhạy hơn.

Nói thật với bạn là tôi không bao giờ cô đơn. Tôi biết Thiên Chuá hằng hướng dẫn tôi. Điều duy nhất mà tôi có thể làm để xua tan sự đau đớn là ý thức rằng Thiên Chúa hằng ở bên tôi. Sau đây là một vài gợi ý để giúp bạn đem tin kính vào nơi nghi nan hay khi bạn phải chiến đấu.

THỰC HÀNH

Suy niệm

Qua việc suy niệm, người ta có thể tiếp xúc trực tiếp với Thiên Chuá và loại trừ sự nghi nan.

Suy niệm là thói quen tuyệt vời để giảm thiểu sự căng thẳng, xoa dịu sự mỏi mệt, nuôi dưỡng linh hồn và cho ta cảm giác hạnh phúc. Tuy nhiên, giá trị đầu tiên của suy niệm là cho bạn tiếp xúc với Thiên Chuá một cách ý thức và giúp bạn xác tín rằng Thiên Chuá luôn hiện diện và sẵn sàng với bạn mọi nơi mọi lúc. Khi bạn biết tiếp xúc với Thiên Chuá một cách ý thức, bạn sẽ không còn nghi nan và tâm hồn bạn được giải thoát bạn khỏi những nỗi nghi nan mà những người khác có thể gây ra cho  bạn. Đó là đức tin.

Tôi thấy cần phải nhắc lại rằng việc suy niệm có vai trò củng cố đức tin. Thiên Chuá là Đấng bất khả phân, là Quyền Năng duy nhất, là Nguồn Mạch sự sống. Thiên Chuá hiện diện bất cứ nơi nào có mặt của bạn, Người hiện diện mọi nơi, Người toàn năng và toàn tri. Không những thế, Thiên Chuá luôn luôn hiện diện ở đây và lúc này. Giống như con số 0 trong toán học, cái bây giờ thể phân chia.  Trong kinh nghiệm sống của bạn, thì cái duy nhất bất khả phân là sự thinh lặng. Không bao giờ có thể chia đôi sự thinh lặng, bởi vì sự thinh lặng chỉ có một mà thôi, sự thinh lặng thì bất khả phân. Tập suy niệm và thinh lặng mỗi ngày giúp bạn biết Thiên Chuá,  chứ không chỉ biết về Thiên Chuá. Nhờ sự thinh lặng nội tâm, kinh nghiệm trực tiếp ấy mang lại cho bạn một đức tin không hề lay chuyển vì bất cứ sự nghi nan hay sợ hãi nào, kể cả những nghi nan và sợ hãi của chính bạn. Giá trị của suy niệm là tạo cho bạn có một đức tin vững mạnh, có thể xua tan mọi nghi nan. Những người giác ngộ nổi danh trên thế giới là những người bạn thân thiết của Thiên Chúa, mà tiếng nói của Thiên Chúa là tiếng nói của sự thinh lặng. Có nhiều giáo trình, sách vở và băng đĩa nổi tiếng dạy phương pháp suy niệm. Tôi cũng đã trình bày về suy niệm và đưa ra những đề nghị cụ thể về suy niệm trong những tác phẩm trước đây, chẳng hạn như trong Hãy Biểu Lộ Số Phận Của Bạn, Bản Ngã Linh Thánh Của Bạn, Điều Thật Kỳ diệu Bạn Sẽ Thấy Nếu Bạn Tin.

Hãy tin điều bạn chưa biết

Qua từ “chưa biết,” tôi muốn ám chỉ những điều mà giác quan chúng ta không thể tiếp thu được. Là con người có xương có thịt, chúng ta thường dựa vào giác quan để xác định điều gì là thật. Điều gì chúng ta không thấy, không sờ nắn, không nếm, không đụng chạm hay ngửi thấy, chúng ta thường tin là không hiện hữu. Đức tin đòi buộc chúng ta phải vượt trên giác quan thì mới có thể đặt niềm tin vào ý thức thiêng liêng, bởi vì ý thức thiêng liêng là một làn sóng cực nhanh vượt trên khả năng tiếp thu của giác quan.

Khi tôi bắt đầu viết sách, tôi vững tin là tôi sẽ xuất bản được. Niềm tin của tôi luôn luôn nguyên vẹn và vững chắc, ngay cả khi tôi nghe người khác nói rằng những tác giả mới bước vào nghề khó tìm được một nhà xuất bản danh tiếng để xuất bản. Đó là kinh nghiệm của những kẻ đã từng gặp thất bại trong việc xuất bản và các chuyên viên từng trải trong nghành in ấn. Khi còn là một giáo sư trẻ tại trường đại học, tôi đã tuyên bố với sinh viên là tôi sẽ xuất bản sách, kể cả nơi xuất bản. Tôi đã thực hiện được điều đó là nhờ tin vào điều chưa biết và nhờ niềm khao khát cháy bỏng muốn biến một lý tưởng thành hiện thực. Tin vào điều chưa biết cũng giống như cục nam châm vô hình và cực mạnh thu hút bất cứ điều gì nó khao khát và trông đợi. Đó là tin vào điều chưa biết.

Bạn hãy tin, bất chấp giác quan của bạn có nhận thấy chứng cớ hiển nhiên hay không. Dù hoàn cảnh khó khăn và đầy chông gai, nhưng nếu bạn biết ước mơ thì con đường sẽ mở rộng, vũ trụ sẽ đáp ứng và cùng hoạt động để làm cho lý tưởng của bạn trở thành hiện thực. Vũ trụ luôn luôn hỗ trợ tôi.

Khi còn bé, tôi đã tập diễn nói chuyện trên truyền hình. Lên đại học, khi nghe các giáo sư nhai đi nhai lại cùng một đề tài chán ngấy, tôi hình dung mình là một con người linh hoạt, vui nhộn, vui tươi và cung cấp nhiều thông tin cho cử toạ khắp thế giới. Tôi chỉ mơ ước được làm việc trong ngành Hải quân Mỹ và tại đại học nơi quê nhà từng ấp ủ tôi. Nếu bạn đặt niềm tin vào ước mơ và kiên trì theo đuổi ước mơ đó, bạn sẽ dập tắt được ngọn lửa hoài nghi âm ỉ, nhờ tin vào lý tưởng của bạn. Bạn hãy tin là bạn sẽ biết điều chưa biết, và điều chưa biết thì còn tuyệt vời hơn điều bạn đã biết. Đức Phật đã nói: “Nếu bạn đi đúng hướng, thì bạn cứ thế mà tiến bước.”

Bạn kết hiệp với Thiên Chuá nhờ đời sống cầu nguyện riêng

Như tôi đã nói, cầu nguyện không nhằm gây áp lực với Thiên Chuá để có được những đặc ân, nhưng giúp cho bạn biết rằng bạn luôn luôn nối kết với Thiên Chuá. Soren Kierkegaard, một nhà thần học nổi tiếng của Đan Mạch, đã nhấn mạnh: “Cầu nguyện không làm Thiên Chuá thay đổi, nhưng biến đổi người cầu nguyện.” Sự biến đổi đó chính là việc người cầu nguyện lấy đức tin xua tan mọi nghi nan.

Tôi cầu nguyện là để chăm chú lắng nghe Đấng đang hiện diện âm thầm trong cõi lòng và hiệp thông với tần số của tinh thần là nguồn mạch của đời sống tôi. Tôi không bao giờ xin Thiên Chuá ban đặc ân cho tôi, đáp ứng nguyện vọng của tôi, giải quyết vấn đề của tôi, chữa bệnh cho bạn bè tôi. Tôi không bao giờ gây áp lực với Thiên Chuá. Sở dĩ cuộc sống chúng ta gặp nhiều vấn đề phiền toái, ấy là vì chúng ta nghĩ rằng thế giới vật chất này có giá trị hơn thế giới tinh thần. Khi cầu nguyện, tôi tự nhủ là phải đặt thế giới tinh thần làm trung tâm của đời sống hiện tại, đặt niềm tin vào thế giới tinh thần và buông bỏ những đòi hỏi của cái tôi nhỏ nhen của mình. Bấy giờ, tôi sống trong một thế giới bình an và thư thái. Tôi rất tâm đắc với lời khuyên của thánh Phanxicô: “Khi cầu nguyện với Thiên Chuá, chúng ta đừng xin xỏ điều gì.”

Cầu nguyện là tái liên kết với ý thức tinh thần và với Thiên Chuá. Cầu nguyện lúc “thuận” cũng như lúc “nghịch,” nghĩa là bất cứ khi nào bạn cảm thấy có vấn đề, hay khi bạn cảm thấy hạnh phúc và bình an. Cầu nguyện giúp bạn kết hiệp với những rung động mạnh mẽ của tinh thần, mà cốt lõi của tinh thần là tình yêu, bình an, lòng nhân ái và tha thứ. Nhà văn Kahlil Gibran cũng nói: “Bạn  cầu nguyện khi đau buồn và túng thiếu, và bạn hãy cầu nguyện khi lòng trí tràn ngập niềm vui vì cuộc sống thịnh vượng.  Khi bạn kết hiệp với Thiên Chuá trong mọi hoàn cảnh, đức tin của bạn sẽ trở nên bất hoại và có thể đương đầu với mọi nghi nan trong cuộc sống.

Hãy khẳng định niềm tin, chứ đừng khẳng định sự nghi nan

Tin là cậy dựa hoàn toàn vào quyền năng và sự thiện hảo của tinh thần. Bạn luôn luôn kết nối với sự thiện hảo đó. Khi bạn khẳng định rằng mọi chuyện không trôi chảy, rắc rối càng ngày càng chồng chất, các vấn đề không thể giải quyết được, Thiên Chuá không nghe lời bạn cầu xin hay bạn không thể đương đầu với nhiều cuộc chiến, bấy giờ bạn khẳng định sự nghi nan hơn là niềm tin. Nếu bạn có khả năng nhận biết và khẳng định đức tin, bạn có thể biểu lộ đức tin trong cuộc sống.

Khi rao giảng, Chúa Giêsu đã nói: “Thầy ban bình an của Thầy cho anh em.” Đó là một khẳng định của đức tin. Người không có ý nói rằng bình an là điều khó chiếm được và bạn phải chiến đấu mới có được bình an. Chúa Giêsu đã đem bình an đến cho mọi người bằng cách khẳng định điều đó. Khi Chúa Giêsu chữa bệnh, Người không có ý nói rằng chúng ta điều trị bệnh phong cùi chưa hiệu quả và nếu bạn nghe lời Người, bạn sẽ may mắn được sống thêm 5 năm nữa.  Trái lại, Người khẳng định: “Anh được lành,” đó là một khẳng định của đức tin trên bình diện thiêng liêng, và người phong cùi được chữa lành.

Bạn phải tập khẳng định đức tin khi đương đầu với nghi nan. Bạn hãy tâm niệm rằng mọi chuyện sẽ được cải thiện và ổn định. Bạn hãy nghiền ngẫm, viết lên giấy và tuyên bố những lời tích cực như thế. Tôi muốn làm ăn phát đạt; tôi sẽ làm mọi cách để giải quyết vấn đề này; tôi biết tôi không cô đơn; tôi tin là mọi chuyện đều xuôi chảy; tôi không phí năng lực vào điều ‘xấu’ hay các vấn đề, bởi vì mọi sự đều nằm trong trật tự của Thiên Chuá; tôi tìm thánh ý Chuá và Người sẽ chỉ dạy tôi điều thích hợp. Đó là những khẳng định của đức tin. Nếu bạn tập khẳng định như thế, cuối cùng bạn sẽ tìm thấy giải pháp thiêng cho mọi vấn đề.

Đừng để tư tưởng luẩn quẩn với các vấn đề của cuộc sống

Bạn đừng để cho bất cứ vấn đề gì lưu lại trong tâm trí hơn vài phút. Khi bạn cảm thấy mệt mỏi vì một vấn đề, bạn hãy suy xét những chọn lựa khác nhau, rồi chạy đến với Thiên Chuá và phó thác vấn đề đó cho năng lực tinh thần.

Khi bạn phó thác cho Thiên Chúa, bạn tạo ra một trường lực có khả năng tiếp nhận một giải pháp. Khi tâm trí bạn cứ suy nghĩ về vấn đề đó, bạn hãy suy xét, rồi buông bỏ. Chính lúc đó, giải pháp sẽ xuất hiện. Khi bạn tiếp nhận giải pháp, không những bạn biết cách thực hiện, mà bạn còn ý thức là bạn có khả năng thực hiện. Bấy giờ, bạn ngỡ ngàng tự hỏi tại sao trước đây bạn đã không thấy điều đó, mà nay thì lại khá sáng tỏ.

Nếu bạn đừng để cho tâm trí bị tắc nghẽn vì những suy nghĩ về vấn đề của bạn, bấy giờ vấn đề trở nên sáng tỏ. Vấn đề sẽ sáng tỏ, khi bạn quyết tâm tự nhủ: “Tôi không biết phải làm gì, nhưng tôi quyết tâm buông bỏ và phó thác hoàn toàn cho Đấng toàn năng và toàn tri, chính Người nắm giữ mọi giải pháp trong tay.”

Đọc tới đây, bạn có thể nghĩ rằng nói thì dễ hơn làm, bởi vì bạn tin rằng bạn không thể không suy nghĩ về những vấn đề gây phiền nhiễu cho bạn. Tôi tưởng rằng chính lối suy nghĩ ấy đã làm cho bạn luôn luôn khó chịu vì những vấn đề trong đời sống. Bạn có thể  tập luyện một cách tâm niệm mới, bằng cách trao phó cho Thiên Chuá mọi vấn đề đang lởn vởn trong tâm trí bạn. Một  nguyên nhân khác khiến bạn cảm thấy khó thực hiện, ấy là bạn tin rằng bạn và cái tôi nhỏ nhoi của bạn có khả năng giải quyết vấn đề, và giao phó vấn đề cho Thiên Chuá là trốn trách nhiệm. Tuy nhiên, bạn nên nhớ rằng “bạn suy nghĩ thế nào, thì bạn sẽ hành động như vậy.” Khi tâm trí bạn tập trung vào các vấn đề, thì bạn sẽ hành động như các vấn đề đó, và gây ra nhiều vấn đề hơn. Khi bạn không dừng lại ở vấn đề và giao phó cho Thiên Chuá, bạn để cho tình yêu và bình an của Thiên Chuá tuôn chảy vào lòng bạn. Ý thức như thế, bạn sẽ tìm thấy giải pháp cho các vấn đề đang dày vò tâm trí bạn.

Như bạn đã biết, vấn đề chỉ là ảo tưởng. Khi bạn quả quyết rằng bạn không đủ khả năng giải quyết mọi vấn đề, bạn chưa đủ lớn, chưa đủ hiểu biết, thậm chí không thể thấu hiểu những năng lực vĩ đại đang hoạt động trong vũ trụ mà bạn không kiểm soát được, bấy giờ bạn có thể cộng tác với nguồn mạch của vũ trụ mà bạn luôn luôn kết nối.

Hãy lấy sức mạnh của cầu nguyện mà đem niềm tin đến cho những người đang đau khổ vì nghi nan

Dưới đây là kinh nghiệm của  một nhóm cầu nguyện tập thể, họ đã lấy sức mạnh của lời cầu nguyện để chữa trị cho một phụ nữ bị bệnh ung thư tử cung giai đoạn cuối. Tôi xin trích lại nguyên văn. Tôi chỉ thay đổi danh tánh để bảo vệ đời tư của những người liên hệ. 

Tôi tham dự buổi họp Hướng Đạo hằng tuần với đứa con trai tôi. Trong khi các phụ huynh tham quan thắng cảnh, cô Sara chia sẻ với chúng tôi là cô bị ung thư tử cung và các bác sĩ quả quyết là cô chỉ còn sống trên dưới một năm. Bệnh trạng cô ở giai đoạn 4, tức là rất trầm trọng. Các bác sĩ cho cô hoá trị để cô sống thêm vài tháng nữa. Bấy giờ là tháng 3 năm 1999. Cô khóc nức nở và tôi cố an ủi cô. Tôi chưa bao giờ biết cô Sara ngoài những lần gặp gỡ trong buổi họp Hướng Đạo. Chiều hôm đó, chúng tôi giao kết với nhau và tôi nguyện phải làm một điều gì đó cho cô.

Sau nhiều ngày ngẫm nghĩ, tôi quyết định tặng cho cô món quà tuyệt hảo là “Chữa bệnh bằng đôi tay.” Tôi chỉ nghe nói về phương pháp chữa bệnh này chứ chưa bao giờ thực hiện và không biết phải bắt đầu từ đâu.  Tôi liên lạc với chồng cô và xin ông ta cho tôi danh sách những người thân trong gia đình, họ hàng và bạn hữu.  Tôi tổ chức một buổi họp gồm một vài người bạn thân thiết, gia đình và ba mục sư trong Hội Thánh chúng tôi. Sau vài lần trao đổi, chúng tôi ấn định thời giờ, nơi chốn, v.v… Nói tóm lại, chúng tôi đã gởi thư mời bạn bè, gia đình và họ hàng… đến đầy nhà thờ, và mọi người rất thoải mái trong việc tĩnh tâm, ăn uống, cầu nguyện, ca hát, giao tiếp với bạn bè, v.v… Buổi tối hôm ấy thật tuyệt vời! Sức mạnh của cầu nguyện quả hiển nhiên!

Sau buổi tối hôm đó, tôi về nhà và cảm thấy rất hài lòng về những việc đã làm, song tôi không hy vọng gì nhiều. Căn bệnh ung thư của cô ở giai đoạn cuối. Tôi đi thăm một vài bác sĩ đang điều trị cho cô (họ là bạn bè của gia đình chúng tôi), họ giải thích cặn kẽ với tôi rằng đa số bệnh nhân chết vì loại ung thư khủng khiếp này và họ đang làm hết sức để cô bớt đau đớn khi điều trị.

Kể từ đó, tôi không nói chuyện nhiều với cô nữa. Cô gởi thiệp mừng lễ Giáng Sinh cho tôi và tôi có cảm tưởng như cô đang nói lời từ biệt mọi người. Tháng Giêng năm 2000, sau khi cô kết thúc đợt hóa trị, các bác sĩ không thể làm gì hơn là tiến hành một phẫu thuật để thăm dò và xác định tình trạng buồng trứng. Họ muốn xem ung thư đã di căn đến đâu và làm sao ngăn chận sự phát triển của nó. Họ lấy làm ngạc nhiên vì bệnh ung thư hoàn toàn biến mất!! Không còn thấy triệu chứng ung thư nữa… Quả là phép lạ! Tôi vẫn còn choáng ngợp! Việc cầu nguyện có uy lực không? Ông nghĩ thế nào?

Bạn biết tôi nghĩ thế nào rồi. Cầu nguyện là năng lực. Năng lực tinh thần. Đối với Thiên Chuá thì mọi sự đều có  thể. Có điều gì không thể chăng?

Bạn hãy giữ đức tin như vấn đề riêng giữa bạn với Thiên Chúa

Khi bạn muốn phổ biến quan điểm của mình và thuyết phục người khác suy nghĩ như bạn, bạn để cho cái tôi đi vào lãnh vực đức tin, là lãnh vực riêng của tinh thần. Khi bạn muốn thuyết phục người khác chấp nhận lối suy nghĩ của bạn, bấy giờ bạn cản trở tiến trình biểu lộ của đức tin. Tại sao thế? Bởi vì bạn cần phải giải thích và bệnh vực quan điểm của mình. Bạn phải chứng tỏ mình đúng và người khác thì sai. Bạn hạ thấp năng lực xuống  tần số của xung đột, tức giận, oán hờn, sợ hãi và những cảm xúc đại loại như thế. Tất cả những cảm xúc đó sẽ xuất hiện, khi bạn để cho cái tôi đi vào lãnh vực đức tin. “Tinh thần mới làm cho sống, còn xác thịt thì chẳng ích gì.” Bạn hãy ở lại trong tinh thần và để xác thịt ở bên ngoài.

Khi bạn nói chuyện thân mật với Thiên Chuá và trao ban tình yêu cho những ai có quan điểm khác, bấy giờ bạn đang ở trong đức tin. Năng lực cầu nguyện mới làm cho bạn được bình an, đồng thời cho phép bạn chiếu toả sự bình an ra ngoài. Hãy giữ đức tin giữa bạn với Thiên Chuá, rồi bạn sẽ dễ khử trừ sự nghi nan và không còn  tranh cãi hay thuyết phục người khác đi theo lối sống của bạn.

Hãy tôn vinh Thiên Chúa

Khi người ta khen những tác phẩm và băng đĩa của tôi hay ca ngợi những thành công của tôi, tôi luôn luôn cám ơn cách nhã nhặn. Tuy nhiên, tự thâm tâm tôi biết rằng chính Thiên Chuá quyền năng viết ra mọi cuốn sách, làm ra mọi băng đĩa, sáng tác mọi bức tranh, thiết kế mọi công trình kiến trúc và xây dựng mọi cây cầu. Mọi sự đều do thượng trí phổ quát, mà tôi gọi là Thiên Chuá. Tôi chỉ là dụng cụ của ý thức cao cả mà tôi luôn luôn gắn kết. Khi tôi buông bỏ lòng tự phụ và không dành lấy vinh dự cho mình, thì mọi sự hầu như trôi chảy. Tôi nắm bắt được điều không thể thấy hay chạm tới, và ngòi bút trong tay tôi cứ di chuyển để viết ra những hàng chữ. Khi tôi diễn thuyết, dây âm thanh trong thanh quản rung lên và lời lẽ cứ tuôn ra mà tôi không biết từ đâu đến. Tôi thường nói với vợ tôi rằng thời gian chẳng có nghĩa lý gì, một khi tôi được khiển hứng (inspired – “in-spirit”: ở trong thần khí) để viết hay nói. Thời giờ trôi qua như thể không có thời gian. Mọi việc trôi chảy và tôi biết mình đã đánh thức những sức mạnh tiềm tàng. Đối với Thiên Chuá thì không có thời gian.

Quyền năng vô hình đang làm cho máu lưu thông trong cơ thể và làm cho quả tim đập nhịp nhàng như thế nào, thì chính quyền năng ấy cũng nhờ ngòi bút của tôi mà viết nên lời. Tôi kính sợ và tin tưởng quyền năng ấy. Tôi biết quyền năng ấy không bao giờ rời xa tôi. Tôi không bao giờ có thể tách rời khỏi quyền năng ấy. Tôi và quyền năng ấy đều vĩnh cửu, và cái tôi nhỏ bé thì không đáng hưởng niềm vinh dự vì những thành tựu của tôi. Chính đức tin là điều mà tôi đem đến vào nơi nghi nan do cái tôi gây ra. Khi tôi làm như thế, thời gian dừng lại và mọi sự đều tuyệt vời.

Hãy hít thở Thiên Chúa

Kiểu nói như thế có vẻ xa lạ. Tuy nhiên, hơi thở của bạn là một dụng cụ phi thường để củng cố đức tin khi đối diện với nghi nan. Khi gặp điều nghi nan trong đời, bạn hãy ý thức hơi thở của mình. Hãy hít thật sâu vài phút, rồi nín thở. Sau đó, bạn hãy thở ra và nhận thức việc hít thở quả là điều kỳ diệu. Ý thức hơi thở đưa tôi về với đức tin: Quyền năng vô hình luôn luôn hoạt động để giữ cho sự sống lưu chuyển. Hít vào và thở ra đều đặn như nhịp đập của trái tim, như nhịp sóng ngoài đại dương  không ngừng chuyển động đều đặn. Bạn hãy tập ý thức hơi thở như chiếc cầu nối kết với Thiên Chuá, nhất là khi bạn cảm thấy xa cách Thiên Chúa vì một vấn đề, tức là ảo tưởng mà bạn cảm nghiệm trong tâm trí. Ý thức hơi thở làm cho bạn bình tĩnh, dịu dàng và bổ dưỡng. Theo tôi, đó là một cách thức hữu hiệu để gieo tin kính vào nơi nghi nan hay có vấn đề.

Bạn hãy nhớ rằng thuốc trấn an là một điển hình về hoạt động của đức tin

Khi bạn uống một viên thuốc trấn an làm bằng đường, nếu bạn tin rằng viên thuốc đó là thần dược có thể chữa lành khối u và chứng viêm khớp, hạ huyết áp hay gây hứng thú tính dục, thì chính lòng tin làm cho cơ thể hài hòa chứ không phải viên thuốc trấn an. Cũng vậy, khi bạn tin vào năng lực của Thiên Chuá, thì chính niềm tin ấy có thể và sẽ đem bình an và hài hoà đến cho bạn, nếu bạn hết lòng tin tưởng.

Tóm lại, câu thơ sau đây của William Blake có thể minh họa cho lời kinh đầy uy lực của thánh Phanxicô: “Nếu mặt trời và mặt trăng nghi ngờ, chúng sẽ tắt lịm ngay.”

Như mọi loài thụ tạo của Thiên Chuá, mặt trời và mặt trăng nhờ tin mà tồn tại và chiếu sáng, thì nhờ đức tin mà chúng ta không bao giờ phải tàn lụi.


Chương 5

ĐEM TRÔNG CẬY VÀO NƠI THẤT VỌNG

Bạn  hãy so sánh vẻ đẹp thanh tao và đơn sơ của nụ hồng mới chớm nở với những căng thẳng và náo động trong cuộc sống của bạn. Nụ hồng có một đặc điểm mà bạn không có: đó là hoàn toàn hài lòng về mình. Nó không bị lập trình từ thời thơ ấu  như bạn, nên không bao giờ bất mãn về mình. Bởi thế, nụ hồng không hề bị thôi thúc phải trở nên một cái gì khác với nó. Đó là lý do tại sao nụ hồng toát lên vẻ đẹp chất phác và không bao giờ có xung đột nội tâm. Giữa loài người chỉ có trẻ thơ và nhà giao nhiệm mới có đặc điểm đó. (Anthony de Mello, Con Đường Yêu Thương)

Hy vọng không gì khác hơn là một cảm nghĩ lạc quan: Mọi chuyện rồi sẽ khá hơn, cuộc đời đâu ảm đạm luôn mãi, có một cách vượt lên trên hoàn cảnh hiện tại.  Hy vọng là nhận thức từ trong thâm tâm rằng: Bạn đâu đau khổ mãi mãi và bằng cách này hay bằng cách khác, bạn sẽ gặp được một phương dược chữa lành sự thất vọng, nếu lòng bạn luôn kiên trì hy vọng. Đọc lại lời kinh của thánh Phanxicô, chúng ta xin Thiên Chuá ban niềm hy vọng cho chúng ta để chúng ta đem hy vọng đến cho người thất vọng. Nếu chúng ta có một cái nhìn tràn trề hy vọng, chúng ta sẽ không còn chăm chú đến sự thất vọng và đau khổ nữa.

Thất vọng là một thái độ nội tâm. Đó là một cái nhìn thiếu hy vọng về cuộc sống. Thất vọng không có mặt trên thế giới. Bạn không thể mang thất vọng về nhà, chỉ có những tư tưởng làm cho người ta thất vọng. Đây là điểm cốt yếu mà chúng ta cần phải hiểu. Trong cuộc sống của bạn và cuộc sống những người khác có thể xảy ra những tình huống bất ưng, song tự bản chất chúng chỉ là những tình huống “thô,” những dữ kiện của một cuộc sống. Thất vọng tự nó là một tiến trình phán đoán và nhận định của tâm trí về một hoàn cảnh được xem là khủng khiếp.  Chỉ khi nào bạn ý thức rằng thất vọng là một thái độ nội tâm, bấy giờ bạn bắt đầu đem hy vọng đến cho ảo tưởng thất vọng và làm cho ảo tưởng đó tiêu tan.

Hy vọng và thất vọng không thể hiện hữu cùng một lúc, chúng loại trừ lẫn nhau. Thường thì thất vọng lọai trừ hy vọng. Qua lời kinh của thánh Phanxicô, chúng ta xin Chúa giúp chúng ta đảo ngược tiến trình ấy và lấy cái nhìn hy vọng mà xua trừ thất vọng. Như vậy, niềm hy vọng không gì khác hơn là một suy tưởng hay một cái nhìn.

TỪ BI QUAN ĐẾN LẠC QUAN

Ở đây, bạn nên nhớ rằng năng lực có một tần số. Khi thất vọng, năng lực của bạn suy giảm và bạn cảm thấy chán nản và bực bội. “Hôm nay, tôi cảm thấy chán.” Cảm xúc thất vọng ấy cho thấy năng lực của bạn có tần số thấp kém. Bao lâu bạn còn ở trong tần số ấy, thì năng lực của bạn vẫn còn bị hạn chế. Những ai sống trong tình trạng thất vọng liên miên, thì không bao giờ phát triển và cảm nghiệm những tần số của năng lực tinh thần.  Khi họ xử lý mọi tình huống với một quan điểm bi quan, họ tiếp sức cho năng lực thấp kém. Khi bạn quan niệm “đời là bể khổ,” thì bạn phải trải nghiệm cuộc đời là như thế. Định luật chính yếu và có giá trị mãi mãi: “Bạn nghĩ thế nào, thì bạn sẽ như vậy.”

Đọc lại chương 1, bạn sẽ thấy rằng năng lực tinh thần bao gồm sự phấn khởi, quan niệm tràn trề hy vọng và lạc quan về cuộc sống. Với năng lực lạc quan, bạn dường như muốn nói : “Hôm  nay tôi thật hạnh phúc.” Hạnh phúc đồng nghĩa với hân hoan. Vì thế, nếu bạn sống trong cảm xúc vui sướng, thì ảo tưởng bi quan sẽ trở nên vô hiệu. Mặt khác, chúng ta biết chính Thiên Chuá dựng nên mọi sự và mọi sự đều tốt đẹp. Bởi thế, sự thất vọng hay bi quan chỉ là sản phẩm của tâm trí bạn, vì bạn tin rằng bạn tách rời với Thiên Chuá. Về nhiều phương diện, chúng ta thất vọng vì chúng ta xa cách Thiên Chuá. Đem lạc quan vào nơi bi quan tức là đem năng lực Thiên Chuá vào cảnh tượng bi quan, dĩ nhiên là chỉ ở trong tâm trí chúng ta thôi.

Để khử trừ mọi thất vọng, trước hết bạn hãy nâng cao năng lực của bạn, bằng cách tiếp xúc và phó thác cho Thiên Chuá, nhờ đó bạn xua tan những hình ảnh tiêu cực và bi quan. Thứ đến, bạn hãy chiếu toả năng lực “hân hoan” cho những người lầm tưởng là mình đang cô đơn trong một cuộc đời tuyệt vọng. Năng lực tinh thần cùng với niềm hy vọng và hân hoan của bạn sẽ biến đổi người khác. Thật vậy, bạn trở thành hải đăng của niềm hy vọng, khi bạn giúp người khác không còn gắn bó với sự ảm đạm và thất vọng. Khi bạn nâng cao năng lực tinh thần, bạn làm cho những người chung quanh không còn lầm tưởng là họ tách rời với sự thiện hảo, nghĩa là với Thiên Chuá.

BẺ GÃY XIỀNG XÍCH CỦA SỰ SỰ ẢM ĐẢM VÀ THẤT VỌNG

Quả vô lý khi nói rằng người ta thích sống trong u buồn, nhưng thực tế là như vậy. Đó là hậu quả của tiến trình điều kiện hoá cảm xúc: Người ta nghĩ rằng cuộc đời thì bất công, một ai đó phải chịu trách nhiệm về sự đau buồn của tôi và không ai thông cảm với tôi. Cảm nghĩ đó hẳn sẽ làm cho người ta cảm thấy thất vọng triền miên. Khi người ta bám vào những cảm nghĩ thất vọng đó, người ta sẽ thương hại bản thân, cuối cùng sẽ ghét bỏ bản thân. Lý do khiến người ta bám vào cảm nghĩ thất vọng đó, ấy là vì người ta không dám chịu trách nhiệm về sự ảm đạm của mình hay không dám thay đổi cách sống. Thất vọng là hải cảng an toàn, cho phép người ta cam chịu đau khổ.

Con người thường sống theo ý niệm sai lầm. Họ nghĩ rằng nếu không có vật này hay người nọ, họ không thể hạnh phúc hay tự do. Dường như họ đã bị lập trình để sống bất hạnh. Họ nghĩ rằng nếu tôi không có đồ vật này, nếu tôi không chiếm hữu người nọ cho riêng cho mình, nếu tôi không có tiền, nếu tôi không có bạn bè, tôi buộc phải buồn rầu. Vì thế, họ tin rằng họ thất vọng là vì thiếu thốn. Hết thảy chúng ta ít nhiều đều tin và bám víu vào các thực tại đó. Bám víu này là cội nguồn của thất vọng, và chúng ta buồn sầu là vì thiếu thốn. Thật vậy, chúng ta cảm thấy ngây ngất khi chiếm hữu, lo âu vì sợ mất và thất vọng khi bị mất!

Để khắc phục xu hướng bám víu ấy, chúng ta phải phân biệt cái tôi ích kỷ và bản chất cao quý của chúng ta. Cái tôi luôn luôn muốn khống chế chúng ta bằng những tư tưởng như “tôi có giá trị khi tôi sở hữu ; tôi có giá trị vì công việc tôi làm ; người ta nghĩ về tôi như thế nào thì tôi là thể ấy.” Nếu bạn bình tâm suy niệm, bạn sẽ nghe Thiên Chuá nói với bạn : “Tất cả những thứ đó không làm cho con hạnh phúc được, chúng chỉ là ảo tưởng.  Ta là nguồn bình an duy nhất của con. Đó là tiếng nói của bản thân cao quý của con, đó là giải pháp thiêng liêng cho những vấn đề liên quan đến sự bám víu.”

Để có hạnh phúc thực sự, thì việc duy nhất mà bạn phải làm là bãi bỏ kế hoạch mà bạn đã lập trình và đừng bao giờ bám víu vào những năng lực thấp kém. Bạn nên nhớ rằng sự bám víu không có thật, mà chỉ là một ảo tưởng trong trí óc, khiến bạn tin là có thật. Người ta có thể hạnh phúc mà không cần bám víu. Bạn đừng nói hay suy nghĩ rằng bạn phải chiếm được một ai hay một vật gì đó, thì mới không thất vọng.  Thay vào đó, bạn hãy có thái độ như khi bạn ngắm cảnh hoàng hôn, chiêm ngưỡng một cánh chim bay lượn hay một vườn hoa lộng lẫy. Bạn yêu thích chúng vì bản chất của chúng, bạn không đòi hỏi hay áp đặt lên chúng, bạn thưởng ngoạn mà không bám víu vào chúng. Nếu bạn làm như vậy, bạn sẽ không còn thất vọng vì không chiếm được điều bạn muốn. Để tự giải thoát khỏi sự bám víu, bạn chỉ việc loại bỏ chúng. Bạn hãy tâm niệm rằng bạn sai lầm khi tưởng rằng cuộc đời bạn bất hạnh vì thiếu vắng người này hay vật  nọ. Bất hạnh và thất vọng chỉ là những suy tưởng.

 Bạn cứ chiếm giữ và quý chuộng mọi thứ bạn thích. Tuy nhiên, có một cách quý chuộng khác giúp bạn cảm thấy bình an và  không lo sợ. Đó chính là cách Thiên Chuá yêu thương bạn. Một cách vô điều kiện. Không bám víu. Tóm lại, để loại trừ thất vọng, bạn đừng bao giờ bám víu bất cứ thứ gì, và hãy ý thức rằng bản thân cao trọng của bạn có thể hoàn thiện mà không cần bất cứ điều gì khác. Khi bạn không bám víu và ở trong trường lực của Thiên Chuá, bạn sẽ có niềm hy vọng và chế ngự được sự thất vọng. Điều đó có nghĩa là bạn hãy yêu thương mọi sự, kể cả những nỗi đau của bạn. Tại sao phải yêu thương đau khổ? Bởi vì nó cho bạn cơ hội đối chứng với sự thất vọng chứ không chấp nhận sự thất vọng.

QUAN SÁT SỰ THẤT VỌNG CỦA BẠN

Ong Nisargadatta Maharaj, một trong những bậc  thầy vĩ đại của tôi, đã nói: ‘Bao lâu bạn đồng hoá mình với thân xác-tâm trí, bạn dễ bị tổn thường vì u sầu và đau buồn.’  Từ đó, tôi nghĩ là chúng ta phải biết quan sát thân xác- tâm trí chúng ta và mọi đòi hỏi của nó.

Khi tôi tạo ra một khoảng cách để quan sát mình, thì tôi không tự đồng hóa với thế giới vật chất nữa.  Vì thế, tôi không bị tổn thương vì buồn phiền, đau khổ và thất vọng trong  thế giới tự nhiên nữa. Bằng cách đó, tôi đem hy vọng và lạc quan đến cho ảo tưởng thất vọng.  Tôi quan sát thân xác-tâm trí của tôi và nói với nó như thế này: “Bây giờ ta hãy nhìn ông Wayne. Ông ta tin là ông ta thất vọng. Ong ta hành động như chính ông ta đang thất vọng, nhưng chính tôi đang quan sát ông ta. Giá mà ông ta biết dừng lại và nối kết với tinh thần, ông ta sẽ không còn mê ngủ trong thất vọng nữa.” Như một người chứng kiến, bạn không thể bị tổn thương, vì bạn quan sát mình từ một vị trí khác.

Bạn cũng có thể dùng phương pháp này để giải thoát những ai bị giam cầm trong sự thất vọng. Hãy bảo họ tưởng tượng là mình đang lùi lại phía sau để quan sát, rồi chỉ chú ý đến điều họ thấy. Bằng cách đó, bạn giúp họ thay thế thái độ thất vọng bằng thái độ quan sát. Điều quan trọng là tôi luôn luôn tự nhủ rằng tôi là chủ thể quan sát chứ không phải là đối tượng quan sát. Làm như thế, tôi có thể đem năng lực tinh thần vào nơi thất vọng.

TÔI CÓ THỂ YÊU SỰ THẤT VỌNG CỦA TÔI KHÔNG?

Bạn hãy nhớ rằng nỗi đau sẽ chấm dứt, khi bạn không còn tưởng nghĩ về nó nữa. Sách thánh Sivanda của An Độ có câu: “Nếu bạn tập sống chung với đau khổ, nếu bạn xem mọi sự đều do Thiên Chuá ban để giúp bạn hoàn thiện và nâng cao phẩm chất, nếu bạn đón nhận sự khó nhọc như một sứ điệp Thiên Chuá gởi đến để nhắc bạn tưởng nhớ đến Người,… bấy giờ, sự khó nhọc không còn khó nhọc nữa. Đau khổ không còn đau khổ nữa.”

Khi tâm niệm như thế, bạn hãy lưu ý đến câu kết. Khó nhọc và đau khổ không hiện hữu, khi bạn nhìn từ viễn cảnh của Thiên Chuá. Khi bạn ở trong năng lực tinh thần, thì những gì khiến bạn thất vọng sẽ tiêu tan. Điều mà bạn gọi là đau khổ đích thị là phúc lành kỳ diệu. Nó dạy bạn hướng lòng về Thiên Chuá, nâng cao tâm hồn và đem tình yêu vào trong bức tranh của giây phút hiện tại.

Tôi thành thật thú nhận rằng phần lớn những điều đã khiến tôi thất vọng và đau khổ thường là những điều tuyệt vời giúp tôi trưởng thành và đạo đức. Tôi đã phải trải qua dãi dầu mới biết được rằng, điều trước đây tôi coi là đau khổ có mục đích thiêu đốt cái tôi của mình và nhờ đó mà tôi đã trở nên tinh trong hơn. Nhờ những điểm yếu trong đời sống, tôi gia tăng nghị lực để tiến tới một vị trí cao hơn. Nếu chúng ta ý thức rằng đau khổ và sự chịu đựng là khúc dạo đầu thiết yếu của sự tiến bộ trong đời sống tâm linh,  bấy giờ chúng ta có thể tìm thấy niềm vui trong sự “đau khổ” như sách Sivanda đã nói.

Nếu bạn biết dừng lại trong cảm xúc thất vọng  và trao ban tình yêu, bạn sẽ biết tại sao bạn phải trải qua nỗi thất vọng. Nhất là bạn không còn coi đó là một nỗi thất vọng nữa. Thế đấy, bạn đã vô hiệu hoá ảo tưởng buồn phiền bằng cách đem tình yêu chi phối sự buồn phiền. Tóm lại, bạn sống trên trần gian này không phải để rên rỉ và khóc lóc vì những nỗi khốn khổ của thân phận con người, nhưng là để biến đổi chúng nhờ tình yêu, nghị lực và năng lực của bạn. Làm như thế là đem hy vọng vào nơi thất vọng. Làm như thế là bạn đã tìm thấy giải pháp thiêng cho vấn đề thất vọng. Đó là một  kế hoạch khả thi. Thế nhưng, hàng triệu người vẫn cam chịu đau khổ vì sự thất vọng và chán nản tột độ, bởi vì họ đinh ninh đó là một kế hoạch bất khả thi.

HY VỌNG CHẤM DỨT  SỰ TRẦM CẢM

Nói chung, sự trầm cảm là một hiện tượng của thời đại. Hơn bao giờ hết, ngày nay người ta nói nhiều về sự trầm cảm. Theo thống kê thì khoảng 20% dân số các nước phát triển  bị trầm cảm với nhiều mức độ khác nhau. Theo tài liệu nói trên, thì trầm cảm lâm sàng là chứng bệnh nguy hiểm nhất. Các bệnh nhân này không thể thi hành chức năng trong đời sống hằng ngày và có nguy cơ tự vẫn. Tất cả là do quái vật trầm cảm!

Tuy vậy, sự trầm cảm không tự mình hiện hữu. Bạn không thể đem các thứ trầm cảm về nhà để khảo sát và khử trừ  chúng khỏi đời sống của bạn. Không có sự trầm cảm tự thân (per se), mà chỉ có những tư tưởng trầm cảm do con người nghĩ ra. Quả thật, có những người tin rằng họ bị trầm cảm. Có cả một nền kỹ nghệ sản xuất dược phẩm để chiến đấu với chứng bệnh này. Trong nhiều trường hợp, thuốc men chỉ có mục đích hạn chế các triệu chứng của thất vọng, như biếng ăn, mất ngủ, thiếu trân trọng bản thân và sự buồn chán miên man. Một vài nhà tâm lý cho rằng trầm cảm là một chứng bệnh tâm lý, nhưng những người khác lại xem trầm cảm là một tình trạng mất cân bằng hoá chất. Tuy nhiên, điều chắc chắn là thế giới kỹ nghệ tây phương chúng ta tin rằng trầm cảm là một vấn đề rất thật.

Trong tác phẩm kinh điển Từ Dược Phẩm Đến Suy Niệm,  Osho đã viết: “Trầm cảm không phải là vấn đề của các nước kém phát triển – trong các nước nghèo, người ta còn đầy tràn hy vọng - mà là vấn đề của những nước phát triển. Khi người ta có được mọi thứ mình khao khát và đã đạt được mục tiêu, người ta không còn hy vọng gì nữa. Đó chính là nguyên nhân gây ra suy nhựơc. Hôm nay thì chẳng có gì để hy vọng, ngay mai thì đen tối và ngày mốt còn đen tối hơn.” Nếu bạn tin là mình có giá trị vì những của cải mà bạn chiếm hữu, thì khi bạn thấy không còn gì để chiếm đoạt nữa, các nhu cầu của bạn đã được thoả mãn và bạn có thể chiếm hữu bất cứ điều gì bạn muốn, bấy giờ lòng bạn không còn lửa nữa. Có thể là bạn chưa có được tất cả những thứ đó, nhưng vấn đề là bạn sống trong một thời đại và một nền văn hoá kích thích lòng khao khát tranh giành của cải, ngay cả khi chúng tỏ ra vô nghĩa. Trong một xã hội chạy theo đồng đô-la, và điên cuồng giành giật tiền bạc và những thứ mua bằng tiền, người ta không dám dừng lại để ngắm nhìn vẻ đẹp của thụ tạo hay sự hùng vĩ của thiên nhiên, vẻ đẹp của người khác và cuộc sống. Để có thể thu tích thật nhiều tiền, người ta đành gạt đời sống thiêng liêng và tương giao mật thiết với Thiên Chuá sang một bên,  và không muốn nhận biết giá trị cao quý của mình. Thế nhưng tiền bạc không đem lại sự mãn nguyện.

Khi bạn coi trọng năng lực thiêng liêng của tình yêu, bình an, hân hoan, phấn khởi, chúc tụng và thân ái, bạn không thể chán nản hay trầm cảm được. Nếu bạn gạt tinh thần sang một bên để theo đuổi đồng đô-la và lầm tưởng rằng có tiền mua tiên cũng được, bấy giờ bạn sẽ thấy rằng tiền bạc không thể mua được điều bạn thật sự khao khát. Nếu tất cả đời sống bạn dành trọn vẹn cho điều mà thâm tâm bạn thấy là vô nghĩa, bấy giờ bạn tâm trí bạn sẽ trải nghiệm sự  trầm cảm. Đó là một ảo tưởng, thế nhưng bạn tin là có thật.

Tình trạng trầm cảm ấy sẽ tác động đến mọi người bên cạnh, kể cả con cái bạn. Chúng sẽ tin vào ảo tưởng. Vì năng lực tiêu cực, mọi người sẽ cảm thấy chán nản, thất vọng, căng thẳng, xao xuyến và sợ hãi, và sức khoẻ bắt đầu suy giảm.

Khi bị trầm cảm, chúng ta tưởng là do mất quân bình hoá học. Bởi thế, để quân bình hoá chất trong cơ thể, chúng ta trút hoá chất vào cơ thể và vì thế mà sự trầm cảm được cải thiện đôi chút. Chúng ta ít thất vọng và căng thẳng hơn, chúng ta sống vui vẻ và hài hoà hơn. Vì thế, chúng ta nghĩ là trầm cảm có thể chữa trị bằng thuốc và hoá chất. Tuy nhiên, vấn đề tiên quyết là tại sao cơ thể-tâm thần lại mất quân bình. Phải nói rằng trầm cảm hay trầm uất phát sinh từ thái độ nội tâm.

Niềm hy vọng có phải là phương dược chữa trị chứng trầm cảm chăng?

MỘT LỜI NÓI VỀ NIỀM HY VỌNG

Tự đáy lòng, chúng ta biết chắc linh hồn thì bất diệt. Chúng ta đặt niềm hy vọng vào sự bất tử và cuộc sống mai sau. Đó là động lực thúc đẩy chúng ta sống đạo đức và lương thiện. Sự nhận thức và niềm hy vọng đó cũng là cách thức tỉnh linh hồn.  Đó là tiếng nói âm thầm trong lòng bạn, mời gọi bạn vươn tới năng lực tinh thần. Một cách nào đó, hy vọng là phục hồi sự yêu đời và niềm vui, đồng thời mời gọi bạn đừng tìm kiếm ý nghĩa và quyền lực trong thế giới vật chất.

Ai cũng biết tiểu sử Đức Phật. Người là một hoàng tử giàu sang, nhưng người thấy rằng sự giàu sang không làm cho người giác ngộ được. Người từ chối chạy theo vật chất để có thể lấy tinh thần mà điều khiển thế giới ảo ảnh của vật chất.  Tôi không bảo bạn phải từ bỏ mọi của cải vật chất để đi tìm hạnh phúc, mặc dầu tôi thấy điều đó là cần thiết. Tôi chỉ xin bạn lưu ý đến tác hại lớn lao của việc đánh mất niềm vui cũng như thái độ thất vọng và trầm cảm đối với đời sống bạn.  Và tôi khuyến khích bạn đừng chạy theo đồng đô-la nữa, vì đồng đô-la không bao giờ mua được hạnh phúc. Trái lại, bạn hãy quyết tâm tìm kiếm một kinh nghiệm sâu xa và phong phú về cuộc sống. Bấy giờ, sự thất vọng sẽ được thay thế bằng niềm hy vọng. Chứng trầm cảm lâm sàng hay những chứng bệnh tương tự cũng sẽ không thể tồn tại.

Khá nhiều người  tây phương hiện nay tin vào sự trầm cảm. Tôi coi đó là một khủng hoảng luân lý, bởi vì nó cho thấy người ta thiếu quan tâm đến đời sống tâm linh. Tôi nghĩ rằng khi chúng ta không còn bị chi phối bởi ham muốn hành công và ý thức rằng lòng ham muốn đó làm cho chúng ta không thể sống trong năng lực tinh thần, bấy giờ chúng ta có một nhận thức mới về niềm hy vọng, và sự thất vọng hay trầm cảm sẽ không còn.

Sau đây là một vài đề nghị nhằm đem hy vọng và sự hiểu biết của tinh thần vào nơi thất vọng, buồn chán và trầm cảm.

THỰC HÀNH

Bạn hãy tìm kiếm niềm vui trong việc buông bỏ

Khi bạn nâng cao nhận thức, bạn có thể yêu mà không bị trói buộc. Tình yêu trói buộc sinh ra thất vọng, bởi vì bạn xem người khác là nguyên nhân khiến bạn viên mãn và hạnh phúc. Nếu họ không cộng tác với bạn như bạn muốn, bấy giờ bạn rơi vào thất vọng.

Trái lại, bạn hãy hy vọng vì chính bạn. Bạn có thể yêu bất cứ ai và quý trọng họ vì bản chất của họ, mà không nghĩ rằng khi bạn bị bỏ rơi, bạn sẽ vô cùng đau khổ.  Trong cuốn sách Con Đường Yêu Thương, Anthony de Mello đã đưa ra hai khẳng định đầy sức thuyết phục. Hai khẳng định đó có thể giúp bạn trải nghiệm một tình yêu không dính bén.

  1. “Tôi thật sự không bám víu bạn. Tôi đã lừa dối mình khi tin rằng nếu không có bạn, tôi sẽ không hạnh phúc.”
  2. “Tôi để bạn tự do suy nghĩ theo cách của bạn, hành động theo sở thích của bạn, đi theo khuynh hướng của bạn, cư xử theo ý thích của bạn.”

Để yêu thương mà không dính bén, bạn hãy quan tâm thực hiện hai lời khuyên đó. Tuy nhiên, bạn hãy yêu thương con người như ngắm nhìn một cầu vồng đẹp hay thưởng thức một bản hoà tấu du dương. Bạn yêu thương họ vì bản chất của họ. Bạn hãy để cho mình được tự do chứ đừng bám víu. Tình yêu càng gia tăng thì thất vọng sẽ tan biến và niềm hy vọng càng chan chứa. Làm như thế thì tốt hơn là gánh lấy đau khổ do sự dính bén gây ra.

Cổ võ niềm hy vọng

Bạn đừng tỏ lòng thương hại  đối với những người cảm thấy thấp kém, làm như thế là gia tăng sự thất vọng. Trong tư cách một nhà tư vấn / điều trị, tôi luôn luôn yêu cầu thân chủ quan tâm đến những thành công hơn những thất bại khiến họ thất vọng.

Chẳng hạn, khi một thân chủ không thể sống thuận hoà với cha mẹ, tôi đã khuyên người đó nhìn lại những giây phút hòa thuận ngắn ngủi với cha mẹ. Tôi giúp anh ta nhớ lại từng giây phút khi anh ta gặt hái thành công. Anh ta đã cảm thấy thế nào ? Nghĩ gì ? Kết quả ra sao ? Khi thành công, cuộc sống anh ta thế nào ? v.v... Khi giúp anh ta tìm lại những dấu hiệu của thành công, tôi đã làm cho buổi tư vấn trần trề hy vọng, chứ không nhấn mạnh đến sự thất vọng.

Ngay cả những thân chủ nghiện ngập và những bệnh nhân kinh niên có lúc cũng cảm thấy thành công trong việc đối phó với các “vấn đề” của họ. Họ đã có thể ăn kiêng một tuần, không uống rượu ba ngày, không thấy nhức nhối một ngày. Tất cả những kinh nghiệm ấy cho thấy là họ có khả năng lấy hy vọng thay cho thất vọng, cho dù chỉ một ngày. Nếu bạn có thể thực hiện một ngày, thì bạn cũng có thể thực hiện hai ngày, và như thế bạn có niềm hy vọng.

Khi chúng ta để ý đến những điểm tiêu cực, bàn về những vụ án, khơi dậy cảm xúc tổn thương và hồi tưởng cảm xúc đau đớn, chúng ta làm suy giảm niềm hy vọng vào giây phút hiện tại. Trong tư cách một nhà tư vấn / điều trị, tôi muốn đem hy vọng vào nơi thất vọng. Khi điều trị cho bệnh nhân, tôi muốn giúp thân chủ vô hiệu hoá sự thất vọng một cách vĩnh viễn.

Phương pháp này có thể áp dụng để chữa trị sự thất vọng trong cuộc sống. Bạn hãy nhớ lại những khi bạn cảm thấy hy vọng và thành công trong việc đối phó với một vấn đề, và hãy sống lại những cảm nghĩ và cảm xúc  mà bạn đã trải nghiệm. Làm như thế là bạn có được một con đường thoát ra khỏi sự thất vọng. Khi bạn củng cố niềm hy vọng, bạn sẽ hành động dựa trên tư tưởng và cảm xúc hy vọng.

Hãy xin Thiên Chuá trợ giúp và trao phó nỗi thất vọng cho Người.

Bạn có thể chấm dứt cảm nghiệm thất vọng, nếu bạn biết dừng lại, thinh lặng, cầu nguyện và cương quyết buông bỏ sự thất vọng ngay tức khắc. “Lạy Chúa, một mình con không thể đối phó với hoàn cảnh này. Con biết Chúa đang hiện diện bên con như một người bạn tri kỷ và thầm lặng. Con xin phó thác cho Chúa.” Lời nguyện đơn sơ và kín đáo này sẽ giảm nhẹ cảm xúc thất vọng ngay tức khắc. Đó là cách buông bỏ cảm nghĩ vô vọng. Điều bạn cần cầu xin, đó là xin tình yêu hướng dẫn cuộc đời bạn. Khi cầu xin như thế, bạn làm cho mình trở nên trống rỗng để có thể tiếp nhận năng lực thần linh, chính nguồn năng lực ấy đang làm cho các hành tinh quay chung quanh mặt trời, làm cho mặt trời vận hành đúng quỹ đạo, làm cho hạt giống trở thành đoá hoa, và làm cho mầm sống trở thành một đứa bé. Thật trịch thượng khi tuyên bố “tôi sẽ tự mình làm hết mọi chuyện.” Khi cầu xin Thiên Chuá ban ơn trợ giúp, bạn có thể bình tĩnh nhìn lại chính mình và để cho Thiên Chúa nắm lấy bàn tay của bạn.

Để tự giải thoát khỏi thảm kịch thất vọng, bạn hãy đón nhận lời khuyên sau đây của Kinh thánh. Với 5 chữ ngắn gọn ấy, bạn có thể đem hy vọng vào nơi thất vọng và tìm thấy giải pháp thiêng liêng cho mọi vấn đề liên quan đến sự thất vọng: “Hãy xin thì sẽ được.”

Bạn hãy hành động như thể bạn đang hy vọng

Đừng đối phó với sự thất vọng một cách thụ động nữa. Đừng nói những lời thiếu hy vọng, than thân trách phận và bới móc lỗi lầm, thương hại bản thân và bi quan. Trái lại, bạn hãy hình dung bạn thực hiện mọi việc như thế nào, và quyết tâm hành động như thể điều bạn muốn đã sẵn sàng rồi. Nếu muốn phong phú hơn nữa,   bạn hãy hình dung là mình đã gặp may mắn. Bạn hãy tưởng tượng đang đi vào phòng trưng bày xe hơi, ngồi trên chiếc xe và lái đi, rồi đưa hình ảnh đó vào trong ý thức của bạn. Giải pháp sẽ xuất hiện. Như tôi đã nói trong cuốn sách Hãy Biểu Lộ Số Phận Của Bạn, điều bạn phải làm không phải là đặt câu hỏi “làm sao?”, nhưng là khẳng định.

Vợ chồng tôi đã hành động như thế. Chúng tôi không thất vọng vì khuynh hướng hay tác phong thất thường của con cái, nhưng chúng tôi hình dung chúng đang ở trong một hoàn cảnh tích cực. Rồi chúng tôi đối xử với chúng như thể chúng đã thực hiện điều chúng tôi nghĩ là có lợi cho chúng. Chúng tôi đối xử với chúng theo hình ảnh mà chúng tôi đã vẽ ra trong tâm trí. Bấy giờ, chúng tôi không còn bi quan nữa, trái lại, chúng tôi tích cực cụ thể hoá hình ảnh thành công mà chúng tôi đã hình dung. Vì thế, chúng tôi có thể khích lệ chúng: “Các con học hành tuyệt vời,” “Ngày mai các con sẽ đến lớp đúng giơ,” “Các con đã biết lo cho mình hơn rồi đấy,” “Thật tuyệt vời khi thấy các con hạnh phúc.” Chúng tôi củng cố niềm hy vọng, khi chúng tôi đối xử với chúng như thể chúng đã thực hiện điều chúng tôi muốn.

Thất vọng chỉ là một ảo ảnh trong tâm trí. Trên thực tế, khi chúng ta đối diện với một tình huống,  chúng ta nghĩ làm sao thì chúng ta sẽ hành động như vậy. Khi chúng ta nghĩ vấn đề sẽ được giải quyết, thì đó là lấy hy vọng thay cho thất vọng.

Bạn hãy nhận ra điều may mắn giữa những đau khổ

Đó là một cách thế hữu hiệu để loại trừ thất vọng. Khi bạn cảm thấy rã rời và vấn đề càng ngày càng nan giải, bạn hãy dừng lại và tự nhủ kinh nghiệm đau đớn ấy sẽ giúp bạn lớn lên. Sau đó, bạn hãy lắng nghe tiếng nói nội tâm và mở lòng đón nhận điều tốt lành đang xuất hiện ngay trong bi kịch của sự thất bại. Nếu bạn quay về với sự thinh lặng, bạn sẽ  có khả năng vượt qua sự thất vọng và lớn lên nhờ kinh nghiệm đó.

Khi bạn buông bỏ cảm nghĩ thất vọng, bạn sẽ có được năng lực tinh thần vững mạnh và ảo tưởng thất vọng sẽ tiêu tan.

Giả như bạn không thể chấm dứt sự rối loạn và đau khổ, bạn hãy tự nhủ rằng những đau khổ trong quá khứ quả là những kinh nghiệm giúp bạn trưởng thành. Những người nghiện rượu trước đây đã trưởng thành hơn nhờ đau khổ trong việc cai nghiện. Những người giàu có nhận ra giá trị của những kinh nghiệm đói nghèo trước đây. Sau khi lành bệnh, bệnh nhân thường đánh giá cao kinh nghiệm bệnh tật của mình. Vợ chồng hạnh phúc thì trân trọng giá trị của đau khổ vì chia ly. Mọi sự thất vọng đều thúc đẩy bạn vươn lên, vươn tới một cuộc sống hạnh phúc hơn. Bởi đó, bạn đừng nhìn lại những kinh nghiệm trong cuộc sống với một cái nhìn bi quan và thất vọng.

Bạn hãy tưởng tượng đang nhìn lại kinh nghiệm đau đớn ấy và hy vọng rằng kinh nghiệm ấy sẽ giúp bạn lớn lên, và như thế bạn sẽ không còn than thân trách phận nữa. Bạn hãy biến sự thất vọng thành cơ hội tạ ơn, vì điều tốt lành mà nó mang lại cho bạn. Lời kinh của thánh Phanxicô kết thúc với lời sau đây: “Chính khi chết đi là được sống muôn đời.” Tôi muốn nói là chính lúc chết đi cho sự thất vọng mà chúng ta được tái sinh. Khi bạn nhìn thấy phúc lành trong kinh nghiệm thất vọng, bạn cũng sẽ nhận thấy hy vọng quả là thần dược.

Bạn đừng bàn luận về đau khổ

Có những người cảm thấy thích thú khi kể lại những chuyện thất vọng hay thảm hoạ. Tình tiết càng gây thất vọng thì càng thích thú. Khi nghe những chuyện thất vọng như thế, bạn cũng bị tác động. Vì lợi ích của mình, bạn hãy thẳng thắn quả quyết là bạn không muốn thất vọng, dù là sự thất vọng của bạn hay của người khác.

Khi tôi bị tấn công dồn dập bởi những câu chuyện về chết chóc, bệnh tật, v.v…, tôi nhã nhặn gật đầu và chỉ cho họ thấy sự may mắn tiềm tàng trong những câu chuyện đó. “Vì bệnh tim, chú Harry sẽ quan tâm hơn đến chế độ ăn uống và chắc chắn ông sẽ khỏi bệnh.” “Mỗi khi có bão lụt, người ta thấy được lòng nhân ái của con người và mọi người sẽ giúp đỡ nhau.” “Mạng sống của bà ngoại ở trong tay Thiên Chuá và bà sẽ không bao giờ phải đau đớn nữa.” Khi bạn trả lời nhã nhặn như thế, những người thích bàn luận về sự thất vọng sẽ hiểu rằng bạn muốn bàn bạc về những điều tốt lành. Bạn hãy đem hy vọng vào nơi bị thất vọng tấn công và bầu khí thất vọng sẽ tan biến.

Tập nghệ thuật lạc quan

Những người luôn luôn lạc quan thường bị chế diễu là Pollyanna. Còn đối với tôi, danh hiệu Pollyana không có ý nghĩa chế diễu mà là một lời khen ngợi. Nhiều lần tôi cũng đã được gọi là Pollyanna. Pollyanna là ai?

Một thị trấn nọ toàn là những người trầm cảm. Người ta rầu rĩ vì kinh tế sa sút. Người ta ghét mọi thứ trong thị trấn. Tất cả thị trấn bao trùm trong sự bi quan. Trong bầu khí ảm đảm đó bỗng xuất hiện một cô gái trẻ tên là Pollyana. Sau vài ba tuần, nhờ thái độ lạc quan của cô Pollyana mà mọi người tìm lại niềm vui và đối xử thân thiện với nhau, bơi thế mà nền kinh tế địa phương được cải thiện.  Khu Vườn Bí Mật cũng là một câu chuyện hấp dẫn. Nhờ sự lạc quan của một cô gái trẻ mà một chú bé đã được chữa khỏi bệnh tưởng. Bộ phim Gia Đình Barretts Ở Phố Wimpole cũng là một minh họa về sự  lạc quan. Nhờ tinh thần lạc quan của nhà thơ nổi tiếng Robert Browning, cô Elisabeth đã vượt qua sự yếu nhược và bi quan, rồi trở thành một người phụ nữ năng động. Sau này bà trở thành vợ của nhà thơ.

Những câu chuyện trên đề cao tầm quan trọng của tinh thần lạc quan. Khi người ta gọi tôi là Pollyana, tôi luôn luôn cám ơn, bởi lẽ Pollyanna là một mẫu gương tuyệt vời về sự lạc quan. Nơi nào u sầu vì thất vọng, thì sự hiện diện của Pollyanna sẽ khơi gợi niềm hy vọng.

Bạn hãy hành động kiên cường như thể bạn không thể thất bại

Tôi tâm đắc với lời sau đây của Louis Pasteur: “Tôi tiết lộ cho bạn bí quyết thành công của tôi. Kiên trì là sức mạnh của tôi.” Tôi đề nghị bạn bám chặt vào niềm hy vọng như chú chó bám vào khúc xương. Hãy bám chặt vào khúc xương hy vọng đó, bất chấp những trở ngại và thất bại trước đây đã làm cho bạn thất vọng. Mỗi khi tâm trí bạn nẩy sinh những cảm nghĩ thất vọng, bạn hãy hướng tâm trí đến mục tiêu là hoàn thành mọi việc. Tôi muốn lặp lại  câu châm ngôn cổ: “Mọi sự sẽ qua đi,” và tái khẳng định là tôi không muốn từ bỏ niềm hy vọng. Sự kiên trì có tính lây lan. Thánh  Phanxicô luôn luôn đặt hy vọng vào tiếng gọi của Thiên Chuá. Cha mẹ và gia đình người  dùng mọi cách ngăn cản người đừng đi theo Đức Giêsu và hiến thân cho Thần Khí. Thế nhưng, người đã kiên trì như con chó bám chặt khúc xương. Người biết là người không thể thất bại. Nhờ đức tin không lay chuyển, người xem những trở ngại là cơ hội để gia tăng niềm hy vọng. Biết đâu ngày nào đó hậu thế sẽ lấy tên bạn để đặt cho một thành phố xinh đẹp như San Franciscô.

Tôi chắc là bạn đã nghe bài diễn thuyết xúc động của Winston Churchill. Đứng trước đám mây thất vọng, ông tập họp đồng bào đứng lên đòi tự do. Ong đã nói: “Đừng bao giờ đầu hàng. Đừng bao giờ. Đừng bao giờ. Đừng bao giờ. Trong việc đại sự hay tầm thường, chuyện lớn hay chuyện nhỏ – đừng bao giờ đầu hàng, trừ phi là vì danh dự và lương tri.”

Hãy chịu đựng và kiên trì. Cuối cùng sự đau khổ cũng sẽ biến thành điều tốt lành cho bạn. Đó là giá trị của sự kiên trì trong việc đem hy vọng đến cho người mang ảo tưởng thất vọng. Bất cứ khi nào bạn gặp sự thất vọng, dù ở trong bạn hay nơi người khác, bạn hãy tự nhủ là phải hướng đến năng lực tinh thần ngay lập tức. Bạn hãy lấy năng lực tinh thần mà chiếu tỏa vào nguyên nhân gây ra thất vọng. Hãy tưởng tượng bạn đang lấy ánh sáng và tình yêu vô điều kiện của Thiên Chuá bao vây cái nguyên nhân ấy. Cuối cùng, chắc hắn bạn sẽ mang lại niềm hy vọng cho người thất vọng. Làm như thế là bạn đã tìm thấy giải pháp thiêng liêng cho mọi vấn đề.


Chương 6

ĐEM ÁNH SÁNG VÀO NƠI TỐI TĂM

Mọi điều xấu đều có thể trở nên đẹp dưới ánh sáng rực rỡ. (Ralph Waldo Emerson)

Qua lời kinh này, Thánh Phanxicô xin Chúa ban cho người sức mạnh và khả năng đem ánh sáng cho những người cảm thấy xấu xa, hay coi thế giới là tội lỗi và đen tối. Lời trích dẫn của Emerson  muốn nói rằng ánh sáng rực rỡ của bạn có thể làm cho mọi sự trở nên đẹp. Khi bạn sống trong thế giới bóng tối, bạn không thể nhìn thấy vẻ đẹp chung quanh. Một trong những phẩm chất cao quý của người tự thể hiện là nhìn thấy vẻ đẹp mọi nơi, và múc lấy sự sống từ vẻ đẹp. Khi xin Chúa dùng chúng ta như khí cụ “đem ánh sáng vào nơi tối tăm,” chúng ta muốn thưa rằng “xin cho sự hiện diện và thái độ của con làm cho mọi người nhận biết vẻ đẹp khắp nơi.”

Đem ánh sáng vào nơi tối tăm là tìm thấy giải pháp thiêng liêng cho vấn đề tối tăm. Tối tăm là tình trạng thiếu khả năng nhận biết bản chất đích thật của thế giới. John Keats muốn nói lên điều đó qua những vần thơ nổi tiếng của ông: “Vẻ đẹp là sự thật,  sự thật là vẻ đẹp. Đó là tất cả những gì chúng ta biết và cũng là tất cả những gì chúng ta cần biết.” Khi ngụp lặn trong bóng tối, người ta không thể nhận thấy vẻ đẹp cũng như sự thật, bởi vì vẻ đẹp là sự thật. Khi chúng ta quyết tâm đem ánh sáng vào nơi tối tăm,  chúng ta có thể nhìn thấy vẻ đẹp của toàn thế giới với một cái nhìn mới và chúng ta được giải thoát khỏi nhận thức sai lạc về cuộc đời như một nơi tối tăm và u ám.

Như tôi đã trình bày trên đây, tất cả đều là năng lực và ánh sáng là một năng lực tinh thần có khả năng vô hiệu hoá các kinh nghiệm u tối. Nếu bạn có được ánh sáng “khả thị,” bạn có thể loại trừ những kinh nghiệm u tối trong cuộc sống bạn cũng như những người khác.

ÁNH SÁNG LÀ NĂNG LỰC

Mọi sự đang chuyển động, mặc dù giác quan bạn thấy một số sự vật thì bất động. Anh sáng là môt năng lực, một tần số rất bén nhạy phù hợp với những quy luật tinh thần mà tôi đã trích dẫn trong cuốn sách này. Khi bạn đem những tần số cao / bén nhạy vào nơi có những chuyển động thấp / chậm hơn, bấy giờ các “vấn đề” liền được giải toả, bởi lẽ bóng tối chỉ là thiếu ánh sáng. Khi bạn đưa ánh sáng vào nơi u tối, bóng tối sẽ tan biến. Khi bạn cầm đèn đi vào phòng tối, ánh sáng sẽ chiếu toả trên mọi người trong căn phòng. Bạn không cần thông báo: “Tôi mang ánh sáng đến đây,” nhưng mọi người tự động nhìn thấy ánh sáng, và bóng tối sẽ tan biến. Xin nhắc lại rằng, khi chúng ta lấy những chuyển động bén nhạy / cao cả của tinh thần tác động trên các ảo tưởng, trong đó có ảo tưởng bóng tối, bấy giờ vấn đề sẽ không còn.

Hãy biết rằng mặt trời là một nguồn sáng. Mặt trời hằng chiếu sáng. Ngay cả khi bóng mây che khuất mặt trời, thì mặt trời vẫn chiếu sáng. Măt trời như tắt lịm khi màn đêm buông xuống, nhưng đó chỉ là một ảo tưởng, bởi vì mặt trời vẫn luôn chiếu sáng. Măt trời có vẻ là nguồn ánh sáng, nhưng thật ra mặt trời chỉ phản chiếu ánh sáng đích thật là Thiên Chuá hay tinh thần. Năng lực cao nhất là tinh thần, nó chiếu soi thế giới vật chất, kể cả mặt trời. Bạn nên biết chính ánh sáng đích thật ấy luôn luôn chiếu sáng tương tự như mặt trời không ngừng chiếu sáng, ngay cả khi bạn không trông thấy mặt trời. Như vậy, bạn có thể đem ánh sáng tinh thần soi chiếu nơi tối tăm - bóng tối không bao giờ hiện hữu! Để vô hiệu hoá bóng tối, ánh sáng tinh thần luôn luôn chiếu sáng và sẵn sàng để bạn sử dụng mỗi khi bạn muốn. Nên nhớ rằng ánh sáng và bóng tối không thể sống chung. Khi chúng ta đem ánh sáng vào nơi tối tăm, sức mạnh của ánh sáng sẽ loại trừ bóng tối hoàn toàn.

ĐEM ÁNH SÁNG

Tôi đề nghị bạn xem mình là con người của ánh sáng, tức là một hệ thống năng lực có khả năng xua tan bóng tối. Bạn là người của ánh sáng.  Bạn chiếu sáng nơi nào bạn đến. Bạn có thể chiến thắng bóng tối hay giúp người khác chiến thắng bóng tối.

Ánh sáng không chỉ là một năng lực, mà còn là một thái độ. Bạn có thể suy nghĩ về ánh sáng hay suy nghĩ về bóng tối. Khi bạn suy nghĩ về ánh sáng, bạn làm cho mọi vấn đề trở nên sáng tỏ và khó khăn có thể giải quyết.

Có lẽ bạn đã nghe nói người ta có thể lấy ánh sáng bao phủ một người bạn hay người yêu, khi thấy bóng đen tiểm ẩn nơi người đó. Người ta ý thức rằng ánh sáng thì tinh tuyền, có khả năng bảo vệ và gìn giữ ta khỏi những thế lực nguy hiểm và ác hại. Khi chúng ta lấy ánh sáng tinh trong bao bọc người ta thương mến, chúng ta trao ban tư tưởng yêu thương và đầy năng lực, để gìn giữ người đó được an toàn. Bạn hãy quyết tâm chỉ suy nghĩ về ánh sáng yêu thương và hình dung bạn đang gởi ánh sáng đi thực hiện nhiệm vụ của tinh thần.  Nhờ trực giác, chúng ta biết tư tưởng của ánh sáng chắc chắn sẽ xua tan bóng tối, tương tự như khi ta bật công tắc đèn, ánh sáng sẽ chiếu soi căn phòng mờ tối.

Đối với tôi, lời kinh của thánh Phanxicô ám chỉ 4 cấu tố của ánh sáng, mà bạn có thể đem vào mọi nơi tối tăm. Bốn yếu tố đó là:

1. Sự tinh khiết

Anh sáng bao hàm sự tinh khiết . Khi bạn đem sự tinh khiết vào nơi ô uế, bấy giờ bạn đang làm trọn ước nguyện của thánh Phanxicô và tìm thấy giải pháp cho vấn đề ô uế. Về mặt thể lý, tinh khiết có nghĩa là sạch sẽ, sáng sủa, không ô nhiễm, không giả tạo. Nó giống như giòng nước thuần khiết, bầu khí trong lành, máu sạch hay thức ăn sạch. Tinh khiết là tiến trình thanh luyện bệnh tật, không khí ô nhiễm hay vi khuẩn. Tư tưởng và tác phong chúng ta cũng cần tiến trình thanh luyện như thế khi đối diện với sự ô uế. 

Chúng ta có vấn đề, khi chúng ta suy nghĩ những điều đê tiện. Một khi tư tưởng chúng ta trở nên ô uế, chúng sẽ làm vẩn đục đời sống chúng ta và đời sống những người chung quanh. Xung đột xảy ra khi chúng ta sống trong tần số thấp của rượu chè, dâm ô, lối sống thiếu lành mạnh, bạo lực, lạm dụng của cải vật chất, ăn nói tục tỉu và những việc tương tự như thế. Sự tinh khiết thì giống như ánh sáng, nơi đó không có giả tạo mà chỉ có ánh sáng thuần khiết. Nếu bạn có khả năng thanh luyện những nơi ô uế, bấy giờ bạn có thể tìm thấy giải pháp thiêng liêng cho vấn đề trong sạch nội tâm.

Mới đây, tôi tình cờ đi ngang qua một công viên. Một nhóm thanh niên tụ tập ăn mừng bằng tốt nghiệp trung học. Rõ ràng là rượu và ma tuý ảnh hưởng xấu trên thanh niên. Chẳng  mấy chốc, những người trẻ tuôn ra những lời tục tỉu, hăm hoạ và sắp đánh nhau. Tôi nghĩ đến lời kinh của thánh Phanxicô. Tôi nhận thấy bóng tối xuất hiện dưới bộ mặt thiếu trong sạch khắp nơi.

Vì thế, tôi bước vào giữa đám thanh niên đang hằm hè đánh nhau, ý thức rằng tôi đang chiếu ánh sáng vào họ. Tôi không nói gì, mà chỉ lấy ánh sáng bao bọc đám đông hỗn loạn. Chỉ trong giây lát, những chàng trai bắt đầu giải tán và không còn thốt ra những lời hăm doạ thô bạo. Rõ ràng là khi tôi chiếu ánh sáng yêu thương và tinh tuyền vào những chàng trai ấy, ánh sáng đó đã tác động lên họ, cho dù họ không nhận biết điều tôi đang thực hiện. Bạn có thể làm linh hồn trở nên tinh khiết, bằng cách chiếu ánh sáng tinh tuyền và yêu thương vô điều kiện của Đấng Tối Cao vào nơi ô uế. Và khi bạn chiếu ánh sáng tinh tuyền ấy ra ngoài, bạn có thể tác động lên những người chung quanh.

Khi bạn đến những nơi mà người ta sống, hít thở và thường nghĩ đến những tư tưởng của ánh sáng, bấy giờ bạn cảm nhận nơi đó có một năng lực thanh thản. Patanjaly quả quyết rằng người ta không còn cảm thấy thù hằn khi đối diện với kẻ không bao giờ suy nghĩ về điều ác hại và ô uế. Đó là cách đem ánh sáng vào nơi tối tăm. Nếu bạn quyết tâm thực hiện, bạn sẽ chóng trở nên sứ thần của ánh sáng. Lối suy nghĩ và cách sống thiếu trong sạch không thể tồn tại trước ánh sáng tinh tuyền của bạn, và bóng tối sẽ không thể tồn tại trước ánh sáng.

2.  Lòng đạo đức

Anh sáng còn ám chỉ luật vàng trong cách cư xử của chúng ta. Tôi đem ánh sáng vào  đêm tối, khi tôi làm điều ngay chính. Khi người ta cảm thấy bị ngược đãi, xúc phạm, thua thiệt hay cô đơn trong sự khốn khổ, bấy giờ họ dường như đang bị che phủ bởi một đám mây đen. Những cảm nghĩ đó là cơ hội để đám mây đen nhận chìm họ. Nếu chúng ta muốn đem ánh sáng vào nơi tối tăm ấy, chúng ta hãy quyết tâm đối xử với người khác như chúng ta muốn được đối xử. Anh sáng và đạo đức song hành với nhau. Khi người ta cảm thấy được đối xử công bằng, bấy giờ đám mây đen sẽ tan đi.

Khi thi hành sứ vụ, mẹ Têrêxa luôn tỏ ra là một người đạo đức. Mẹ tâm sự: “Hàng ngày, tôi luôn nhìn thấy Chúa Giêsu Kitô hiện diện nơi những người đau khổ.” Mẹ có thể nhìn thấy vẻ đẹp của những người bị bỏ rơi ngoài hè phố và mẹ đem ánh sáng đạo đức cho họ. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ cất đi tấm màn đen tối bao phủ trên những người vô gia cư. Mỗi người chúng ta cũng phải hành động như thế. Khi chúng ta dừng lại và tự hỏi chúng ta muốn được đối xử ra sao trong hoàn cảnh như thế, bấy giờ chúng ta đang đem ánh sáng đạo đức tác động trên tình trạng đen tối của người khác. Bạn hãy biết rằng luật vàng luôn là một giáo huấn tuyệt diệu. Bạn hãy quan tâm loại trừ bóng tối ra khỏi đời sống mình và đem ánh sáng đến cho những người cảm thấy bị ngược đãi.

Bạn cũng hãy đối xử với mình như thế, mỗi khi bạn cảm thấy cuộc sống thiếu ánh sáng. Khi bạn cảm thấy bị xúc phạm hay phản bội và bao trùm trong bóng tối, bạn hãy tự hỏi mình muốn được đối xử như thế nào. Rồi bạn hãy hình dung Thiên Chúa yêu thương đang tuôn đổ ánh sáng xuống trên bạn. Bạn hãy tha thứ và đừng nhớ đến kẻ làm bạn tức giận, đồng thời hãy ý thức mình đang ở trong ánh sáng của Thiên Chuá. Bằng cách đó, bạn luôn luôn đến gần ánh sáng. Khi bạn ý thức Thiên Chúa đã đối xử với bạn như thế nào, thì bấy giờ bạn cũng được mời gọi  thực thi luật vàng cho người khác.

Cách đây ít hôm, trong khi hai cha con chúng tôi đang chờ vào một công viên nước, tôi thoáng nghe một phụ nữ bên cạnh gọi ba ly nước, nhưng sau đó lại không đủ tiền trả. Bà bối rối vì  thiếu mấy xu, trong khi người bán hàng chẳng hề thông cảm. Tôi lập tức đưa cho bà vài xu, bởi vì tôi tự hỏi mình muốn được đối xử như thế nào khi gặp hoàn cảnh như thế. Luật vàng.

Tôi cũng đã áp dụng luật vàng sau khi tranh luận với vợ con trong gia đình. Khi tôi chán nản ngồi một mình, tôi tự hỏi mình muốn người ta đối xử với mình như thế nào. Sau đó, tôi hành động như tôi muốn người khác đối xử với mình, bằng cách phá vỡ sự im lặng hay xin lỗi. Việc tranh luận được giảm nhiệt khi tôi đem ánh sáng của luật vàng vào nơi u tối.

3. Sự thật

James Russell Lowell đã nói: “Anh sáng là biểu tượng của sự thật.” Và tôi muốn nói thêm “bóng tối là biểu tượng của giả dối.” Bạn có thể che dấu sự thật trong bóng tối, còn trong ánh sáng thì không có gì bí ẩn và che đậy, nhưng mọi sự được tỏ lộ. Bởi thế, bóng tối thì che đậy, còn ánh sáng thì mạc khải. Khi bạn đem ánh sáng vào nơi tối tăm như lời kinh của thánh Phanxicô, bấy giờ bạn có thái độ cởi mở, vì sự thật không phải là điều đáng sợ và cần phải che đậy. Trong cuốn sách nổi tiếng Sức Mạnh Chống Lại Vũ Lực, David Hawkins đã nhận định khôn ngoan như sau: “Khi kiểm điểm đời sống hàng ngày, chúng ta thấy mọi nỗi sợ hãi đều bắt nguồn từ sự sai lầm. Để chữa lành mọi bệnh tật  hữu hình và vô hình, chúng ta hãy sống theo sự thật và loại trừ sai lầm.”

Cách đây khá lâu, tôi đã viết bài “Chúng ta tin ai?” trên báo tư vấn. Qua bài báo đó, tôi muốn nói chúng ta có khuynh hướng tin tưởng những ai nói sự thật với chúng ta, cho dù chúng ta không thích sự thật đó. Những ai nói y như điều chúng ta muốn nghe, họ có thể làm chúng ta khoái chí một lát, nhưng họ không phải là người chúng ta tin tưởng. Khi cần một lời khuyên hay trợ giúp, bạn tin ai? Người chỉ muốn làm cho bạn vui thích hay người nói sự thật? 

Thật vậy,  dần dần bạn sẽ hiểu rằng “sự thật sẽ giải thoát anh em,” khi bạn nổ lực đem sự thật vào những nơi có vấn đề. Từ viễn cảnh sự thật, bạn chiếu ánh sáng sự thật vào mọi vấn đề và chúng sẽ biến mất dưới ánh sáng của sự thật. Không có gì che đậy, không có gì giấu diếm.

Một lần kia, tôi đi dạo với một người phụ nữ quá trọng lượng. Mặc dù bà đã áp dụng mọi chế độ kiêng cử, bà không thể giảm cân. Bà thề là không bao giờ ăn quá mức và cho rằng việc chuyển hoá thức ăn là nguyên nhân khiến bà béo phì. Tôi khuyến khích bà lấy sự thật mà tiếp cận vấn đề, và đem sự thật vào các sinh hoạt hằng ngày của bà. Tôi xin bà ghi lại mọi thứ bà ăn uống và kiên trì tập luyện thể dục trong vòng một tuần. Một tuần sau, bà sững sờ về sự thật trong chế độ ăn uống của bà. Sự thật là tiêu chuẩn duy nhất mà tôi muốn nhấn mạnh. Bà khám phá mình đã tự lừa dối, mặc dầu bà không ý thức. Nhiều lần bà đã “quên” và đã đưa thức ăn lên miệng. Bà ít tập luyện, hầu như không uống nước lã, mà chỉ uống nước ngọt và rượu nhiều hơn mức quy định. Bà thường tự “lừa dối” khi ở một mình, khi người khác không có mặt, có thể nói là trong bóng tối. Rốt cuộc, chính sự thật đã cho bà được tự do. Chừng nào bà chiếu rọi ánh sáng sự thật vào cuộc sống, vấn đề của bà sẽ biến mất.

Để bảo vệ thói nghiện ngập, người ta thường phủ nhận. Phủ nhận là một quái vật ẩn núp trong bóng tối và sợ bị lôi ra ánh sáng.

Người ta thường ăn uống quá độ trong bóng tối, trong phòng kín. Phủ nhận là một lối sống và việc ăn uống quá độ càng ngày càng trầm trọng hơn cho đến khi người ta chấp nhận sự thật và chiếu ánh sáng sự thật vào đó. Người nghiện ma tuý nặng thường phải đương đầu với sự can thiệp từ bên ngoài, trước khi họ có thể quyết định trở nên tự do. Đó có thể là việc đối chất với gia đình hay bạn bè, qua đó người nghiện buộc phải lắng nghe sự thật. Khi ánh sáng sự thật chiếu rọi mọi ngóc ngách và không còn chỗ tối để lẩn trốn, cuối cùng người nghiện sẽ không thể dối trá, lừa bịp hay xuyên tạc nữa. Anh sáng thì chiếu tỏa rực rỡ. Tuy nhiên, bóng tối và vấn đề chỉ biến mất, nếu người ta quyết tâm ở trong ánh sáng.

Nếu bạn muốn tìm thấy giải pháp thiêng liêng cho mọi vấn đề, thì sự thật hẳn là thành phần cốt yếu của ánh sáng. Bạn hãy can đảm nhìn thẳng vào những năng lực tăm tối trong đời sống và quyết tâm đem ánh sáng sự thật vào những nơi tối tăm. Rồi bạn hãy đem ánh sáng sự thật vào mọi nơi bạn cảm thấy tăm tối. Bấy giờ, ánh sáng của bạn sẽ chiếu toả một năng lực làm tiêu tan sự lừa dối hay sự lọc lừa tinh vi.

4. Sự sáng suốt

Khi bạn sống trong ánh sáng và đem ánh sáng vào nơi tối tăm, bạn hiểu biết vấn đề rõ ràng. Tôi gọi là sự sáng suốt của ánh sáng. Đó là một sự hiểu biết nội tâm, nhờ đó bạn biết rõ và chắc chắc là bạn được nối kết với Thiên Chuá. Sự sáng suốt thì không ở trong bóng tối. Trong bóng đêm, bạn mò mẫm tìm kiếm một vật gì để bám víu và bạn sẽ chộp ngay sự vật đầu tiên mà bạn chạm đến. Trong bóng tối không có sự sáng suốt và cũng không có ánh sáng.

Bạn hãy dọi ánh sáng vào viên kim cương. Bạn sẽ thấy nó trong suốt, rực rỡ và lấp lánh. Trái lại, nếu bạn dọi ánh sáng yếu ớt vào viên kim cương hay đặt nó trong nơi tranh tối tranh sáng, nó sẽ không còn trong suốt nữa. Hình ảnh đó cho thấy tầm quan trọng của sự sáng suốt khi đối diện với các vấn đề, dù là vấn đề của bạn hay của người khác. Nếu bạn không hoàn toàn xác tín là bạn được nối kết với Thiên Chúa, bạn sẽ nghi ngại khi đối phó với vấn đề, và vấn đề sẽ tồn tại một cách bí ẩn và không thể giải thích được. Đem ánh sáng vào nơi tối tăm là xác tín rằng bạn có khả năng vô hiệu hoá vấn đề nhờ ánh sáng của bạn. Một ánh sáng không mờ ảo, không pha trộn. Chỉ có ánh sáng rực rỡ mới có thể giải tỏa mọi trở ngại.

Khi nghiên cứu những bậc thầy vĩ đại trong tác phẩm Sự Khôn Ngoan Qua Các Thời Đại Giác Ngộ Trong Sáu Mươi Ngày, tôi thấy rằng tất cả những bậc thầy đó đều nhấn mạnh đến mục đích của đời sống. Michelangelo và DaVinci có một viễn ảnh rõ ràng và đã chiếu rọi ánh sáng rạng ngời và trong suốt ấy vào các tác phẩm của mình. Thoreau biết rõ điều mình phải làm và đã kiên trì tiến bước, bất chấp mọi hậu quả. Elisabeth Barrett Browning biết rằng bà phải chôn vùi bóng tối sợ hãi do người cha thô bạo gây ra, bằng cách trốn sang ngoại quốc để thực hiện sứ mạng của bà. Tất cả những vĩ nhân mà tôi nêu tên trong sách đều có một mục đích rõ ràng, không hề nghi ngại hay chìm ngập trong bóng tối.

Cũng vậy, bạn có quyền đặt ra một viễn ảnh trong sáng cho đờì sống của bạn và đời sống người khác. Khi bạn tin rằng ánh sáng tinh tuyền có thể làm cho mọi vấn đề trở nên trong sáng, bấy giờ bạn nâng cao năng lực của mình và đặt mình dưới sự hướng dẫn của Thiên Chuá. Sự hướng dẫn của Thiên Chuá thật rõ ràng, không mờ ảo, nhưng là một ánh sáng không vẩn đục.

Sau đây là một vài đề nghị đem ánh sáng vào nơi tối tăm trong cuộc sống của bạn.

THỰC HÀNH

 1.      Thưởng thức vẻ đẹp

Bạn hãy chú ý đến vẻ đẹp làm cho cuộc đời bạn thêm ý vị. Bạn hãy dừng lại để ngắm nhìn và bày tỏ lòng biết ơn vì những giây phút đẹp trong cuộc sống. Ngay cả khi bạn trải qua những giây phút đen tối, bạn cũng hãy tạ ơn, bởi vì tâm tình tạ ơn sẽ giúp bạn buông bỏ bóng tối lại đàng sau. Thưởng thức vẻ đẹp là kết quả của thói quen thường xuyên suy nghĩ về ánh sáng. Bạn hãy tìm kiếm những gì gợi hứng lòng biết ơn hơn sự tức giận. Một khi bạn tập được thói quen đó, bạn sẽ biết thưởng thức vẻ đẹp trong mọi hoàn cảnh.

Harriet Beecher Stowe nhận xét: “Trong mọi hoàn cảnh, trái tim con người luôn khao khát điều thiện.” Vâng, “trong mọi hoàn cảnh” có nghĩa là mọi tình huống, kể cả những tình huống đen tối hay có vấn đề. Trong những giây phút đen tối, bạn hãy dừng lại và tìm kiếm vẻ đẹp. Bạn hãy thực hành mỗi ngày một lần, rồi hai lần, và chẳng mấy chốc bạn sẽ có thói quen thường xuyên tìm kiếm vẻ đẹp khi đối phó với bóng tối.

Đừng giả vờ hạnh phúc khi bóng tối hiện diện trong cuộc sống bạn. Trái lại, bạn hãy quý trọng bản thân và ý thức vị trí của bạn trong thế giới. Bạn hãy nghĩ đến sự kỳ diệu của từng hơi thở. Bạn hãy tỏ lòng thán phục trước vũ trụ bao la. Bạn nên biết rằng mặt trời đang tỏa sáng bên kia đám mây đen và đàng sau những điều có vẻ đen tối là ánh sáng thường hằng mà bạn có thể đi vào, ánh sáng đó sẽ xua tan bóng tối. Những người tự thể hiện mình thì có khả năng nhìn thấy vẻ đẹp khắp nơi và nhờ đó mà đời sống trở nên sinh động. Chỉ cần dừng lại giây lát để cảm nhận vẻ đẹp, bóng tối sẽ tiêu tan. Tôi rất thích lời khuyên của Runi: “Bạn hãy bán sự thông minh mà mua lấy sự thán phục.”

 2.      Thường xuyên đọc những tác phẩm về những người đã vượt qua đêm tối cuộc đời

Khi tôi đọc tiểu sử một người đã vượt qua bóng tối như Helen Keller, tôi cảm thấy phấn khích và muốn đem ánh sáng vào mọi vấn đề mà tôi phải đối phó. Những nỗ lực khắc phục gian khổ của người khác luôn giúp tôi nâng cao tâm hồn.

Lance Amstrong đã chiến thắng căn bệnh ung thư giai đoạn cuối, đã vượt qua cuộc đại phẫu cắt bỏ tinh hoàn, khối u trong phổi, dạ dày và não. Cuối cùng, ông đã chiến thắng trong cuộc đua xe đạp vòng quanh nước Pháp, chạy hơn 2.600 dặm giữa mùa hè oi bức, băng qua các dãy núi. Như để kết thúc những thành tựu của mình, năm sau ông lại chiến thắng trong giải đua xe đạp ấy. Lance là một trong số những tay đua xe đạp cừ khôi nhất của thế giới, dành chiến thắng hai lần liên tiếp. Câu chuyện của ông khiến tôi kinh ngạc và xác tín rằng chúng ta có thể tìm thấy ánh sáng trong những tình huống đen tối nhất và cũng có thể đem ánh sáng vào mọi trở ngại.

Khi tôi xem Lance đua xe đạp, đọc tiểu sử của ông và nghe ông trả lời phỏng vấn, tôi cảm thấy dũng mạnh và thôi thúc tiến lên những đỉnh cao mới. Những đỉnh cao ấy không nhất thiết là về mặt thể lý, nhưng là đỉnh cao của tần số ánh sáng và tinh thần mà tôi có thể vươn tới và chiếu rọi cho những kẻ sống trong bóng tối.

 3.      Bạn hãy lấy ánh sáng trắng bao phủ lên người khác.

Bạn nên nhớ mọi sự đều là năng lực. Chất rắn, âm thanh, ánh sáng, tư tưởng, tinh thần đều là những rung động, những làn sóng chuyển động với một tần số nhất định. Là sứ giả của ánh sáng, bạn có thể giúp người khác xua tan bóng tối trong đời sống của họ. Bạn hãy nghĩ đến ánh sáng, suy niệm và hình dung bạn đem ánh sáng trắng, trong sáng và tinh tuyền cho người khác. Nếu bạn nghi ngờ khả năng của mình, không thể dùng tư tưởng và suy niệm mà chiếu ánh sáng,  thì vấn đề là ở nơi bạn. Bạn hãy thay đổi nhận thức và sự bi quan của mình, bấy giờ bạn mới có thể chiếu rọi ánh sáng lạc quan vào nơi mà bạn nghĩ là không thể được.

Vợ chồng tôi thường tập luyện tỏa chiếu ánh sáng tinh tuyền  trong gia đình. Khi con cái về trễ, chúng tôi lấy ánh sáng bao phủ chúng, truyền năng lực tình yêu cho chúng và đem ánh sáng tình yêu tác động lên chúng. Sau đó, chúng tôi hình dung ra một quang cảnh tươi sáng, không nhuốm màu đen tối của tai họa.

Tôi đã nghiên cứu tinh hoa phát xuất từ con người, đó là năng lực ánh sáng bao bọc quanh ta, giống như trường điện từ. Người ta có thể nhận thấy và biến đổi hào quang đó nhờ việc thực hành linh đạo. Thật vậy, với kỷ thuật chụp ảnh của Kirlian, người ta có thể thấy một hào quang bao quanh các sinh vật mà mắt trần không thể thấy. Nếu chúng ta có hào quang bao quanh và hào quang đó có thể biến đổi theo tư tưởng và cảm xúc chúng ta, thì tất nhiên chúng ta có thể dùng tư tưởng  để chiếu rọi ánh sáng tinh tuyền mà bảo vệ người khác khỏi rơi vào bóng tối. Bạn hãy thử xem. Hãy cởi mở đón nhận mọi sự và đừng bám víu sự gì.

 4.      Hãy tập trung tư tưởng vào ánh sáng và điều bạn muốn, chứ đừng tập trung vào bóng tối và điều bạn không muốn

Bạn hãy nhìn ra ánh sáng ở trong bạn. Hãy đem tư tưởng ánh sáng vào mọi nơi tối tăm. Thế nhưng, người ta thường hành động hoàn toàn trái ngược. Nếu bạn cũng hành động như thế, bạn hấp thụ nhiều ảo tưởng bóng tối hơn.

Nếu tâm tưởng bạn nghĩ đến một tình huống xấu, mọi chuyện khủng khiếp xảy ra và tình hình càng lúc càng tồi tệ, bấy giờ bạn đang đem bóng tối vào đời sống bạn. Cũng vậy, nếu bạn sợ hãi và xao xuyến khi đến gần một người đang sống trong bóng tối, thì bạn đang thông hiệp với bóng tối.  Khi bạn nghĩ đến những tư tưởng u tối như họ, họ cảm thấy được an ủi và thông cảm. Tuy nhiên, bạn chỉ có thể giúp họ xua tan bóng tối, khi bạn đem ánh sáng đến cho họ.

Sự thấu cảm là đặc tính tuyệt vời của năng lực tinh thần. Bạn hãy chuyển tư tưởng thương cảm và yêu thương cho những người sống trong bóng tối. Tuy nhiên, bạn đừng lẫn lộn lòng thương cảm với việc gia tăng bóng tối. Bạn hãy nghĩ đến ánh sáng và tình yêu, sau đó hãy đưa năng lực ánh sáng và tình yêu đó vào nơi tối tăm. Năng lực ánh sáng sẽ xua tan bóng tối. Bạn có thể toả sáng khi ý thức rằng bóng tối chỉ là ảo tưởng, bởi lẽ ánh sáng của Thiên Chuá luôn luôn toả rạng và cảm nghĩ thất vọng và xao xuyến là nguyên nhân phát sinh ảo tưởng bóng tối.  Bạn hãy rộng lòng thương cảm và ý thức rằng mọi sự đều hướng tới sự thiện. Nhiều lần tôi đã nói chúng ta không thể đến nơi không có Thiên Chuá, và nơi nào có Thiên Chuá thì mọi sự đều tốt đẹp.

 5.      Hãy đi ra ngoài ánh sáng mỗi khi tư tưởng đen tối ám ảnh bạn.

Mỗi khi bạn có những tư tưởng không lành mạnh, bạn hãy đứng dậy và để cho ánh sáng lùa vào. Thế rồi, bạn hãy xem ánh sáng đã làm cho bạn cảm thấy thoải mái hơn như thế nào. Khi bạn để cho ánh sáng lùa vào tâm trí, bạn có thể xua tan những tư tưởng đen tối.

Tôi đề nghị bạn xem xét những cảm nghĩ sợ hãi dưới ánh sáng chói ngời của mặt trời. Những cảm nghĩ sợ hãi  thường xuất hiện ban  đêm. Khi bạn xem xét những cảm nghĩ sợ hãi đó giữa ban ngày, thì chúng không bao giờ làm cho bạn khó chịu. Ngày xưa, khi tôi ở trong nhà trẻ, có lần tôi đã nhớ mẹ và sợ không biết mẹ tôi có gặp chuyện gì không. Tôi sợ không gặp lại mẹ nữa. Tâm trí tôi tưởng nghĩ đủ thứ chuyện đen tối và càng ngày càng xao xuyến đến nỗi tôi hoảng sợ và kinh hãi thật sự. Sáng hôm sau, khi ánh sáng xuất hiện, những nỗi sợ hãi đó biến mất và tôi cũng không biết tại sao tôi lại hoảng sợ như thế.

Anh sáng không chỉ làm cho căn phòng bớt u tối, mà còn xua tan những nghi ngờ và cảm xúc khiếp sợ. Anh sáng là một năng lực và tượng trưng cho sự thật này: Thiên Chúa là đường, là sự thật và là sự sáng. Mỗi khi bạn có những tư tưởng không lành mạnh, bạn hãy mời ánh sáng đến.

 6.      Thanh luyện mọi lãnh vực đời sống

Anh sáng thì tinh tuyền. Bóng tối thì ô uế. Bạn hãy loại trừ mọi ô uế khỏi đời sống, vì chúng làm cho ánh sáng tinh thần của bạn thiếu sức nóng và trong sáng. Bạn hãy bắt đầu từ thân xác. Hãy uống nhiều nước tinh khiết và giảm bớt những chất lỏng vẩn đục như nước ngọt có ga, rượu và cà phê. Tám đến mười ly nước tinh khiết mỗi ngày sẽ thanh lọc nhiều chất độc hại, đó là những chất làm cho năng lực suy giảm và cơ thể mất quân bình. Tâm hồn bạn sẽ thanh thoát hơn, trí tuệ sẽ bén nhạy hơn và năng lực tinh thần sẽ mạnh mẽ hơn, nếu bạn thường xuyên uống nhiều nước tinh khiết để thanh lọc cơ thể.

Tôi đã uống nước tinh khiết suốt 14 năm qua, khi vợ tôi khuyên tôi kiêng nước ngọt mà mỗi ngày tôi thường uống khoảng 3 lít. Dần đần tôi đã loại bỏ nước nâu nâu vẩn đục mà chỉ uống nước tinh khiết. Gần 15 năm qua, tôi không bao giờ uống nước ngọt có ga. Thay vào đó, tôi uống nước tinh khiết mỗi ngày tối thiểu ba lít rưỡi.

Bạn hãy thanh lọc thức ăn. Bạn biết thực phẩm nào lành mạnh và thực phẩm nào có hại đối với cơ thể bạn. Mỗi ngày bạn hãy ăn tối thiểu ba trái cây và rau tươi hai lần. Khi bạn loại bỏ những thứ độc hại ra khỏi bàn ăn, bạn sẽ thấy mạnh khỏe hơn nhiều.

Để thanh luyện đời sống trọn vẹn, bạn hãy giữ tư tưởng luôn trong sáng.  Đừng phê phán hay tức giận. Hãy kiểm soát những tư tưởng thiếu trong sáng. Đừng lên án người khác. Nếu bạn hình dung đang chiếu rọi ánh sáng rạng ngời trên những tư tưởng vẩn đục, ánh sáng đó sẽ xua tan tư tưởng vẫn đục. Khi bạn thất vọng và cảm thấy bất lực trước một “vấn đề,” bạn hãy chiếu ánh sáng vào vấn đề đó trong vài giây, bấy giờ những cảm nghĩ ấy sẽ thay đổi. Bạn hãy tự nhủ là chẳng có vấn đề gì, chẳng qua là vì bạn lầm tưởng chúng ta tách rời với Thiên Chuá. Vấn đề nằm trong tâm trí chúng ta.

Khi bạn thanh luyện cơ thể, tư tưởng và ngôn ngữ, bạn cũng đang thanh luyện tất cả tác phong của bạn. Cuối cùng thì bạn đã có thể chiếu rọi ánh sáng tinh trong vào mọi nơi tối tăm mà chính bạn đã tạo ra.

 7.      Bạn hãy lặp đi lặp lại câu Kinh thánh này: “Sự thật sẽ giải phóng anh em”

Bạn hãy ở trong sự thật. Thật vậy, bạn sẽ cảm nghiệm sự tự do của ánh sáng, khi bạn ở trong sự thật và đem sự thật đến cho mọi người.

Nếu bạn dối trá dưới bất cứ hình thức nào, bạn làm cho cơ thể  vẩn đục. Bạn che lấp ánh sáng và buông mình trong bóng tối. Người khác có thể buồn phiền vì bạn không nói điều họ muốn nghe. Tuy vậy, bạn hãy kiên quyết đem ánh sáng vào nơi tối tăm, bất chấp mọi trở ngại. Nếu người ta biết bạn không bao giờ đánh bóng câu trả lời, thì khi gặp khó khăn, họ sẽ muốn lắng nghe bạn.

Tôi đã tham gia thảo luận trên truyền hình nhiều lần trong 26 năm qua. Nhiều nghệ sĩ nổi tiếng đã đem theo cả đoàn tuỳ tùng hùng hậu, nhiệm vụ của những người này là nói những lời tung hô mà các “ngôi sao” muốn nghe. Đám tuỳ tùng được trả tiền để khen ngợi sự diễn xuất của các ngôi sao, cho dù họ trình diễn tẻ nhạt, điên loạn và khiêu gợi trên sân khấu. Tôi tin rằng khi các ngôi sao gặp khó khăn, họ sẽ tìm đến những người nói sự thật với họ.

Vợ tôi là một người như thế. Nhiều lần bà nói thẳng thừng  là tôi ăn uống không tốt, tăng cân, quá hung hăng, ham mê lạc thú, quá chú trọng đến tiền bạc, đánh mất mục tiêu và phương hứớng. Những người nói sự thật gíup tôi đem ánh sáng vào cuộc sống, là nơi mà bóng tối luôn lăm le ùa vào.

Sự thật là ánh sáng. Bạn hãy nói sự thật. Mỗi khi bạn giúp đỡ người khác, bạn hãy trung thực với mình. Có thể là bạn chưa loại bỏ được mọi bóng tối như tác phong thiếu đạo đức hay đồi bại. Tuy nhiên, nếu bạn trung thực với mình và chấp nhận yếu đuối của mình, thì chắc chắn bạn sẽ biến đổi dần dần để vươn tới năng lực tinh thần, trong đó bóng tối không thể tồn tại. Về điểm này, không ai nói rõ hơn William Shakespeare: “Để bản thân bạn trở nên đích thực.”

Để tìm thấy giải pháp thiêng liêng cho mọi vấn đề, lời kinh “đem ánh sáng vào nơi tối tăm” của thánh Phanxicô quả là phương thế hữu hiệu. Anh sáng thì tinh tuyền, đạo đức, sáng suốt và không giả dối. Bạn hãy bước đi trên con đường ánh sáng và bóng tối sẽ tan biến. Không có chọn lựa nào khác. Mỗi khi ánh sáng đi vào, bóng tối không thể tồn tại.


Chương 7

ĐEM NIỀM VUI ĐẾN CHỐN U SẦU

Thật sung sướng khi cuộc đời trôi chảy như một bài ca; nhưng khen thay người có thể mĩm cười, khi mọi chuyện hoàn toàn thất bại. (ELLA HEELER WILCOX)

Khi bạn không cảm thấy phấn khởi và vui tươi, đó là dấu hiệu cho thấy bạn đang sống trong tần số thấp kém và xa rời tinh thần. Nếu bạn không vui tươi và thân thiện, nếu bạn mang bộ mặt ủ dột và hay gắt gỏng, nếu bạn khó mĩm cười và gần gũi với người khác, nếu bạn không yêu thương và nhân ái đối với mọi thụ tạo và mọi người, thì chắc chắn là bạn chưa biết Thiên Chuá. Qua lời kinh trên đây, thánh Phanxicô xin cho mình biết gieo niềm vui vào nơi u sầu và đem Thiên Chuá đến nơi  buồn sầu. Và như thế, người sẽ loại trừ ảo tưởng  đau buồn, tức là ảo tưởng của kẻ không biết Thiên Chuá.

TẠI SAO CHÚNG TA LẪN TRÁNH NIỀM VUI?

Chung ta buồn sầu, khi chúng ta chú tâm vào điều sai trái hay thiếu thốn trong cuộc sống. Tôi thích các tác phẩm của Anthony DeMello, nhất là nhận xét sắc sảo sau đây: “Lý do duy nhất khiến bạn không hạnh phúc trong giây phút hiện tại, đó là vì bạn suy tưởng hay chú trọng đến điều bạn không có.” Buồn sầu là một thói quen nhìn thế giới với con mắt thèm muốn, luôn luôn nghĩ rằng bạn còn thiếu những điều mình đáng thụ hưởng như tiền bạc, sức khoẻ, tình yêu, bạn bè, và cả giờ rảnh. Khi bạn suy nghĩ như thế, bạn cảm thấy buồn.

Trái lại, niềm vui là nhìn thế giới với cái nhìn hạnh phúc vì những điều bạn đang có. Người vui tươi thì cảm thấy hạnh phúc vì những mặt mạnh, tài năng và năng lực của họ, nên họ không cần so đo với người khác. Họ không run sợ trước mặt mạnh, tài sản hay năng lực của kẻ khác. Bạn có niềm vui, vì bạn cảm thấy hạnh phúc về những gì bạn là, những gì bạn có, những gì bạn có thể làm. Niềm vui cũng phát xuất từ nhận thức bạn là một tác phẩm tuyệt diệu của Thiên Chuá.

Nỗi buồn bắt nguồn từ ý thức thiếu thốn. Ý thức thiếu thốn chỉ có thể biến mất, khi bạn cảm nhận sự giàu có của mình.  Tôi rất thích câu Kinh thánh sau đây: “Người cha nói với anh: ‘Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con.’“ (Lc 15,31) Thế thì có gì không thuộc về tôi chứ? Hoàn toàn không! Để chữa trị sự buồn bã, bạn hãy đánh giá cao những của cải bạn đang có và có thể có, nhờ đó bạn không còn lầm tưởng là mình đang thiếu một thứ gì đó, và bấy giờ ảo tưởng buồn phiền sẽ tan biến.

SỐNG VUI TƯƠI

Một lần kia, Leo Buscaglia kể cho tôi nghe một câu chuyện về những người Ai cập cổ. Họ tin rằng sau khi chết, họ phải trả lời hai câu hỏi định đọat cuộc sống mai sau. Thứ nhất: “Bạn đã tìm thấy niềm vui chưa?” Thứ hai: “Bạn có đem niềm vui đến cho người khác không?” Tìm thấy niềm vui tức là tự nguyện đi theo lối sống tập chú vào lòng biết ơn. Bạn có thể sống tâm tình biết ơn, khi bạn không nghĩ đến sự thiếu thốn. Sống vui là chỉ nghĩ đến những tư tưởng vui tươi, ngay cả khi bạn bị lôi cuốn bởi những tư tưởng không vui.

Tư tưởng buồn phiền là hậu quả của nền huấn luyện bạn đã hấp thụ. Người ta dạy rằng bạn chỉ có niềm vui khi cuộc sống diễn ra như ý. Vì thế, bạn đã tiêm nhiễm lối suy nghĩ không biết thưởng thức và tận hưởng niềm vui. Trái lại, bạn có thói quen hướng về sự buồn phiền khi cuộc sống không như bạn mong đợi, và bạn tin rằng buồn phiền là điều tự nhiên! Buồn phiền chẳng tự nhiên đâu! Buồn phiền là một cảm nghĩ sai lầm, một ảo tưởng như mọi ảo tưởng khác. Bạn có thể điều chỉnh tư tưởng sai lầm đó, khi bạn đem niềm vui vào chính. Bạn nên nhớ thế giới không có sự buồn bã, mà chỉ có những người nghĩ đến những tư tưởng buồn bã. “Thiên Chuá thấy mọi sự Người tạo dựng đều rất tốt đẹp” (Stk 1,31). Đối với tôi, “rất tốt đẹp” tức là mang lại niềm vui. Kẻ Lữ Hành vì Hoà Bình có lần đã đặt một câu hỏi đáng cho ta suy nghĩ: “Nếu chúng ta biết Thiên Chuá, thì làm sao chúng ta không hân hoan vui sướng được?”

Tập sống vui tươi là đem tinh thần hay năng lực Thiên Chuá vào mọi nơi bằng cách thay đổi tư duy của bạn. Đó là thái độ mà Albert Einstein muốn nói, khi ông khẳng định bạn không thể giải quyết một vấn đề, trừ phi bạn thay đổi lối suy nghĩ đã tạo nên vấn đề đó. Bạn cảm thấy buồn, khi bạn đánh giá đời sống mình dưới viễn cảnh của  sự thiếu thốn.  Bạn hãy thay đổi tư duy bằng cách hướng nhìn về năng lực tinh thần.

NIỀM VUI LÀ MỘT NĂNG LỰC TINH THẦN

Bạn hãy để ý xem thời gian trôi nhanh như thế nào, khi bạn phấn khởi vui tươi. Trái lại, khi bạn đau buồn và u sầu thì thời gian trôi lững lờ. Khi bạn hứng khởi và chú tâm vào một công việc, thời gian dường như trôi vùn vụt. Tôi đã cảm nghiệm như thế khi diễn thuyết trình hay chuyên tâm vào việc viết lách. Tôi sửng sốt vì thời  giờ trôi đi quá nhanh. Thời giờ trôi nhanh hay chậm là do ảo tưởng. Chúng ta tạo ra thời giờ và phân chia cái hiện tại duy nhất và bất khả phân ly. Thời giờ không hiện hữu, tất cả chỉ là bây giờ.

Khi bạn sống trong niềm vui, kinh nghiệm thời gian hoà tan vào sự duy nhất của tinh thần, và thời gian biến mất. Do đó, khi bạn sống có mục đích và vui sống vì mục đích đó, bạn sẽ có được một năng lực tinh thần cao cả. Sống có mục đích là vui sống trong hiện tại, trong đó thời gian không thể hiện hữu.

Bây giờ bạn hãy để ý xem thời gian trôi đi chậm chạp như thế nào mỗi khi bạn đau buồn. Bạn càng sống trong năng lực sầu khổ, buồn bã, u uất, đau buồn và buồn bực, thì thời  gian càng tỏ ra chậm chạp. Những khoảnh khắc đau buồn dường như vô tận. Khi nhìn đồng hồ, bạn không thể tin chỉ 15 phút mà dài dằng dặc như thế. Albert Einstein đã môt tả thời gian một cách hóm hỉnh, khi ông bàn về sự tương đối: “Khi một người đàn ông ngồi bên cạnh một cô gái đẹp, thì một giờ trôi nhanh như một phút. Tuy nhiên, khi anh ta ngồi trên lò sưởi nóng hổi, thì một phút kéo dài hơn cả giờ. Đó là sự tương đối.”

Niềm vui làm cho  tốc độ thời gian ảo gia tăng, còn buồn phiền thì làm chậm lại. Năng lực là tinh thần. Niềm vui là tinh thần, và chính năng lực tinh thần sẽ vô hiệu hoá năng lực buồn bã.  Chúng ta thường bị lôi cuốn bởi những người có cái nhìn tích cực, vui tươi. Bạn sẽ có cái nhìn tích cực và vui tươi, nếu bạn nhận ra những phúc lành mà cuộc sống ban tặng cho bạn. Nếu bạn có thái độ hân hoan vui sướng, bạn sẽ chiếu toả năng lực tích cực của niềm vui, và năng lực đó sẽ xua tan sự buồn phiền. 

Nếu bạn muốn đem niềm vui vào chốn u sầu, trước tiên bạn phải biến đổi năng lực của bạn và quyết tâm sống trong năng lực niềm vui. Nếu trong mọi việc, bạn thường xuyên ý thức cuộc sống bạn có mục đích, bấy giờ bạn có thể đem niềm vui vào chốn u sầu.

VUƠN TỚI MỤC ĐÍCH

Vươn tới mục đích là đắm mình trong niềm vui, là cách thức vươn tới tần số của tinh thần. Abraham Maslow đã mô tả những cấp bậc thể hiện mình như một tiến trình đi từ những nhu cầu cơ bản như ăn ở, đến nhu cầu thuộc về và thưởng thức vẻ đẹp. Chóp đỉnh của việc thể hiện mình là ý thức sâu sắc về mục đích và ý nghĩa cuộc đời. Đó là nơi ta cảm nghiệm niềm vui thiêng liêng. Thời gian biến mất và bạn hiệp thông với ý thức của Thiên Chúa là khía cạnh cao cả nhất của mình. Trên chóp đỉnh của của việc thể hiện mình, niềm vui là người bạn đường trung thành.

Hạnh phúc tuỳ thuộc phẩm chất tư tưởng của bạn. Điều đó có nghĩa bạn phải buông bỏ mối bận tâm về sự nhận xét của những người chung quanh, tách mình với thành quả của bạn và hết lòng  chú tâm vào những hoạt động trong đời sống. Bạn phải từ bỏ ý định tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình, nhưng hãy đem hạnh phúc đến mọi người bạn gặp gỡ. Tóm lại, bạn có được niềm vui trọn hảo khi bạn nhận thức rằng niềm vui đang ở trong bạn, chứ không ở bên ngoài để bạn nỗ lực tìm kiếm.

Sống có mục đích không phải là vấn đề làm gì hay tổ chức một kỳ nghỉ như thế nào. Bạn không đạt được mục đích nhờ những yếu tố bên ngoài. Trái lại, bạn đạt tới mục đích khi bạn quyết tâm kiềm chế cái tôi của bạn, đồng thời ý thức rằng bạn hằng nối kết với Thiên Chuá và trao phó tâm trí bé nhỏ của bạn cho thượng trí vĩ đại. Vui sống đích thật là để cho năng lực tinh thần hướng dẫn cuộc đời bạn. Nếu bạn ý thức như thế, bạn không cần tự hỏi đâu là mục đích của bạn, hay làm sao đạt được mục đích đó. Trái lại, bạn nhận thấy mọi việc của bạn đều có mục đích, và bạn đem niềm vui vì có mục đích đến cho mọi người. Dù bạn nhổ cỏ trong vườn, đọc tiểu thuyết, cào tuyết, sáng tác một bản hoà tấu, lái xe trên đường hay thinh lặng suy niệm trong phòng ngủ, bạn luôn có niềm vui, bởi vì bạn sống hài hoà với Thiên Chuá chứ không xung đột với Người. Và bạn sẽ nhận thấy rằng, để có được niềm vui vì đạt được mục đích, thì cách thức tốt nhất là trao ban.

TRAO BAN NIỀM VUI LÀ MỘT NIỀM VUI

Để có được hạnh phúc và niềm vui, thì phương thế chắc chắn nhất là hiến dâng năng lực của bạn để làm cho người khác được hạnh phúc. Nếu bạn nỗ lực tìm kiếm niềm vui, niềm vui lẫn tránh, bởi lẽ bạn sẽ bận rộn với việc tìm kiếm. Bấy giờ bạn sẽ cảm nghiệm  “cuộc sống đi theo hướng này, nhưng các kế hoạch của bạn lại theo hướng khác.” Tuy nhiên, nếu bạn cố gắng đem hạnh phúc đến cho người khác, niềm vui sẽ đến với bạn.

Bạn vào đời với hai bàn tay trắng và bạn cũng sẽ ra đi với hai bàn tay trắng. Điều duy nhất mà bạn có thể làm cho cuộc đời là trao ban. Đó là thực chất của một cuộc sống có mục đích. Đó là con đường của niềm vui, khi bạn đối diện với sự buồn chán. Bạn cảm nếm niềm vui, khi bạn cố gắng đem niềm vui đến cho người khác. Thánh Phanxicô hiểu mục đích của đời sống theo ý nghĩa đó.

Trọn phần thứ hai của kinh Hòa Bình là một minh họa về sự thật này: chúng ta có được niềm vui khi trao ban niềm vui. Nếu chúng ta muốn trao ban niềm vui, chúng ta phải có niềm vui trước đã.

Lạy Chúa, xin hãy dạy con tìm an ủi người hơn được người ủi an,
Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết
Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu,

Và người kết luận:

Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh,
Chính khi thứ tha, là khi được tha thứ,
Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.

Tôi nghiệm thấy rằng, đa số những lần tôi buồn bực vì một vấn đề, ấy là vì có người đã nói, đã làm hay không làm một việc gì đó như tôi muốn. Như thế vấn đề nằm ở chỗ đó. Tôi buồn vì hành động của người khác. Dĩ nhiên đó cũng là một ảo tưởng trong tâm trí tôi. Chính trong tâm trí mà tôi cảm thấy có “vấn đề.” Như vậy, đâu là giải pháp thiêng liêng?  Một việc khá đơn giản mà tôi đã không nhận thức sớm hơn.

Giải pháp thiêng liêng là cố gắng đem một chút niềm vui đến cho người khác, rồi nỗi buồn sẽ tan biến. Nếu hành vi của người khác lại khiến tôi buồn, bấy giờ tôi đem niềm vui đến cho người đó. Bạn cứ lặp đi lặp lại cái chu kỳ ấy cho tới khi bạn tìm được giải pháp thiêng liêng. Bạn hãy đem niềm vui đến cho những người gây buồn phiền cho bạn.  Có vẻ khó đấy! Bởi vì cái tôi cứ bảo bạn rằng người ta sai, còn bạn mới đúng. Cái tôi thì thích được xem là đúng hơn hạnh phúc.

Tôi luôn chế ngự cái tôi của mình và cảm nghĩ bất công, để trao ban niềm vui cho những người gây buồn phiền cho tôi. Nỗi buồn tan biến ngay như một phép lạ. Khi tôi trao ban yêu thương và niềm vui cho người khác, nhất là những gây buồn phiền cho tôi, bấy giờ tôi sẽ không còn vấn đề, nó chỉ hiện hữu trong tâm trí tôi mà thôi.

Nếu bạn nỗ tìm niềm vui bằng cách trao ban niềm vui cho người khác, bấy giờ bạn sẽ được biến đổi.  Trước tiên là nơi tư tưởng của bạn, chính nơi đó mà bạn cảm thấy buồn phiền. Khi bạn biến những tư tưởng u buồn thành niềm vui, các cảm xúc cũng thay đổi theo. Bạn sẽ thay đổi nhận thức về sự hạnh phúc thể lý và bắt đầu cảm thấy thoải mái hơn. Bạn cảm thấy khoan khoái, dễ chịu hơn và mạnh khoẻ hơn. Cảm xúc thất vọng, tức giận và chán nản sẽ biến mất, và tác phong của bạn sẽ thay đổi theo chiều hướng tích cực của niềm vui. Bạn sẽ quan tâm đến những người đối xử bất công với bạn, tha thứ và nâng đỡ những kẻ bị coi là thù địch.

Từ tư tưởng đến cảm xúc, từ cảm xúc đến tác phong. Cuộc đời của bạn sẽ không còn vấn đề, khi bạn đạt được mục đích là trao ban niềm vui cho người khác.

Đến đây, bạn có thể tự hỏi: nếu nói là không bao giờ cảm thấy buồn, thì liệu đó có phải là một sự tự lừa dối không. Dĩ nhiên là bạn sẽ cảm thấy buồn, và tôi khuyến cáo bạn đừng giả vờ hạnh phúc và vui tươi khi bạn không hạnh phúc và vui tươi. Như thế, bạn sẽ giải quyết cái nghịch lý đó  như thế nào?

XỬ LÝ SỰ BUỒN PHIỀN

Tác phẩm Một Hành Trình Trong Phép Lạ  tìm hiểu nguyên nhân của buồn phiền, và những cảm xúc tiêu cực như thất vọng, ngu muội, oán thù, nhục mạ và nghi nan, vốn là chủ đề cuốn sách này. Tác giả đã viết:

Sự thật thì không sợ bị đe doạ,
Ảo tưởng thì không hiện hữu,
Ở đây có bình an của Thiên Chuá.

Phải, nhiều khi bạn cảm thấy buồn. Bạn không nên phủ nhận cảm xúc buồn bã, và đừng giả bộ vui vẻ. Phải, điều quan trọng là bạn biểu lộ cảm xúc buồn phiền một cách lành mạnh và đừng mang mặc cảm tội lỗi vì cảm xúc đó. Bạn hãy nhớ lại điều tôi đã lặp đi lặp lại suốt cuốn sách này: Điều gì không phát xuất từ Thiên Chuá thì không thật, mọi sự đều phát xuất từ Thiên Chuá và mọi sự phát xuất từ Thiên Chuá thì tốt. Chúng ta có thể nhất trí rằng sự buồn bã, thất vọng, bệnh tật và oán thù thì không tốt. Nếu chúng không có thật, ắt chúng không hiện hữu;  thế mà bạn cảm thấy sự buồn bã hiện hữu. Đó chỉ là ảo tưởng của một tâm trí tách rời với Thiên Chuá.

Khi bạn hiểu bản chất của sự buồn bã, bạn có thể chấp nhận và trân trọng cảm xúc đó. Nếu bạn muốn, bạn có thể xây một lăng tẩm để tôn thờ nó. Tuy nhiên, nếu bạn muốn xua tan sự buồn phiền, bạn hãy đem năng lực niềm vui vào nơi u sầu. Khi sự buồn phiền chợt đến trong cuộc, bạn hãy trao cho nó một nụ hôn từ biệt. Sự buồn phiền không thể hiện hữu cùng một lúc với năng lực của niềm vui. Tại sao thế? Bởi vì nỗi buồn không có thật, nó chỉ hiện hữu trong tâm trí cái tôi của bạn. Tình yêu Thiên Chuá thì có thật. Niềm vui là tình yêu của Thiên Chuá. Niềm vui không bao giờ bị đe doạ.

Buồn phiền thì không có thật, mà chỉ là sản phẩm hão huyền của tâm trí. Nếu bạn biết được sự thật đó, bấy giờ bạn sẽ không còn khư khư bênh vực  quyền được phép buồn của bạn. Bạn sẽ thấy rằng hễ khi nào bạn cố bênh vực quyền được buồn và chán nản của bạn, thì bạn chỉ cảm thấy buồn phiền hơn mà thôi. Bạn hãy quyết định sống theo năng lực tinh thần của niềm vui. Cuối cùng, bạn sẽ có được năng lực tinh thần như bản tính của bạn. Khi bạn đọc tiểu sử các hiền nhân và thánh nhân, bạn thấy các ngài là những con người vui tươi, tự do và hết lòng yêu thương mọi sinh vật. Chương trình sống của các ngài không có chỗ cho sự buồn phiền.

Người ta hỏi Nisargadatta Maharaj: “Trong khi người ta tỏ vẻ buồn phiền và thất vọng vì chiến tranh, nghèo đói hay những thảm họa như thế, còn ông thì không, tại sao vậy?”  Ong trả lời thật tuyệt: “Trong thế giới của tôi, không có gì bất ổn cả.” Ong sống trong thế giới tinh thần, và những điều khác chỉ là ảo tưởng. Bạn hãy ra khỏi thân xác và những gì thuộc về thân xác, rồi quan sát mọi sự như một quan sát viên. Từ viễn cảnh đó thì không thể có  sự buồn phiền. Người thể hiện mình thường xuyên sống trong sự phấn khởi, vui tươi và hạnh phúc. Có thể là bạn chưa thể hiện mình, nhưng tôi đoán là đang bạn khao khát thể hiện mình, nếu không thì bạn đã không kiên trì đọc cho tới đây. Nếu thế, bạn hãy quyết tâm đem  niềm vui vào nơi u sầu; đó là cách thức thể hiện chính mình. Sau đây là một vài đề nghị đem niềm vui vào nơi u sầu.

THỰC HÀNH

 1. Hãy nhìn nhận bạn buồn phiền, ý thức là nó không có thật, rồi hãy buông bỏ đi

Đừng giả vờ hạnh phúc khi đối phó với sự buồn phiền. Trái lại, bạn hãy nhìn nhận mình đang buồn phiền, sau đó hãy tự hỏi bạn có muốn ở trong sự buồn phiền không. Nếu bạn không muốn ở trong sự buồn phiền, thì bạn hãy tiến thêm một bước nữa bằng cách ý thức rằng cảm nghĩ buồn phiền bắt nguồn từ lối suy nghĩ của bạn. Sự buồn phiền chỉ ở trong tư tưởng bạn; nó không hiện hữu  trên thế giới.

Bạn có quyền được phép buồn và ở trong sự buồn phiền bao lâu tùy ý bạn. Tuy nhiên, bạn hãy biết rằng buồn phiền là hậu quả của tư tưởng và năng lực tiêu cực của bạn. Sau đó, bạn hãy buông bỏ buồn phiền đi.  Bạn có thể buông bỏ sự buồn phiền, khi bạn đem tư tưởng vui tươi vào hiện tại và nỗi buồn sầu sẽ tiêu tan. 

Nếu bạn muốn, bạn có thể thực hành kỹ năng đơn giản này trong vài tuần. Sau khi bạn nhận biết  cảm xúc buồn phiền, thì điều quan trọng là quyết định lấy niềm vui thay cho buồn phiền. Đó là giải pháp thiêng liêng cho vấn đề buồn phiền.

 2. Bạn hãy chiếu năng lực niềm vui cho người buồn sầu.

Bạn hãy lắng nghe và thông cảm với người đau khổ và buồn phiền, nhưng bạn hãy quyết tâm sống trong niềm vui. Bấy giờ bạn đem năng lực tinh thần vào trong hoàn cảnh đau thương đó. Sự buồn phiền không thể tồn tại khi đối diện với năng lực tinh thần. Người ta không thể giao đấu  với người không muốn đấu đá. Rốt cuộc, địch thủ  sẽ rút lui hay từ bỏ con đường võ nghệ. Bạn hãy hành động như thế khi gặp kẻ thích ở trong sự buồn phiền. Họ sẽ nhận thấy bạn không muốn ở trong năng lực tiêu cực như họ. Vì thế, họ sẽ  đi tìm một người  khác muốn chia sẻ gánh nặng buồn phiền với họ, hay họ sẽ không buồn phiền nữa vì bạn quyết tâm đem lại niềm vui cho họ.

Khi người ta chia sẻ với tôi về sự buồn phiền của họ, tôi thường trả lời như thế này: “Nếu bạn muốn thì mọi chuyện sẽ khá hơn; bạn sẽ hạnh phúc, bất kể điều gì đã xảy ra,” hay “Bây giờ bạn cảm thấy buồn, nhưng tôi tin chắc bạn sẽ vượt thắng và ngày nào đó, khi nhìn lại chuyện này, bạn sẽ nở nụ cười trên môi.” Tôi cố gắng thực hiện quyết tâm là phải sống hạnh phúc khi đương đầu với trở ngại của mình hay trở ngại của những kẻ đang vật lộn với cuộc sống. Bằng cách đó, tôi chiếu tỏa năng lực của mình và giúp người ta loại nỏ sự buồn phiền.  Triết gia Aristote khẳng định: “Hạnh phúc là ý nghĩa và mục đích của đời sống; hạnh phúc là tất cả mục tiêu và cùng đích của đời sống con người.” Bạn cần nhớ lời khôn ngoan ấy mỗi khi bạn gặp tư tưởng buồn chán nơi mình hay nơi người khác.

 3. Qua sự buồn phiền của người khác, bạn hãy rút ra bài học cho mình

Vâng, khi bạn chạm trán với năng lực tiêu cực, bạn cũng có thể rút ra được lợi ích. Họ là thầy vĩ đại của bạn! Họ nhắc cho bạn biết rằng bạn chưa làm chủ được bản thân. Họ cho bạn cơ hội để quyết định ở trong niềm vui và bình an. Qua sự buồn phiền của người khác, bạn biết vượt thắng năng lực buồn phiền.

G.I. Gurdjieff lãnh đạo một cộng đoàn thánh linh ở Pháp. Qua câu chuyện của ông, chúng ta thấy rằng sự hiện diện của những người năng lực tiêu cực cũng có lợi cho chúng ta. Trong tác phẩm Những Quy Luật Phổ Quát Của Cuộc Sống, ông John Marks Templeton đã kể lại như sau:

“Tại một viện dưỡng lão nọ, có một cụ già khó tính – bực bội, bẩn thỉu, gây gỗ với mọi người và không chịu để cho nhân viên quét dọn nhà cửa hay giúp đỡ bất cứ cách nào. Không ai có thể hợp với cụ. Cuối cùng, sau nhiều tháng sống tại viện dưỡng lão, cụ bỏ đi Paris. Gurdjieff đi theo và thuyết phục cụ trở về, nhưng cụ nhất mực từ chối. Cuối cùng, Gurdjieff hứa biếu cho cụ một số tiền lớn nếu cụ trở về viện dưỡng lão. Ong cụ từ chối sao được?

Khi ông cụ trở về, mọi người kinh ngạc. Tuy nhiên, khi biết rằng cụ được trợ cấp nhiều hơn những người khác, mọi người sùng sục nổi giận. Gurdjieff mời mọi người đến họp. Sau khi nghe họ than phiền, ông cười và giải thích: “Ông cụ này giống như men để làm bánh mì. Không có cụ ở đây, quý ông quý bà sẽ không bao giờ biết tức giận, cau có, kiên nhẫn và thương cảm là gì. Đó là lý do tôi  thuê ông cụ ở lại đây.”

Mọi kinh nghiệm buồn phiền đều cho chúng ta những bài học quý báu và giúp chúng tiến triển về mặt tinh thần.  Bởi thế, bạn hãy biết ơn những người đã cho bạn cơ hội đó.

4. Bạn hãy vươn tới mục đích, vì niềm vui là ở đó

Nếu bạn không biết đâu là mục đích của đời mình, thì tôi đề nghị với bạn là hãy trao ban, đó là mục tiêu duy nhất của đời sống bạn. Mỗi khi bạn buông bỏ đam mê của mình và phục vụ tha nhân, bạn đang vươn tới mục đích.

Khi bạn cảm thấy cô đơn, buồn bã hay chán nản, bạn hãy dừng lại và tự hỏi: “Tôi làm gì để phục vụ?” Rồi hãy quan tâm phục vụ trong những chuyện nhỏ và bạn sẽ bạn cảm nghiệm niềm vui của việc phục vụ. Như thế là đem niềm vui đến chốn u sầu. Làm như thế là bạn tiến triển trong việc thể hiện mình. Sống có mục đích là một trong những bậc thang của việc thể hiện mình . An ủi người khác là một hành động có mục đích. Giúp người già cả băng qua đường hay nhường chỗ cho một người lạ là những hành động có mục đích. Một lời chào thân thiện hay gởi thiệp chúc mừng cũng là những hành động có mục đích. Những hành động đó mang lại cho bạn niềm vui và khử trừ sự buồn phiền nơi mình hay nơi người khác.

 5. Hãy chấm dứt tranh cãi và chia sẻ sự thật của bạn

Bạn hãy lập danh sách những người mà bạn phải gọi điện thoại, nếu bạn chỉ còn sống mỗi môt ngày. Hãy tưởng tượng bạn sẽ nói gì với họ. Rồi hãy tự hỏi bạn đang chờ đợi gì nơi họ. Thực tế là không ai nắm chắc được ngày mai. Bạn hãy chia sẻ cảm nghĩ với những người bạn hết lòng yêu mến. Bạn hãy nài xin sự tha thứ của những người mà bạn xúc phạm hay thiếu trân trọng. Nếu các tổn thương kéo dài trong cuộc sống, hôm nay bạn hãy nỗ lực thay thế bằng niềm vui. Bạn hãy gởi hoa, gọi điện thoại, viết thơ. Bằng văn phong vui tươi, bạn hãy cho người ta biết bạn muốn xoá bỏ nỗi buồn. Nếu bạn thực hành như thế, bạn đang sống trong tần số của tinh thần, và đã tìm thấy giải pháp thiêng liêng cho vấn đề buồn phiền, bằng cách lấy sức mạnh tinh thần của niềm vui xóa tan sự buồn phiền.

 6. Niềm vui sẽ đến trong sự tĩnh lặng

Tôi rất tâm đắc với câu Kinh Thánh Cựu Ước sau đây: “Hãy ở yên, rồi anh em sẽ biết Ta là Thiên Chuá.” Hai từ chủ chốt trong câu này là  ở yên  và biết. Như tôi đã nói, Biết là tiếp xúc cách ý thức và kinh nghiệm trực tiếp. Ở yên ám chỉ sự tĩnh niệm, trong đó bạn biết được điều không thể phân chia và sự thinh lặng thì không thể phân chia, cũng như Thiên Chuá không thể bị phân chia. Bây giờ, chúng ta tham khảo Kinh Thánh Tân ước: “Niềm vui là hoa quả của Thần Khí.” Nếu bạn ở yên, bạn sẽ biết được Thiên Chuá, và niềm vui là hoa quả của Thiên Chuá.

Tôi khuyên bạn hãy ở yên trong tĩnh lặng, nhất là khi bạn bị bao vây bởi sự buồn phiền. Mới đây, vợ tôi hết sức buồn sầu con cái. Bà hầu như không ngủ được, vì một núi khó khăn phải giải quyết. Khi tôi đến an ủi: “Em yêu, hẳn em buồn và mệt mỏi vì những khó khăn em phải gánh chịu,” nhưng cô đã trả lời không chút do dự: “Không hẳn thế đâu! Nhờ suy niệm mà em đã có thể bình thản và vui tươi ngay cả khi mọi chuyện rối tung lên.” Nhờ suy niệm, cô đã tìm thấy thần dược chữa trị sự buồn phiền. Bạn hãy tập suy niệm mỗi ngày để đem niềm vui vào chốn u sầu.

 7. Đọc tiểu sử thánh nhân và hiền nhân

Đó là cách thức tuyệt vời để đem năng lực tinh thần vào thế giới của giác quan và vật chất. Các thánh nhân và hiền nhân thì không rầu rĩ hay chán nản. Các ngài là những con người  có mục đích, đầy quyết đoán và say mê, khao khát đạt tới mục đích và tràn đầy niềm vui.

Riêng tôi, tôi không đủ thời giờ thực hiện mọi điều mơ ước. Vì thế, tôi không bao giờ phí sức vì sầu muộn hay than thân trách phận. Dĩ nhiên, thỉnh thoảng tôi cũng bị tổn thương và buồn phiền. Tuy nhiên, vì quý trọng thời giờ và khao khát hoàn thành số phận của mình, tôi dành rất ít thời giờ cho sự buồn phiền.

Bạn hãy bắt chước những bậc thầy vĩ đại mà bạn ngưỡng mộ. Các ngài luôn hạnh phúc, tươi cười và tìm thấy niềm vui trong những sự vật nhỏ bé nhất. Một con châu chấu, một cái vỏ sò, bóng cây trên nền trời đen sẫm, ngay cả một viên kẹo cũng làm cho các ngài tràn ngập niềm vui. Bạn hãy đọc sách về những con người thần thánh đó. Hãy hành hương tôn kính các ngài, hãy trao đổi với những người sùng mộ các ngài, hãy đắm mình trong năng lực của các ngài, bấy giờ bạn sẽ tìm thấy những người luôn luôn đem niềm vui đến nơi u sầu, bởi vì các ngài là hiện thân của niềm vui.

 8. Cảm nếm hạnh phúc vô biên

Trong tác phẩm Những Quy Luật Phổ Quát Của Cuộc Sống, John Templeton đề nghị bạn hãy ý thức mình vô cùng hạnh phúc.

Bạn hãy ý thức mình  vô cùng hạnh phúc! Những lời đó tuy đơn sơ, nhưng có khả năng giúp bạn phát huy một thái độ tích cực trong cuộc sống. Khi bạn cảm thấy vô cùng hạnh phúc – bất chấp hoàn cảnh bên ngoài -, bấy giờ toàn thể con người bạn được biến đổi. Tư tưởng, nét mặt, sức khoẻ, thái độ của bạn sẽ trở nên rạng rỡ hơn.

Tôi đã tập phương pháp này kể từ khi tôi đọc được cuốn sách của John Templeton. Tôi tự nhủ: “Bất kể chuyện gì đang xảy ra, giờ này tôi vẫn cảm thấy hết sức hạnh phúc.” Và thật kỳ diệu! Tôi cảm nhận niềm vui của năng lực thần thiêng và bí ẩn. Khi áp dụng phương pháp của John Templeton, tôi cũng hình dung cắt liên lạc với thế giới vật chất và nối kết với Thiên Chuá. Trong khi tôi hình dung như thế, tôi tự nhủ: “Tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc.” Bạn hãy thử đi. Bạn sẽ nhanh chóng biến đổi nỗi buồn thành niềm vui.

Đến đây, tôi xin kết thúc 7 lời nguyện của thánh Phanxicô Atxidi. Những lời nguyện đó tượng trưng cho giải pháp thiêng liêng cho mọi vấn đề. Nếu bạn biết gieo 1) bình an, 2) tình yêu, 3) tha thứ, 4) đức tin, 5) hy vọng, 6) ánh sáng, 7) niềm vui, bạn sẽ loại trừ được mọi vấn đề. Bảy yếu tố tinh thần đó xua tan 7 ảo tưởng 1) hỗn loạn, 2) oán thù, 3) lăng nhục, 4) nghi nan, 5) thất vọng, 6) bóng tối, 7) buồn phiền.

Chừng nào bạn nhận biết bạn đang tìm kiếm những của cải vật chất và hạn hữu, bấy giờ bạn khám phá ra sự thật. Ảo tưởng sẽ biến mất nhờ sự thiện là Thiên Chuá, Đấng không hề biết sự dữ.

Để kết thúc, tôi xin ghi lại một đoạn văn trong sách thánh Bhagad-Gita. Trong cuộc đối thoại với Krishna (Thiên Chuá),  chiến sĩ Arjuna đặt câu hỏi: “Ai là kẻ giác ngộ?” Sau mỗi câu trả lời của Thiên Chúa, tôi xin thêm một vài lời bình. Mời bạn thưởng thức những câu trả lời của Krishna (bản dịch của Eknath Easwaran). Câu chuyện này có thể tóm tắt các thông điệp của cuốn sách.

Arjuna: Lạy Krishna, xin Ngài  cho con biết về những người luôn sống trong sự khôn ngoan, hằng ý thức Bản Thân. Họ ăn nói như thế nào? Ngồi kiểu nào và đi lại như thế nào?

Sri Krishna: Những người sống trong sự khôn ngoan thì nhận ra mình trong mọi sự và mọi sự trong mình, tình yêu đối với Chúa Tình Yêu thiêu rụi mọi ước muốn ích kỷ và dục vọng xâu xé con tim họ.

Những kẻ giác ngộ biết rằng chỉ có một quyền năng duy nhất và họ luôn luôn nối kết với bản chất tinh thần. Không hề tách rời với Thiên Chuá. Tình yêu của tinh thần mạnh mẽ đến nỗi trở thành sự hiểu biết. Bạn có thể quay về với sự hiểu biết để loại bỏ vấn đề dục vọng xâu xé con tim. Tình yêu đối với “Chúa Tình Yêu” chính là năng lực tinh thần.

Sri Krishna: Họ không giao động vì buồn phiền hay thèm muốn khoái lạc, họ tự do chứ không làm nô lệ cho sự dâm dục, sợ hãi và tức giận.

Kẻ giác ngộ thì tự do, bởi vì họ đã vượt thắng những năng lực thấp kém như dâm dục, sợ hãi và tức giận. Họ lấy năng lực tinh thần xóa tan ảo tưởng.

Sri Krishna: Họ không còn bị xiềng xích bởi những bám víu ích kỷ. Họ không sung sướng vì vận may, cũng không chán nản vì vận rủi. Họ là những nhà tiên tri.

Kẻ giác ngộ không đồng hoá hạnh phúc hay thành  công với những việc tốt xấu trong thế giới hữu hình. Họ không bám víu những việc đó và vì thế mà cuộc sống họ không có vấn đề.

Sri Krishna : Giống như con rùa  thu chân vào vỏ, người khôn ngoan có thể kiềm chế giác quan bất cứ khi nào họ muốn.

Kẻ giác ngộ sống bởi năng lực tinh thần, tức là tình yêu, sáng tạo, trực giác, nhân từ, tha thứ, nhịn nhục, hân hoan và không làm nô lệ cho giác quan. Họ có thể dập tắt sự thèm muốn của giác quan và ngăn chặn những đòi hỏi của giác quan.

Sri Krishna: Mặc dù những kẻ giác ngộ tiết chế khoái cảm, họ vẫn còn thèm muốn. Tuy nhiên, sự thèm muốn sẽ biến mất, khi họ gặp được Chúa Tình Yêu.

Kẻ giác ngộ nhận thức rằng “mọi vấn đề” đều bắt nguồn từ việc tách rời với Thiên Chuá. Mọi vấn đề sẽ biến mất, một khi họ tiếp xúc với Thiên Chúa cách ý thức. Từ đó, họ tìm thấy giải pháp thiêng liêng  cho mọi vấn đề.

Sri Krishna: Đối với những người đi theo con đường đó, tâm trí họ vẫn cảm thấy sự lôi cuốn của dục vọng. Tuy nhiên, người khôn ngoan thì biết chế ngự dục vọng, và luôn hướng lòng trí về Ta.

Khi chúng ta chế ngự cái tôi và sống trong năng lực tinh thần, những sự quyến luyến và bám víu với thế giới vật chất sẽ tiêu tan.

Sri Krishna: Khi con không ngớt nghĩ đến đối tượng gây ra khoái cảm, con sẽ quyến luyến. Sự quyến luyến sinh ước muốn và thèm khát chiếm hữu, và tức giận khi bị cản trở. Sự tức giận làm cho óc phán đoán nên mù tối; con không thể rút kinh nghiệm từ những lỗi lầm trong quá khứ. Con mất khả năng chọn lựa giữa điều khôn ngoan và ngu xuẩn, và phí phạm cuộc sống. Nếu con sống giữa thế giới của giác quan mà không bám víu cũng không ác cảm, bấy giờ con không còn đau khổ, nhưng sống trong bình an và khôn ngoan của Bản Ngã.

Bám víu bất cứ điều gì rốt cuộc cũng gây ra vấn đề. Khi chúng ta buông bỏ, chúng ta có thể lấy bình an và tình yêu của tinh thần tác động lên những điều chúng ta bám víu. Bấy giờ, chúng ta sẽ không còn tức giận, thất vọng, nghi nan, bi quan và thù oán. Năng lực tinh thần làm cho chúng ta tự do sống trong sự khôn ngoan và bình an của Thiên Chúa là Chúa Tình Yêu.

 Sri Krishna: Tâm trí bất nhất thì chẳng khôn ngoan. Tâm trí bất nhất làm sao  suy niệm và bình an? Khi con không có bình an, làm sao có được niềm vui?

Khi chúng ta nối kết với Thiên Chuá, chúng ta sống trong sự rung cảm của tinh thần. Chúng ta sống trong sự rung cảm của tinh thần bằng cách đi vào sự thinh lặng bất khả phân ly. Qua suy niệm trong tĩnh lặng, chúng ta cũng đi đến hiệp nhất –thống nhất. Hiệp nhất thì không thể phân chia. Đó là nơi chúng ta cảm nếm sự bình an và niềm vui.  Đó là nơi chúng ta tìm thấy giải pháp cho mọi vấn đề phát sinh từ một tâm trí bất nhất.

Sri Krishna: Con hãy sử dụng mọi khả năng để giải thoát giác quan khỏi sự quyến luyến hay những cảm xúc như ác cảm, và hãy sống trong sự khôn ngoan của Bản Ngã. Người khôn ngoan nhận thấy ánh sáng trong đêm tối của mọi thụ tạo. Điều mà thiên hạ gọi là ngày, thì người khôn ngoan xem là đêm đen của u mê.

Đêm tối sẽ tan biến khi bạn nhận biết ánh sáng luôn luôn chiếu toả. Anh sáng mặt trời và ánh sáng của Thiên Chuá không bao giờ tàn lụi, bất chấp mọi cảm nhận của giác quan và sự quyến luyến.

Sri Krishna: Các dòng sông chảy ra đại dương, nhưng không thể lấp đầy đại dương bao la. Các dòng suối kỳ diệu của thế giới cảm giác cũng chảy vào biển cả bình an, tức là sự khôn ngoan.

Sự phong phú của Thiên Chuá thì vô tận. Bạn có thể uống thoả thích nơi mạch suối không bao giờ cạn của tình yêu, ánh sáng, niềm vui và hài hoà, và bấy giờ bạn sẽ biết sự bình an trọn hảo.

Sri Krishna: Khi con thoát ra khỏi ngục tù của “cái tôi, cho tôi,  của tôi,” con sẽ được tự do hiệp nhất với Chúa Tình Yêu. Đó là tình trạng tuyệt hảo. Con hãy đạt cho được tình trạng đó và hãy đi qua cái chết mà đến sự bất tử.

Khi bạn sống trong trường lực của Thiên Chúa, bạn sẽ tìm thấy giải pháp thiêng liêng cho mọi vấn đề.

Wayne Dyer

There's A Spiritual Solution to Every Problem

Chuyển ngữ: Nguyễn Ngọc Kính


Xem thêm:
Bài mới:
Bài cũ: