Tỉnh dòng Phanxicô Việt Nam

Những người mang quà tặng Phúc Âm

Monday, May 21st

Last update06:02:34 AM GMT

Thánh Phanxicô tuân phục Giáo Hội

francis_churchThánh Phanxicô Átxidi là một người Công giáo chính cống. Ngài sinh ra trong một gia đình Công giáo, được rửa tội ít ngày sau đó và mang tên thánh là Gioan. Khi là thiếu niên, cậu Gioan học ở trường đạo do linh mục coi sóc, và hầu như mọi người sống chung quanh cậu đều là người Công giáo, mặc dầu với nhiều trình độ hiểu biết đạo đức và học vấn khác nhau. Cậu cảm nhận ơn hoán cải khi là một thanh niên – không phải là cải qua đạo mới – nhưng là bắt đầu sống đức tin công giáo một cách sâu sắc và chân thành hơn. Tuy nhiên, mối quan hệ của Phanxicô với Giáo hội thật là độc đáo, và mặc dầu Ngài tin vào Giáo hội, Ngài không muốn trở thành linh mục hay một đan sĩ, vốn là một sự lựa chọn tu trì chủ yếu của thanh niên thời Ngài. Thay vào đó, Ngài mở đầu một phong trào thiêng liêng đặc biệt trong khuôn khổ cơ cấu giáo luật của Giáo hội Công giáo.

Phanxicô nói rằng Ngài không muốn trở thành linh mục vì Ngài cảm thấy mình bất xứng. Tuy vậy, nếu người ta đọc giữa các hàng chữ, người ta có thể kết luận rằng Ngài không được kêu gọi gia nhập một trong các Dòng tu đã có trong Giáo hội. Bởi vì nếu Ngài trở thành linh mục hay kinh sĩ, Ngài phải đi vào một truyền thống phẩm trật và thuộc hàng giáo sĩ, vâng lời với vị giám mục luôn quan sát đường lối và và cách thức mọi việc cần phải làm. Hoặc nếu Ngài trở nên một đan sĩ, là một sự chọn lựa tu trì khác, Ngài phải đi vào một lối sống đã có cơ cấu sẵn rồi. Trong khi đó, Phanxicô đã biết nhiều về lối sống đầy đủ tiện nghi nơi nhiều tu sĩ, giáo sĩ và giám mục, nên Ngài tránh lối sống tu trì truyền thống và chọn lựa một lối sống riêng cho mình, vì Ngài muốn được tự do sống Tin mừng theo cách hiểu của Ngài. Lối sống tu trì cũ không phù hợp với lý tưởng của Ngài về Vita Evangelica (Lối sống Tin Mừng), hoặc Lối sống Tin Mừng Nghèo Khó trọn vẹn. Phanxicô, con người đền tội, tìm cách sống đức nghèo như Chúa Giêsu đã chỉ thị trong Tin mừng theo thánh Mátthêu: “Đừng đem gì theo khi đi đường...” Hơn nữa, Ngài mong muốn phong trào của mình được cơ cấu để phục vụ tình anh em, chứ không theo cách hiểu là phục vụ quyền lãnh đạo phẩm trật, và tuân phục cách nô lệ, như thói quen trong các tu viện và giáo phận thời ấy.

Do Phanxicô liên lỉ chống lại cách thức tu trì thời ấy như vậy, Ngài đã được gọi là người Thệ phản đầu tiên, chàng hippie đầu tiên, và là người bảo vệ môi trường đầu tiên. Các người chống đối giáo sĩ thích nhắc nhở quan điểm này của Phanxicô, trong đó lý tưởng nguyên thủy của Ngài đã bị gạt bỏ bởi Giáo hội công giáo bảo thủ thời đó. Việc này khởi đầu với ông Paul Sabatier, nhà Tin lành Pháp, là người đầu tiên nghiên cứu tiểu sử của Thánh Phanxicô từ một quan điểm phê bình vào cuối thế kỷ 19. Sự thật chính là mặc dầu Phanxicô có đời tu thật độc đáo, Ngài không hề chống Giáo hội, như chúng ta thấy rõ. Phanxicô vẫn là Công giáo theo cách riêng của Ngài, và niềm tin của Ngài là chính thống trong suốt đời mình. Ngài muốn nỗ lực sống cuộc đời của mình và Luật Dòng với sự chuẩn y của bề trên trong Giáo hội; Ngài tìm lời khuyên và hướng dẫn của các Giám mục; Ngài cho phép các lời dạy và chỉ thị của Giáo hội hướng dẫn Ngài; Ngài có lòng mến mộ Đức Mẹ cách riêng, Ngài thờ phượng và tôn sùng Chúa Giêsu trong Phép Thánh Thể. Và mặc dầu nhiều giáo sĩ thời Ngài có đời sống phóng túng và tội lỗi, Ngài không hề lên án các vị - điều này là trái ngược với quan điểm của nhiều người đồng thời với Ngài, cả nơi người Công giáo và người các tôn giáo khác, vì họ đưa ra các lời kết án và tố cáo các giáo sĩ hư hỏng.

Nói rằng Phanxicô là Công giáo xem ra là kỳ khôi, bởi vì Ngài sống ở thời thượng Trung Cổ, vốn là ba thế kỷ tốt lành trước khi Martin Luther chào đời. Không phải mọi người ở Tây Âu trước thời Cải cách là Công giáo cả sao? Sự thật là nền văn hóa tôn giáo Trung Cổ là ít thuần nhất, hơn đa số đã nghĩ. Cuộc sống phóng túng nơi nhiều giáo sĩ và tu sĩ đã dẫn đến các cải cách của Giáo hoàng Gregory trong thế kỷ 11, vốn đã gây ra vấp phạm và bất mãn nơi giáo dân. Các chỉ trích về Giáo hội linh mục, tu sĩ và Giám mục là chuyện thường tình.

Nhiều giáo dân bất bình đã chọn Lối sống Tin Mừng (Vita Evangelica) Lối sống các Tông đồ (Vita Apostolica), họ đi khắp nơi nói lời chống đối lối sống giàu sang và đặc quyền của giáo sĩ, vì lối sống này thật khác xa với lối sống Nghèo khó Tin Mừng của chúng ta. Các nhà giáo dân giảng dạy này thường cho rằng chỉ có mình là Kitô hữu đích thực mà thôi, và muốn chứng minh như thế bằng cách lấy các đọan Kinh thánh để nói rằng lối sống của họ là phù hợp với Kinh thánh, trong khi lối sống của nhiều giáo sĩ Công giáo là không được như vậy. Và họ không cần nói nhiều để thuyết phục người nông dân ít học thấy được sự tương phản giữa cuộc sống quá thiếu thốn của họ, và sự giàu sang xa hoa nơi nhiều giáo sĩ.

Những người nổi loạn nhất nơi các phong trào không chính thống này là nhóm Cathar, một nhóm phát sinh ở Đông Phương, họ có các niềm tin nhị nguyên lặp lại niềm tin của thuyết Manikêô thuộc thế kỷ thứ 5, là thời mà thánh Âu Tinh trở lại Công giáo. Phá Cathar, còn gọi là phái Albigeois, tin vào hai vị chúa – chúa tốt lành của tinh thần và chúa ác dữ của vật chất. Do đó, họ lọai bỏ thế giới này vì là sự dữ (như việc sinh con cái nhiều càng làm cho vật chất xấu dữ hơn nữa), và thay vào đó họ chọn sống nghèo khó. Tuy vậy, họ tự gọi mình là Kitô hữu, nhưng các niềm tin của họ là khác xa với các giáo huấn chính thống của Giáo hội chúng ta.

Có hai nhóm khác rơi vào lạc giáo, không phải chủ yếu do niềm tin sai lạc, nhưng do ly khai: phái Humiliati (Khiêm hạ) và phái Waldo (tức phái Vaudois). Cả hai phái này chọn lối sống giáo dân đền tội, sống nghèo khó Tin Mừng và đi khắp nơi rao giảng. Điều thú vị đáng chú ý là cả hai nhóm khởi đầu như là nhóm chính thống, và cố gắng rao giảng chống lại nhóm lạc giáo Cathar, bênh vực cho Giáo hội Công giáo. Phái Humiliati có đông đảo người đi theo, và lúc đầu được hàng giáo phẩm phê chuẩn lối sống của họ. Tương tự như gia đình Phan sinh, họ được chia làm ba Nhánh: kinh sĩ, tu sĩ và giáo dân. Tuy nhiên, họ không được phép đầy đủ để rao giảng Tin mừng – họ chỉ có thể giảng dạy trong giáo phận nào mà giám mục ở đó cho phép mà thôi. Đó có thể là sự suy vi của họ, nhưng một số người không biết chỉ thị này, và vẫn cứ rao giảng nơi nào họ muốn. Điều này dẫn đến sự ly khai, và kết quả là vạ tuyệt thông. Tuy vậy, chỉ nên xét theo từng trường hợp, dựa vào hòan cảnh cá nhân là chính thống hoặc phi chính thống. Sau đó, nhiều người đã tái hiệp thông với Giáo hội.

Phêrô Waldo, cũng như phái Humiliati (và cũng giống Phanxicô), đã đi Rôma để xin Đức Giáo hoàng phê chuẩn lối sống của mình, các niềm tin của ông được cứu xét và ông được xem là chính thống Công giáo. Tuy nhiên, cũng như phái Humiliati, là một phong trào giáo dân, ông và các môn đồ bị công khai cấm rao giảng, khi Giám mục sở tại không cho phép họ rao giảng. Thế là Waldo chọn số mệnh của mình và tách rời khỏi Giáo hội Công giáo chính thống bằng cách dẫn lời sách Công vụ Tông đồ: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm” (Cv 5:29), và câu này sẽ trở thành tiếng kêu đoàn kết của các phái Tin lành vài thế kỷ sau đó, bắt đầu với Luther.

Các Giám mục, sợ không biết giải quyết ra sao với các phong trào giáo dân này, đã phản ứng để gìn giữ Giáo hội khỏi các lời dạy sai trái của họ, vốn làm cho nhiều người trở nên sai đạo lý. Sau các vạ tuyệt thông, họ quy về lời giảng dạy sai trái, mở các nghị hội, viết sách thần học, mở các cuộc thập tự chinh lạc giáo và xét xử. Đây chính là tình hình mà Phanxicô bước vào khi Ngài bắt đầu thu hút các anh em đầu thế kỷ 13.

Chúng ta không biết chính xác tại sao Phanxicô đi Rôma năm 1209 với các anh em tiên khởi, để xin Đức Giáo hoàng chuẩn y lối sống của mình. Mặc dầu không có bằng chứng về việc này, có nhân vật nào đó, như Giám mục Guido ở Átxidi, hoặc một người bạn của Phanxicô quen biết cách thức làm việc ở Tòa thánh, có thể đã thuyết phục Ngài đến gặp Đức Giáo hoàng để xin phê chuẩn lối sống của mình. Phanxicô có thể đã được khuyên rằng Ngài có nguy cơ bị xem là lạc giáo như các nhóm khác trước đó, sau khi đã là được xem là hợp pháp. Sự thật là Ngài trông giống như các người lạc giáo, nên Ngài cần tỏ lộ là con người tốt lành thật sự: Phanxicô và các người lạc giáo đều chọn lối sống khó nghèo của Tin Mừng; họ đều là giáo dân, chứ không phải giáo sĩ; họ cho là lấy linh ứng trực tiếp từ Thánh Kinh. Vì họ là giáo dân, họ không có giáo sĩ kiểm soát họ, và hầu hết các Giám mục không thể chỉ thị cho các giáo dân rao giảng và không biết làm gì với họ. Nhưng vấn đề nghiêm trọng nhất là lời giảng của họ là làm cho nhiều người chống lại Giáo hội chính thức, cho nên vạ tuyệt thông là một giải pháp. Vì thế, một Sắc chỉ của Đức Giáo hoàng là điều Phanxicô cần có để phân biệt mình với các người lạc giáo khác.

Cho nên sau khi Phanxicô viết một bản Luật ngắn, Ngài đi gặp Đức Giáo hoàng năm 1209, và Ngài được Đức Giáo hoàng ban lời phê chuẩn cho lối sống của mình. Về hàng giáo phẩm, các Ngài cho là mình đã tìm được người nào đó đứng về phe mình, nhằm chống lại các phong trào phi chính thống đã có: các người rao giảng chính thống cũng sống trung thành đức nghèo Tin Mừng như người lạc giáo vậy. Và rồi có một người Tây Ban Nha cũng tham gia cuộc đấu tranh này. Các Dòng Hành Khất – Dòng Phanxicô và Dòng Đaminh - sẽ mở cuộc phản công và cho người dân thấy rằng họ không cần chống lại Giáo hội, và họ có thể sống đức nghèo Tin Mừng đích thực một cách chính thống, trong khi vẫn là người Công giáo.

Thật đáng kinh ngạc là nhiều mẫu chuyện của Phanxicô và người lạc giáo giống nhau biết bao. Chẳng hạn, cả Phanxicô và Waldo đều là thương gia, bắt đầu hoán cải khi là thanh niên và chọn lối sống giáo dân đền tội theo đức nghèo Tin Mừng, đi rao giảng và ăn xin; cả hai đều đi Rôma để xin phê chuẩn lối sống của mình và đều được chấp thuận. Tuy vậy số phận hai người lại là hòan toàn khác nhau. Phanxicô chọn chấp nhận sự quan phòng của Chúa trong ranh giới của Giáo hội, trong khi Waldo chọn sự độc lập. Điều thú vị là ngày nay, sau tám thế kỷ, thánh Phanxicô được biết đến và cảm mến trên khắp thế giới như là một con người của hòa bình, hiệp nhất và cầu nguyện. Còn Phêrô Waldo, người có lẽ cũng đáng được yêu mến như vậy, lại không được ai nghe biết. Ngày nay phái Waldo trên thế giới có khoảng 40.000 thành viên (xem trang http://www.chiesavaldese.org)– vốn là một phái còn hiện hữu, nhưng thật sự người ta chỉ còn biết đó là một phái Kitô, mà sự ly khai diễn ra trước Cuộc Cải Cách Tin Lành thế kỷ 16. Tuy nhiên, vì ở ngoài Giáo hội Công giáo, phong trào Waldo không ai ai nâng đỡ để phát triển, khác với Phanxicô là thế đó.

Sau khi đã chứng minh rằng Phanxicô dứt khoát tùng phục Đức Giáo hoàng và Giáo hội, chúng ta thấy rõ là Ngài cũng muốn bảo đảm rằng mọi anh em trong Dòng noi gương của Ngài. Trong Lời mở đầu của Bản luật năm 1221, Phanxicô viết rằng Ngài và các anh em đứng đầu Hội Dòng phải tuyên hứa vâng phục và tôn trọng Đức Giáo hoàng và các Đấng kế vị. Trong văn chương Trung cổ, chúng ta thừa nhận rằng những gì viết ra đều phục vụ một mục đích rõ ràng, chứ không phù phiếm. Viết bài (và sao chép các bản văn) trước khi có phát minh máy in vào thế kỷ 16 là một quy trình chán ngắt và đắt tiền, chứ không như phim ảnh bây giờ. Do đó, chúng ta có thể thừa nhận rằng những gì viết ra đều có ý nghĩa thật sự. Phanxicô ý thức về cám dỗ của các phong trào chống Giáo hội, và Ngài muốn bảo đảm rằng sự lãnh đạo liên tục trong Dòng không thể tách rời khỏi Giáo hội, và nỗi lo sợ của Ngài là hợp pháp.

Phanxicô không những trung thành với Giáo hội hoàn vũ, mà Ngài còn có ơn tin mạnh mẽ vào các nhà thờ. Chuyện này khởi đầu khi Ngài nghe được ơn gọi đời sống của mình tại San Damiano: “Hãy đi xây lại nhà thờ của Ta đã đổ.” Lúc đầu Phanxicô hiểu mệnh lệnh này của Chúa Giêsu là tái thiết một nhà thờ cụ thể nào đó (nhưng sau rồi Ngài hiểu đó là Giáo hội), và Ngài đi tái thiết các nhà thờ ở San Damiano, nhà thờ Porziuncula, và nhà thờ San Pietro. Ơn tin của Phanxicô vào các nhà thờ có thể được tóm lược trong các câu 4-13 trong Di chúc, được viết ít lâu trước khi Ngài qua đời. Ngài viết trong câu 4 rằng Chúa đã ban cho Ngài ơn tin mạnh mẽ vào sự hiện diện của Chúa trong các nhà thờ, rồi Ngài trích dẫn lời kinh được lấy từ phụng vụ ngày thứ Năm tuần thánh để tôn vinh Thánh giá: “Lạy Chúa Giêsu Kitô, chúng con thờ lạy Chúa trong hết mọi nhà thờ của Chúa trên khắp hòan cầu. Chúng con chúc tụng Chúa, vì Chúa đã dùng Thánh giá mà cứu chuộc thiên hạ.” Phanxicô cũng được biết đến là người luôn đem theo chổi quét khi Ngài giảng dạy, để quét dọn nhà thờ có vết bẩn, và việc Ngài làm trở thành gương sáng cho giáo dân.

Trong câu 6 của Di chúc, Phanxicô tuyên bố là Ngài tin mạnh mẽ vào các linh mục: “Sau đó, Chúa đã ban và vẫn còn ban cho tôi ơn tin mạnh mẽ vào các linh mục sống theo qui luật Hội thánh Rôma vì thánh chức của các Ngài, nên dầu các Ngài có bách hại tôi, tôi vẫn chạy đến với các Ngài.” Ngài cũng nói: “Tôi cũng không muốn giảng dạy trong giáo xứ của các Ngài, nếu các Ngài không chấp thuận. Tôi muốn kính sợ, yêu mến và quí trọng các Ngài cũng như tất cả các linh mục khác như là tôn chủ của tôi. Tôi không muốn xem xét tội lỗi của các Ngài, vì tôi nhìn thấy Con Thiên Chúa hiện diện nơi các Ngài, và vì các Ngài là tôn chủ của tôi”. Đây là những nhận định quý báu trong tình hình người ta chỉ trích các linh mục thời Ngài, do lối sống xa hoa và hư hỏng của nhiều vị.

Có một câu chuyện chứng minh ơn tin của Phanxicô vào các linh mục, do một linh mục dòng Đaminh ở thế kỷ 13 kể lại. Phanxicô gặp một người phái Cathar, và người này hỏi Ngài: “Nếu một linh mục sống chung với một phụ nữ, tay linh mục này đã nên ô uế, vậy chúng ta có phải tin vào lời dạy của linh mục ấy và quý trọng các bí tích mà linh mục ấy ban hay không?” Phanxicô, thay vì trả lời trực tiếp cho người Cathar này, đã đi thẳng đến vị linh mục bị người lạc giáo nhắc đến tên và hôn đôi bàn tay của linh mục. Phanxicô nhận định rằng đôi tay của linh mục có quyền truyền phép Mình và Máu của Chúa Giêsu, do đó mức độ thánh thiện của linh mục không ảnh hưởng gì đến quyền cao trọng này.

 Quả thật, Phanxicô nhắc lại một giáo huấn của Giáo hội, được cho là của thánh Âu Tinh từ nhiều thế kỷ trước nhằm chống lại phái Donatus (một phái ly giáo khắt khe). Vấn đề là liệu sứ vụ bí tích khách quan của linh mục có lệ thuộc vào sự thánh thiện chủ quan của linh mục ấy hay không. Mình Máu Thánh được truyền phép là ex opere operato (do sự), tức là do chính hành vi truyền phép, hay là ex opere operantis (do nhân), tức là do hành vi của người truyền phép? Ý kiến của Giáo hội là sự thánh thiện cá nhân của linh mục là không liên quan đến sứ vụ linh mục của Ngài, trong khi nhiều người lạc giáo chủ trương ngược lại. Đến cả người giáo dân Cathar cũng truyền phép Mình Thánh Chúa trong thánh lễ của họ, vì họ cho rằng sự thánh thiện cá nhân có ảnh hưởng lên việc truyền phép, chứ không do việc họ được truyền chức thánh (hay thiếu chức thánh). Vấn đề thần học này đã kéo dài trong nhiều thế kỷ, và gây bối rối cho Martin Luther vì ông nói rằng không bao giờ cảm thấy xứng đáng để truyền phép Mình Máu Chúa. Giáo hội đã kết thúc vấn đề khi quy định đây là một luật Giáo hội ở Công đồng chung Trent.

Trong Di chúc của Phanxicô, chúng ta có thể hiểu tại sao Ngài có có ơn mạnh mẽ vào các nhà thờ và linh mục (xem Huấn ngôn I). Trong Di chúc, Ngài tuyên bố trong câu 10: “Tôi hành động như thế vì tôi không thấy có gì cụ thể trong thế gian này về Người Con Chí Thánh của Thiên Chúa, ngòai Mình và Máu rất Thánh của Người, mà chính các Ngài (linh mục) nhận lấy và chỉ các Ngài (linh mục) mới được ban phát cho kẻ khác.” Phanxicô tin vào các nhà thờ và các linh mục, bởi vì Ngài biết mình rước Mình Thánh ở đâu và do ai. Phanxicô yêu mến và tôn thờ Sự Hiện Diện Thật Sự của Chúa Giêsu trong Mình Thánh Chúa Giêsu, và nếu không có nhà thờ và linh mục, Ngài không thể nhận lãnh Mình Thánh Chúa được. Điều này không làm cho chúng ta ngạc nhiên vì Ngài là một người Công giáo đạo đức.

Nói rằng Ngài chỉ nhìn thấy Chúa Giêsu trong phép Thánh Thể chỉ là một nhận định, và tạo sự quan tâm cho các người Công giáo hiện nay, là người sống sau Công đồng chung Vatican II, vốn chủ trương rằng Chúa còn hiện diện trong Kinh Thánh và trong Thánh lễ, ngoài phép Thánh Thể. Tuy nhiên, như người Công giáo hiện đại được đào tạo bởi thần học của Công đồng chung Vatican II, Phanxicô được đào tạo bởi thần học thời Ngài và thái độ của Ngài phản ảnh giáo huấn của Giáo hội

Mọi vấn đề mà chúng ta thảo luận trên đây, như Phanxicô có ơn tin vào các nhà thờ và linh mục, và phép thánh Thể phản ảnh các vấn đề đã được bàn thảo trong Công đồng chung Lateran IV. Đức Giáo hòang Innocent III triệu tập Công đồng năm 1215 trong nỗ lực giải quyết các vấn đề như các lạc giáo, sự bất kính đối với Giáo hội và các vị lãnh đạo, và sự cải tổ việc rước Mình Thánh trong Thập tự chinh Thánh Thể. Phanxicô có mặt tại Công đồng, và vì là người Công giáo tín trung, các vấn đế ấy đánh động cuộc sống của Ngài và ảnh hưởng đến sự hiểu biết thần học của Ngài. Phanxicô là con người của Giáo hội, vì giáo huấn Giáo hội có ảnh hưởng lớn lao trong cuộc sống và niềm tin của Ngài.

Để kết luận, sự hiểu biết của Phanxicô về ơn gọi của mình là độc đáo, và Ngài ý thức rằng tình yêu của Chúa đối với Ngài thật là đặc biệt. Vỉ vậy, Ngài cố ý tránh gia nhập một Dòng tu đã có sẵn thời Ngài, để có sự tự do sống đức khó nghèo đền tội, với tư cách một giáo dân bên ngoài cơ cấu giáo sĩ truyền thống. Tuy nhiên, việc này không làm cho Ngài trở thành kẻ nổi loạn, người ly khai, hoặc người chống hàng giáo sĩ. Đối với Phanxicô, Giáo hội không đơn thuần là một định chế do con người làm ra, được kiểm soát bởi các Đức Ông phái Machiavel, hoặc “một phẩm trật nam giới độc thân”. Ngài ý thức rõ ràng là mình thuộc về Giáo hội định chế – lý do chính là Ngài cảm nghiệm có sự hiện diện của Chúa Kitô – thông qua các linh mục trong phép Thánh Thể, nơi các nhà thờ, và nơi dân chúng. Đối với Phanxicô, mãi mãi là người con trung thành với Giáo hội, Giáo hội là hiền thê của Chúa Kitô, có một cộng đồng, người dân, ơn cứu độ, mầu nhiệm Ba Ngôi và mầu nhiệm Đức Trinh Nữ. Đối với Ngài, sống ngoài Giáo hội là sẽ mất điều quý gía nhất trong đời mình, là sẽ mất đấng duy nhất mà Ngài muốn chiếm hữu: đó là Chúa Giêsu.

Bret Thoman, SFO 

 

Nguyễn Trọng Đa dịch

Nguồn: http://www.stfrancispilgrimages.com/images_2/Church.pdf


Xem thêm:
Bài mới:
Bài cũ: