Sunday, Dec 21st

Last update09:40:32 AM GMT

Thánh Phan-xi-cô Át-xi-di, con người của hòa bình

Share

phanxico matroi_chimCách đây 25 năm, Chân phước Giáo hoàng Gioan-Phao-lô II đã làm một cử chỉ độc đáo khiến nhiều người trong và ngoài Giáo Hội phải ngạc nhiên: đó là mời tất cả các đại diện của các giáo hội Ki-tô cũng như các tôn giáo ngoài Ki-tô giáo gặp nhau một ngày tại At-xi-di (ngày 27-10-1986), quê hương của Thánh Phan-xi-cô, để cầu nguyện cho hòa bình. Tất nhiên các vị đại diện ấy cầu nguyện ở những chỗ riêng dành cho tôn giáo của mình, nhưng trong bài diễn từ bế mạc, Đức Thánh Cha muốn cho các vị ấy ý thức  tới một bản tính chung, một nguồn gốc chung và một định mạng chung của loài người, từ đó ý thức tới trách nhiệm chung là phải xây dựng hòa bình để  cứu vãn thế giới. Trong bài diễn từ ấy Đức Thánh Cha đã nhắc tới Thánh Phan-xi-cô là “con người của Hòa bình” và mời gọi mọi người đi theo lý tưởng của thánh nhân[1]. Từ ngày đó người ta thường nói tới “Tinh thần Át-xi-di”, tức là tinh thần hòa bình mà Thánh Phan-xi-cô đã khơi dậy.

Vì đang phải sống trong bầu khí bất ổn, đầy chiến tranh và bạo lực, con người của thời đại hôm nay khao khát hòa bình có lẽ mãnh liệt hơn bao giờ hết. Nhưng chắc chắn không phải mọi người đều đồng thuận với nhau khi phải xác định hòa bình là gì, và đâu là những nẻo đường dẫn đưa tới đó.

Trong bài này chúng tôi muốn nêu ra một vài suy nghĩ về quan niệm của thánh Phan-xi-cô về hòa bình và những yếu tố tạo nên tinh thần ấy. Để dễ dàng đạt được mục tiêu đó, chúng tôi nghĩ phương pháp đơn giản là theo dõi Thánh Phan-xi-cô từ lối sống bên ngoài, đến kinh nghiệm nội tâm, được diễn tả qua các lời người dạy anh em và qua chứng từ của các Truyện ký thời đầu.

I.Trong lòng một thế giới đầy bạo lực

Thánh Phan-xi-cô sinh ra (1181) và lớn lên vào một thời đại đầy chinh chiến: hoàng đế chống lại với giáo hoàng, dân thành thị chống lại với giai cấp quý tộc; mỗi thị trấn đều có quân đội riêng, sẵn sàng giao chiến với thị trấn bên cạnh; các Kitô-hữu tổ chức các cuộc thập-tự-chinh để chiếm lại Đất Thánh mà những  người Hồi-giáo đã chiếm đóng.

Năm 1197, lúc Phan-xi-cô lên 16 tuổi, hoàng đế Henri VI tại Đức qua đời. Lợi dụng thời gian trống ngôi hoàng đế, các thị thành tại Italia đã  nổi dậy chiếm lại các tài sản của đế quốc, xua đuổi những người đại diện, phá hủy các pháo đài. Thành Át-xi-di cũng đã nổi dậy, phá hủy pháo đài La Rocca, rồi lấy đá của pháo đài xây nên một chiến lụy để bảo vệ thành. Người ta nghĩ rằng chàng thanh niên Phan-xi-cô, với nhiệt tình của tuổi trẻ, cũng đã tham gia vào cuộc nổi dậy ấy.

Bốn năm sau lại xảy ra cuộc chiến giữa thành Pê-ru-gi-a láng diềng với thành Át-xi-di: Pê-ru-gi-a, được giới quý tộc Át-xi-di trú ngụ tại đó yểm trợ, đã đánh bại giới thị dân Át-xi-di! Phan-xi-cô đã tham gia tích cực trong cuộc chiến này. Khi thành Át-xi-di thất bại trong trận đánh tại Ponte San Giovanni, thì chàng bị bắt làm tù binh. Sau một năm bị giam trong chốn ngục tù chàng đã được tha, nhờ tiền chuộc của người cha là ông Béc-na-đô-nê, một thương gia giàu có.

Nhưng cậu ấm Phan-xi-cô vẫn nuôi giấc mộng trở thành một hiệp sĩ, vẫn khao khát một cuộc sống đầy vinh quang và quyền lực. Vì thế năm 1205 Phan-xi-cô lại sắm sửa một bộ chiến bào lộng lẫy để gia nhập đội Thập-tự-quân của Đức Giáo hoàng In-nô-xen-xi-ô III, dưới quyền chỉ huy của tướng Gauthier de Brienne. Chàng thanh niên đã lên đường ra chiến trận giữa những tiếng hoan hô của dân thành Át-xi-di. Nhưng chính trong thời gian này mà Thiên Chúa đã can thiệp vào cuộc đời của chàng trai. Trong một giấc mộng Thiên Chúa  đã cho Phan-xi-cô hiểu rằng phục vụ Người thì có lợi hơn là phục vụ một ông tướng ở trần gian. Khi đã nhận thức được đó là lời mời gọi của Thiên Chúa, Phan-xi-cô đã quay ngựa trở về, lần này thì giữa tiếng chê cười của những người đồng hương.

Từ nay Phan-xi-cô quyết tâm theo ông chủ mới là Chúa Giê-su với những lời chỉ bảo cụ thể trong sách Tin Mừng. Sau 4 năm tập sự trong đời sống hoán cải, vào ngày lễ Thánh Ma-thi-a (24-2-1209), khi nghe bài Tin Mừng trong thánh lễ (Mt 10,1-16) nói về việc Chúa Giê-su sai các Tông đi rao giảng và khi đã được vị linh mục giải thích, Phan-xi-cô khởi sự cuộc đời đi rao giảng. Theo đúng chị thị của Chúa (Mt 10,12), từ nay khi gặp ai, khi vào nhà nào hay khi bắt đầu một bài giảng, Phan-xi-cô đều nói: “Xin Chúa ban Bình an cho quý vị”. Người xem đó như là một mặc khải mới của Chúa. Sau này Người ghi lại trong Di-chúc: “Chúa đã tỏ cho tôi phải chào bằng lời này: Xin Chúa ban Bình an cho quý vị” (x. Di Chúc, 23). Phan-xi-cô nói câu ấy một cách rất chân thành, đến nỗi nhiều người chẳng những là ngạc nhiên, mà còn bị đánh động tận đáy lòng và được biến đổi nhờ ơn hòa bình của Chúa.

Con đường hoán cải của Phan-xi-cô đã bắt đầu như thế. Từ nay, Người chỉ muốn noi gương Đức Ki-tô, sống nghèo khó, khiêm hạ, yêu mến mọi thụ tạo, phục vụ mọi người, nhất là những người nghèo khổ: theo cách đó, Người đã trở thành con người của hòa bình, người anh em của mọi người. Các truyện ký thời xưa đã nêu lên hơn một chục lần Người  đã làm trung gian hòa giải cho các đối thủ kình địch nhau. Người ta vẫn thường nhắc tới vài trường hợp tiêu biểu sau đây:

- Nhờ ảnh hưởng của Phan-xi-cô mà hai giai cấp quý tộc và thị dân (majores et minores) đã ký hiệp ước hòa giải với nhau vào ngày 9-11-1210, sau mười năm chinh chiến [2];

- Nhờ Phan-xi-cô mà cuộc nội chiến tại hai thành Arezzo[3] và Bolonia cũng được giải quyết êm thắm;

- Phan-xi-cô  đã hòa giải Đức giám mục và ông thị trưởng Át-xi-di [4];

- Người ăn nói dịu dàng, ôn hòa đến nỗi một con sói đã được thuần hóa và trở về làm hòa với dân thành Gu-bi-ô. Ở đây chúng ta không bàn cãi đến nòng cốt lịch sử của câu chuyện, nhưng trong tâm trí của những người bình dân, khi kể câu chuyện này, họ đã xem Phan-xi-cô là mẫu người hòa bình, có khả năng thu phục được cả những sinh vật độc ác nhất [5].

- Một biến cố khác nữa đã xảy ra, tuy không đạt được kết quả như lòng Phan-xi-cô mong ước, nhưng đã để lại một ấn tượng lớn lao trên những người đương thời. Năm 1219, trong cuộc thập-tự-chinh thứ năm, Phan-xi-cô cùng một số anh em (trong đó có anh Illuminatô) đã theo tàu của các thập-tự quân sang Ai-cập. Mục đích của Phan-xi-cô hoàn toàn là mục đích hòa bình: Người muốn đi rao giảng Tin Mừng Chúa Kitô cho những người Hồi-giáo. Trong lúc các thập-tự quân chuẩn bị trận đánh thứ ba tại Đa-mi-ét (hai trận đầu đã thất bại!), Phan-xi-cô, với hai bàn tay không, cùng với Anh Illuminatô đã đến gặp vua Hồi giáo Melek el Kamil.

Trước khi ra đi Người đã xin phép Đức Hồng y Pê-la-gi-ô Gan-vao, lãnh đạo tối cao của Thập-tự-quân, đồng  thời đề nghị cho ngưng cuộc chiến tranh, vì người được Chúa soi sáng cho biết là trận đánh thứ ba cũng sẽ kết thúc tồi tệ như hai lần trước. Sau khi đã nhiều lần từ chối, và nhất là khi thấy lời tiên tri của Phan-xi-cô đã ứng nghiệm (trận đánh thứ ba là một thất bại nặng nề cho phía thập tự quân với 4000 người chết và 2000 bị bắt làm tù binh), cuối cùng Đức Hống Y cũng cho phép Phan-xi-cô ra đi. Ai cũng cho rằng Phan-xi-cô là ngông cuồng, vì đang lao mình vào chỗ chết!

Phần Phan-xi-cô thì ao ước hoặc là cải hóa được vua Hồi giáo, hoặc là được phúc tử vì đạo. Nhưng cả hai việc đã không xảy ra. Melek el Kamil thấy Phan-xi-cô vừa hiền lành, khiêm tốn, lại vừa rất nhiệt thành trong đức tin Ki-tô giáo, thì lấy làm cảm phục và đã mời hai tu sĩ ở lại đàm đạo ba ngày. Sau thời gian ấy, thấy công việc không có kết quả, Phan-xi-cô đã xin cáo lui. Vua Hồi giáo trao nhiều quà tặng, nhưng Phan-xi-cô chỉ nhận một cái tù và[6].

Sau biến cố ấy Phan-xi-cô đã cho viết ra chương 16 trong bản luật không sắc chỉ (Lksc): chương ấy dạy anh em, khi được ơn Chúa thì hãy đến với những người Hồi giáo, và phải đến với họ trong tinh thần hòa bình[7]. Có thể nói Thánh Phan-xi-cô là người đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội đã khai trương cuộc đối thoại liên tôn, đặc biệt là đối với các tín đồ Hồi-giáo.

II. Những yếu tố tạo nên tinh thần hòa bình của Thánh Phan-xi-cô

1. “ Phúc thay ai hiền lành”  

Từ cuộc hoán cải của Phan-xi-cô, chúng ta đã có thể nêu ra vài yếu tố cơ bản trong tinh thần hòa bình của Người. Điều đáng nói đầu tiên là, để bước vào con đường mới này, Phan-xi-cô đã từ khước chiến tranh, bạo lực và óc thống trị. Con đường Người đi từ nay là bước theo Chúa Kitô “hiền lành và khiêm nhường”. Người dặn dò anh em trong bản luật hiện hành:

Tôi khuyên bảo, lưu ý và khuyến khích anh em trong Chúa Giêsu Kitô, khi anh em đi ra giữa đời, thì đừng gây sự và cãi cọ, cũng đừng xét đoán ai;  nhưng hãy tỏ ra dịu dàng, hiền hòa và từ tốn, khả ái và khiêm nhường, nói năng tử tế với hết mọi người sao cho thích hợp. Anh em không được đi ngựa, trừ trường hợp rõ ràng cần thiết hoặc bệnh tật. Khi vào nhà nào, trước tiên anh em hãy chào: “Chúc nhà này được bình an” (x. L III,10-13).

Một chi tiết ta cần lưu ý là vào thời thánh Phan-xi-cô, chỉ những người giàu sang và có quyền lực mới đi ngựa. Người anh em hèn mọn sẽ không bắt chước hai lớp người ấy, nhưng chỉ dùng những phương tiện của người bình dân.

Trong bản luật không sắc chỉ, thái độ bất bạo động, hiền lành và khiêm tốn  đã được Phan-xi-cô giảng giải một cách chi tiết hơn nữa: không vu khống ai, không cãi cọ, không nóng giận, không thóa mạ ai, không xét đoán ai, nhưng hãy ăn ở khiêm tốn, nhân từ với mọi người (Lksc XI); không chống cự người ác, nhưng ai vả anh em má này, thì hãy giơ cả má bên kia; ai đoạt áo ngoài của anh em, thì cũng đừng cản họ lấy áo trong, đúng theo lời Chúa dạy trong Mt 5,39 và Lc 6,29 (x. Lksc XIV, 2-5).

Đọc những đoạn văn trên, người ta có cảm tưởng là Phan-xi-cô, tuy không trích dẫn cách minh nhiên, nhưng đã thấm nhuần một cách sâu xa mối phúc thứ hai mà Chúa Giê-su đã công bố: “Phúc thay ai hiền lành,vì họ sẽ được Đất hứa làm gia nghiệp” (Mt 5,4). Riêng mối phúc thứ bảy, dành cho những người xây dựng hòa bình, thì Phan-xi-cô đã giải thích cho anh em mình trong hai huấn ngôn: Huấn ngôn 13 và 15.

Huấn ngôn 13:

Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (x. Mt 5,9) [8]. Người tôi tớ Thiên Chúa không thể biết mình kiên nhẫn và khiêm nhường đến mức nào, bao lâu còn được mọi sự như ý.  Nhưng đến lúc những kẻ đáng phải làm vừa lòng mình, đều làm ngược lại, bấy giờ người ấy tỏ ra kiên nhẫn và khiêm nhường được chừng nào, thì đó là mức độ nhân đức kẻ ấy có, không thể hơn được”.

Theo huấn ngôn này thì, để xây dựng hòa bình, con người phải có lòng kiên nhẫn và khiêm nhường, nghĩa là chịu đựng tha nhân, ngay cả khi họ hành động trái với ý muốn của ta. Huấn ngôn sau xác định rõ hơn kiên nhẫn là gì.

Huấn ngôn 15:

 “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (x. Mt 5,9). Những ai chịu đựng mọi gian khổ trên đời này vì lòng yêu mến Chúa Giêsu Kitô, mà vẫn giữ được tâm hồn và thân xác bình an, họ mới thật là những người xây dựng hòa bình”.

Huấn ngôn này cho thấy thêm là, đối với  Phan-xi-cô, thái độ kiên nhẫn không phát xuất từ một ý chí mạnh mẽ theo kiểu các triết gia khắc kỷ, nhưng là “chịu đựng mọi gian khổ vì lòng yêu mến Chúa Giê-su Ki-tô”. Đó là một thái độ tình yêu, hay nói rõ hơn một thái độ đáp trả cho tình yêu của Thiên Chúa, vì Phan-xi-cô đã nhìn thấy thái độ ấy trước hết nơi Thiên Chúa. Trong kinh “Ngợi khen Thiên Chúa”, một lưu bút gửi cho Anh Lê-ô, Phan-xi-cô đã viết:

“Ngài (Thiên Chúa ) là Tình yêu, là Bác ái; Ngài là hiện thân của sự khôn ngoan, của đức khiêm nhường và của  lòng nhẫn nại ”.

Vì đã chiêm ngắm Thiên Chúa tỏ mình ra nơi Đức Giê-su một cách khiêm nhường và kiên nhẫn qua mầu nhiệm Nhập thể, qua Bí tích Thánh thể và trong cuộc Khổ nạn, nên Phan-xi-cô đã quyết sống khiêm nhường và nhẫn nại như một sự đáp trả cho Tình Yêu của Thiên Chúa: thái độ ấy là một yếu tố tạo nên tinh thần hòa bình của thánh nhân. Chính vì đã noi gương Chúa Giê-su trong lối sống khiêm nhường và nhẫn nại, mà Thánh Phan-xi-cô đã có thể trở thành người anh em của mọi người và mọi thụ tạo.

2.“Tất cả anh em đều là anh em với nhau” (Mt 23,8; Lksc 22,33)           

Một yếu tố đặc biệt khác tạo nên tinh thần hòa bình của thánh Phan-xi-cô là tình huynh đệ phổ quát. Nguồn gốc của yếu tố này là một ý thức sâu xa về Thiên Chúa Tạo Hóa là Cha của muôn loài muôn vật.

Trước hết chúng ta cần lưu ý là Thánh Phan-xi-cô đặc biệt yêu mến Kinh Lạy Cha, một lời kinh mà Chúa Giê-su đã dạy cho các môn đệ. Thánh nhân đã quảng giải lời kinh này của Chúa [9], rồi còn nhắn nhủ anh em trong bản Luật không sắc chỉ:

“Chúa đã phán: Các con phải tỉnh thức và cầu nguyện luôn luôn […] Khi anh em đứng cầu nguyện , anh em hãy nói: “Lạy Cha chúng con ở trên trời” (Lksc 22,27-28).

Như vậy “cầu nguyện luôn luôn” đối với Phan-xi-cô thường có nghĩa là nhẩm đi nhẩm lại Kinh Lạy Cha. Từ đó người ý thức Thiên Chúa là người Cha đặc biệt của Chúa Giê-su[10], rồi nhờ Chúa Giê-su, Thiên Chúa là Cha của mọi người. Câu nói của Chúa Giê-su: “Tất cả anh em đều là anh em với nhau. Anh em đừng gọi ai dưới đất này là Cha” trong Mt 23,8 đã được Thánh Phan-xi-cô ghi lại trong bản Luật không sắc chỉ (Lksc 22,33).

Thánh Phan-xi-cô sống tình huynh đệ ấy không những đối với những  anh em trong Dòng, mà còn đối với những người ngoài cộng đoàn, kể cả những vị khách bất ưng, như người đã nói: “Bất cứ ai đến với anh em, bạn hay thù, trộm hay cướp, anh em hãy tiếp đón tử tế” (Lksc 7,14).

Một điều cần lưu ý ở đây là trong các bút tích để lại, Phan-xi-cô rất nhiều lần nói đến bổn phận phải yêu mến thù địch. Vào thế kỷ 13, người Hồi giáo được xem như là kẻ thù số một của người Công giáo. Trong ngôn ngữ của giáo dân cũng như của các vị giảng thuyết danh tiếng, những người Hồi giáo được gọi là “những kẻ bất lương và nghịch đạo”, “những quân thù địch của Thánh giá Chúa Kitô”, “những con chó đáng phạt trong hoả ngục ” [11]!

Trên môi miệng của Phanxicô, không ai đã bắt gặp được một lời lăng nhục đối với những người Hồi giáo. Trong chương 16 của Luật không sắc chỉ, Phanxicô dặn dò những anh em đi truyền giáo cho người Hồi giáo như sau:

Các anh em ra đi, thì có thể sống giữa họ theo Thánh Khí bằng hai cách: Một là đừng tranh cãi hay chống báng, nhưng hãy tuân phục mọi người vì Thiên Chúa và tuyên xưng mình là Kitô hữu. Hai là  khi thấy đẹp lòng Chúa, anh em hãy loan báo Lời Chúa…” (Lksc 16,5-7).

Thái độ của anh em trước hết phải là hoà nhã, không nói lời khiêu khích chống báng và tỏ ra phục tùng hết mọi người như lời thánh Phêrô Tông đồ đã dạy: “Vì Chúa, anh em hãy tuân phục mọi thể chế do loài người đặt ra: dù là vua, người nắm quyền tối cao, dù là quan, sứ giả của nhà vua để trừng phạt kẻ làm điều ác và khen thưởng người làm điều thiện, vì ý muốn của Thiên Chúa là anh em hãy làm điều thiện để bịt miệng những kẻ ngu xuẩn vô tri” (1 Pr 2,13-15).

Chương 22 của Luật không sắc chỉ càng cho thấy sự khác biệt giữa thái độ của Phanxicô và thái độ của phần đông các Ki-tô hữu đương thời:

Hỡi tất cả anh em, chúng ta hãy lắng nghe Chúa nói: “Hãy yêu mến thù địch và làm ơn cho những người oán ghét các con” (Mt 5,44 );  vì Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Đấng mà chúng ta phải bước theo vết chân, đã gọi kẻ phản bội mình là bạn hữu và sẵn sàng trao thân cho kẻ đóng đinh mình.

Vậy bạn hữu của chúng ta là những người vô cớ mà gieo ưu phiền và lo lắng, sỉ nhục và lăng mạ, đau đớn và cực hình, khiến chúng ta phải chịu tử đạo.  Chúng ta phải yêu mến họ hết lòng, vì do những gian truân họ gây ra cho chúng ta, mà chúng ta được sống đời đời” (Lksc 22,1-3).

Chữ ‘thù địch’ trong câu nói của Phanxicô ám chỉ những người Hồi giáo vì họ gây cho chúng ta ‘chịu cực hình và chết vì đạo’ . Gọi người Hồi giáo là ‘bạn hữu’, đó thật là một thái độ cách mạng của Phanxicô trong bầu khí Thập tự chinh  thời đó!       

Để có thể trở thành người anh em của mọi người, nhất là đối với các thù địch, thì yếu tố cơ bản là luôn luôn phải sẵn sàng tha thứ những lỗi lầm của họ. Để hòa giải Đức Cha Ghi-đô với ông thị trưởng At-xi-di, Phan-xi-cô đã cho viết thêm trong Bài Ca Anh Mặt Trời (cũng gọi là Bài Ca các thụ tạo) đoạn thơ sau đây:

“Ngợi khen Chúa, lạy Chúa tôi,
những người biết thứ tha
nhân danh tình yêu Chúa,
và chịu bệnh tật ưu phiền.

Phúc cho ai chấp nhận trong an hoà,
vì lạy Chúa Tối Cao,
Ngài sẽ thưởng triều thiên” 

Rồi Phan-xi-cô đã cho mời ông thị trưởng tới tòa giám mục, để hai vị cùng nghe anh em hát Bài Ca anh Mặt Trời cùng với đoạn thơ mới được thêm. Sau khi đã nghe khúc ca trên, cả hai người ôm choàng lấy nhau và xin lỗi nhau.

Tha thứ cho các địch thủ của mình, điều đó không phải là dễ dàng. Vì thế, người ta phải cầu nguyện để xin ơn trên, như Phan-xi-cô đã nêu lên trong Kinh Lạy Cha quảng diễn:

 “Như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con:
và khi chúng con không tha thứ trọn vẹn được,
thì lạy Cha, xin giúp chúng con tha thứ cho trọn vẹn,
để, vì Cha, chúng con có thể thực lòng yêu mến địch thù
và sốt sắng cầu bầu cùng Cha cho họ,
không hề lấy ác báo ác,
nhưng trong mọi sự, cố giúp đỡ  họ trong Cha”

Thánh Phan-xi-cô sống tình huynh đệ không những đối với mọi người, mà cả đối với loài thụ tạo vô tri vô giác. Bài ca Anh Mặt Trời là một chứng từ hùng hồn về tình huynh đệ đó: “Ngợi khen Chúa, lạy Chúa tôi, vì Ông Anh Mặt Trời, … Chị Trăng, … Anh Gió, Chị Nước, Anh Lửa, Chị Đất…”, đến cả “Chị Chết”. Cái chết cũng nằm trong sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa Tình Yêu, nên cũng mang bộ mặt hiền hậu của người Chị.

Tô-ma Xê-la-nô, sử gia tiên khởi của Thánh Phan-xi-cô, đã viết:

“Mùa màng và những vườn nho, những tảng đá, những rừng núi, những phong cảnh vui tươi, những suối nước, những chòm cây, đất, lửa, khí, gió, tất cả muôn loài được Phanxicô mời gọi cách chân thành đơn sơ hãy yêu mến và phụng thờ Chúa hết lòng. Mọi vật đều mang tên là anh, chị. Trực giác sắc sảo của lòng ngài đã cho ngài nhìn rõ cách phi thường mầu nhiệm của các thụ vật, vì từ bây giờ ngài đã sống sự tự do vẻ vang của con cái Chúa” (1 Cel 81).

Thánh Bô-na-ven-tu-ra giải thích một cách triết lý hơn:

“Càng đi lên về nguyên lý tiên khởi của vạn vật, thì Phanxicô càng cảm thấy một tình yêu chan chứa đối với chúng. Ngài gọi mọi loài là anh, chị, kể cả những loài nhỏ mọn nhất, vì ngài biết rằng tất cả đều phát xuất từ một Nguyên lý độc nhất” (Đại Truyện, VIII, 6). 

Tình huynh đệ của Phan-xi-cô đối với các loài thụ tạo được thể hiện không chỉ bằng cách gọi chúng là Anh, là Chị, nhưng sâu xa và cụ thể hơn thế nữa nhiều: đó là tôn kính và bảo vệ những hình thức sự sống thấp hèn nhất trong trời đất, theo chứng từ của Thánh Bô-na-ven-tu-ra: “Ngài cảm thấy một tình yêu chan chứa đối với chúng”. Đàng khác, Phan-xi-cô yêu mến các loài thụ tạo, không phải vì chúng mang lại lợi ích vật chất cho con người, nhưng vì chúng diễn tả, mỗi loài theo các thế của chúng, sự tốt lành và vẻ đẹp đẽ của Thiên Chúa đồng thời, một cách nào đó chúng gợi lại hình ảnh Ngôi Lời nhấp thể. Một chứng từ khác của Tô-ma Xê-la-nô rất rõ ràng về điều đó:

“Ngài (Phan-xi-cô) yêu thương mọi loài với một lòng trìu mến chưa hề nghe nói đến bao giờ. Ngài nói về Chúa cho chúng nghe, và mời gọi chúng ngợi khen Chúa… Ngài kính cẩn khi bước lên  các tảng đá, do tôn trọng Đấng được xưng tụng là Đá Tảng… Khi đốn củi, ngài cấm anh em không được đốn  cả cây, để chúng có cơ hội đâm cánh nhánh mới.- Ngài dạy anh làm vườn phải để hoang các góc vườn rau, làm sao cho tới mùa, cỏ xanh và hoa muôn sắc có thể tôn vinh Thiên Chúa là Cha toàn mỹ của muôn loài… Trên đường đi, hễ thấy côn trùng là ngài lượm lên để chúng không bị người qua lại giẫm đạp dưới chân. Để cho bầy ong khỏi chết đói trong mùa đông giá rét, ngài truyền đem đặt mật và rượu ngon nhất cho chúng. Bất kể thú vật nào, ngài cũng gọi là anh chị em, tuy nhiên trong số các loài vật, ngài ưa thích nhất những con hiền lành. Ai có thể kể cho hết những điều trên?  Nguồn Thiện Hảo, một ngày kia sẽ là tất cả trong tất cả, nay thực sự đã hiển hiện trong muôn vật trước mắt thánh nhân” [12]. 

Trong thông điệp hòa bình năm 1990, Đức Thánh Cha Gioan-Phao-lô II nói là nền hòa bình của thế giới đang bị đe dọa nghiêm trọng, không những bởi cuộc chạy đua vũ trang, những cuộc xung đột tại nhiều đất nước, sự bất công giữa các quốc gia, mà còn bởi sự thiếu tôn trọng đối với môi trường. Người gọi đó là “một cuộc khủng hoảng về môi trường”. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng ấy là con người đã  sống cách ích kỷ, vô trách nhiệm và thiếu tôn trọng đối với sự sống. Ở cuối thông điệp, người nói: “Thánh Phan-xi-cô mà tôi đã tuyên bố năm 1979 là đấng bảo trợ trên trời của những người bảo vệ môi trường, nêu gương cho các kitô-hữu về một sự tôn trọng đích thực và không chút dè dặt đối với sự toàn vẹn của tạo thành… Tôi mong rằng hứng khởi của Thánh Phan-xi-cô giúp chúng ta luôn luôn có một ý thức sống động về “tình huynh đệ” đối với mọi loài, mọi vật mà Thiên Chúa Toàn năng đã dựng nên thật đẹp và thật tốt lành; tôi cũng mong rằng hứng khởi ấy nhắc nhở chúng ta có bổn phận nghiêm ngặt là tôn trọng và bảo vệ chúng một cách chu đáo, trong khung cảnh rộng rãi hơn và cao cả hơn của gia đình nhân loại” [13]. 

Tinh thần hòa bình của Thánh Phan-xi-cô thực ra là chính tinh thần của Chúa Giê-su, một tinh thần mà thế gian không hiểu được như Chúa đã nói: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian” (Ga 14,27). Sự bình an mà Chúa Giê-su ban, phát xuất từ của lễ tình yêu của Người, như thánh Phao-lô đã giải thích: “Chính Người (Đức Giê-su Ki-tô) là bình an của chúng ta: Người đã liên kết đôi bên, dân Do-thái và dân ngoại, thành một; Người đã hy sinh thân mình để phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét” (Ep 2,14).

Vì đã thấm nhuần lời Chúa dạy, nên Thánh Phan-xi-cô ý thức một cách sâu xa Máu của Chúa Giê-su là “máu của giao ước[14], máu của sự hòa giải. Trong Thư gửi cho toàn dòng, thánh nhân nói tới “Mình và máu Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, trong Người mọi loài trên trời và dưới đất được hưởng bình an và được giao hòa cùng Thiên Chúa Toàn năng[15]. Chúa Giê-su đã thiết lập hòa bình giữa loài người nhờ Máu Người đổ ra trên Thập giá. Vì thế, khi các môn đệ của Chúa Giê-su muốn xây dựng hòa bình mà không muốn chấp nhận Thập giá, thậm chí còn muốn dùng những phương tiện của thế gian (óc thống trị, bạo lực, vũ khí…), thì đó không còn là hòa bình theo tinh thần của Chúa Giê-su nữa.

Norbertô NGUYỄN VĂN KHANH, ofm.

 



[1] Xem “Address of John Paul II to the Representatives of the Christian Churches and Ecclesial communities and of the World Religions”, số 9.

[2] X.O.Englebert, Vie de Saint Francois d’Assise, Paris 1956, p.143.

[3] Tô-ma Celano, Hạnh Thánh Phan-xi-cô, Quyển II, số 108.

[4] X.Gương Toàn thiện, số 101.

[5] X.Những cánh hoa đơn, ch.21. Cũng vì Thánh Phan-xi-cô đã trở thành mẫu người hòa bình , nên người ta đã gán cho ngài Kinh Hòa bình (“Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa  …), một lời kinh được phổ biến rộng rãi trong quần chúng, nhưng bản văn lâu đời nhất được viết bằng tiếng Pháp, đằng sau một tấm hình (thánh Phan-xi-cô ?) năm 1917, x.Th.Desbonnets & D.Vorreux, Saint Francois d’Assise. Documents. Paris 1968, p,176-177.

[6] Người Hồi giáo dùng tù và để kêu gọi các tín hữu cầu nguyện.

[7] Biến cố Thánh Phan-xi-cô gặp Vua Hồi giáo được kể lại trong nhiều tài liệu, đặc biệt trong : x.Tô-ma Celano, Hạnh Thánh Phan-xi-cô, Quyển I, số 57; Bonaventura, Đại Truyện, ch.IX.

[8] Theo ấn bản phê bình của Carolus Paolazzi, Francisci Assisiensis Scripta, Grottaferrata 2009, thì câu Lời Chúa này không có trong Huấn ngôn 13.Tuy nhiên cũng có đến 4 bản sao ghi lại câu ấy. Như vậy là nhiều anh em đã  nhận thấy tương quan giữa huấn ngôn này với mối phúc về hòa bình Chúa dạy, vì huấn ngôn 13 này cũng như huấn ngôn 15 (dạy về lố sống hòa bình) đều nói tới sự kiên nhẫn chịu đựng các gian khổ.

[9] Xem: Tác phẩm của Thánh Phan-xi-cô: Kinh Lạy Cha quảng diễn. Trong bộ kinh này, trên 15 thánh vịnh, Phan-xi-cô đã đặt trên môi miệng Đức Giê-su hơn 10 thánh vịnh; đàng khác các từ “Lạy Chúa” lại thường được đổi thành “Lạy Cha chí thánh ”. Từ đó người ta có thể kết luận rằng, đối với Phan-xi-cô  các thánh vịnh trước hết là lời kinh của Đức Giê-su dâng lên Chúa Cha, và vị Thiên Chúa được nhắc tới trong các thánh vịnh trước hết là Cha của Đức Giê-su.

[10] Xem: Tác phẩm của Thánh Phan-xi-cô: Bộ kinh Vượt Qua.

[11] Giulio Basetti-Sani, Mohammed et Saint Francois, Paris 1939, p. 20-24.

[12] Tô-ma Celano, Hạnh Thánh Phan-xi-cô, Quyển II, số 165.

[13] Gioan-Phaolô II, Sứ điệp Hòa bình năm 1990 (mang đầu đề trong Pháp ngữ là: Hòa bình với Thiên Chúa Tạo hóa. Hòa bình với tất cả loài thọ tạo), số 16..

[14] Kiểu nói này được Thánh Phan-xi-cô nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các di cảo :x.Thư gửi Toàn Dòng, câu 18;Thư gửi các tín hữu, câu 7; Huấn ngôn 1,11.

[15] X.Thư gởi toàn Dòng, câu 13.


Xem thêm:
Bài mới:
Bài cũ:

Tin Mới Đăng

Đức Thánh Cha tiếp kiến 5 ngàn thành viên Ủy ban Olimpic Italia 21 December 2014, 10.40 Trần Đức Hạnh Giáo Hội
Đức Thánh Cha tiếp kiến 5 ngàn thành viên Ủy ban Olimpic Italia
VATICAN. Sáng 19-12-2014, ĐTC đã tiếp kiến ban lãnh đạo và các vận động viên thuộc Ủy ban quốc gia Italia về thế vận Olimpic. Ngài đặc biệt khích lệ công tác giáo dục của Ủy ban
Read More 5 Hits 0 Ratings
Thánh ca Giáng Sinh tại Gx Phanxicô Đakao 20 December 2014, 21.29 Phạm Xuân Thanh Tin tức
Thánh ca Giáng Sinh tại Gx Phanxicô Đakao
Đêm Thánh Đêm Hồng Ân là tựa đề đêm thánh ca mừng Giáng Sinh của Giáo xứ thánh Phanxicô Đakao, số 50 Nguyễn Đình Chiểu, Đakao, quận 1, Tp.HCM. Đêm diễn mừng Chúa Giáng Sinh có
Read More 47 Hits 0 Ratings
Chú giải KT ngày lễ Giáng Sinh - Ban ngày (Ga 1,1-18) 20 December 2014, 16.01 Phạm Xuân Thanh Bài giảng - Suy niệm
Chú giải KT ngày lễ Giáng Sinh - Ban ngày (Ga 1,1-18)
NGÔI LỜI ĐÃ LÀM NGUỒI 1.- Ngữ cảnh             Mười tám câu đầu tiên của Tin Mừng IV được nhiều học giả coi như là một Lời Tựa long trọng của tác phẩm: giọng văn
Read More 27 Hits 0 Ratings
Máng cỏ và vinh quang thiên quốc (Lc 2,1-20 - Giáng Sinh đêm và rạng đông) 20 December 2014, 15.51 Phạm Xuân Thanh Bài giảng - Suy niệm
Máng cỏ và vinh quang thiên quốc (Lc 2,1-20 - Giáng Sinh đêm và rạng đông)
1.- Ngữ cảnh Trong ch. 1–2 của TM Lc, tức phần mở của TM này, Đức Giêsu và Gioan Tẩy Giả được đặt song song thành hai cánh:          1) Cánh các cuộc loan báo (1,5-56):      
Read More 23 Hits 0 Ratings
Xin hiệp ý cầu nguyện cho ông Phêrô Vu Văn Nhi mới qua đời 19 December 2014, 22.29 Phạm Xuân Thanh Cầu nguyện
Xin hiệp ý cầu nguyện cho ông Phêrô Vu Văn Nhi mới qua đời
Ông Phêrô Vũ Văn Nhi, thuộc chi hội Toronto, Canada, mới qua đời đột ngột. Nhà Dòng đã dâng Thánh lễ cho ông Phêrô ngày 19/12/2014 sáng nay. Xin anh chị em tiếp tục cầu nguyện cho
Read More 237 Hits 0 Ratings
Liên Tu Sĩ GP Nha Trang hành hương khai mạc Năm Đời Sống Thánh Hiến 18 December 2014, 22.17 Trần Đức Hạnh Giáo Hội
Liên Tu Sĩ GP Nha Trang hành hương khai mạc Năm Đời Sống Thánh Hiến
NHA TRANG - 200 nam nữ tu sĩ trong đó có Đức Viện Phụ Đan viện Xitô Mỹ Ca, Cha GB Nguyễn Văn Sỹ (Dòng Ngôi Lời) đặc trách liên tu sĩ vùng Ninh Thuận, Quý bề trên, đại diện các
Read More 57 Hits 0 Ratings
Các đóng góp của Tòa Thánh trong diễn trình bình thường hóa quan hệ Mỹ - Cuba
Việc bình thường hóa mối liên hệ Mỹ Cuba chủ yếu là một bước ngoặt đối với hai quốc gia này, nhưng cũng được coi như một chiến thắng của chính sách hòa dịu của Tòa Thánh
Read More 28 Hits 0 Ratings
Người mẫu - tài tử đang nổi tiếng nhất bỗng trở thành nữ tu 18 December 2014, 21.34 Trần Đức Hạnh Giáo Hội
Người mẫu - tài tử đang nổi tiếng nhất bỗng trở thành nữ tu
Người Mẫu đẹp nổi tiếng, đang trong thời kỳ sự nghiệp hưng thịnh nhất bỗng nhiên theo tiếng gọi trong tâm hồn để trở thành một nữ tu bình dị. Đang đứng ở phía trên cùng
Read More 57 Hits 0 Ratings
Xin hiệp ý cầu nguyện cho ông Giuse Đỗ Duy Nghĩa mới qua đời 17 December 2014, 10.21 Phạm Xuân Thanh Cầu nguyện
Xin hiệp ý cầu nguyện cho ông Giuse Đỗ Duy Nghĩa mới qua đời
Xin kính báo : Ông Giuse Đỗ Duy Nghĩa, thuộc chi hội Denmark vừa an nghỉ trong Chúa lúc 10:30 ngày 15 tháng 12 năm 2013, thọ 80 tuổi. Nhà Dòng đã dâng Thánh lễ cầu nguyện cho ông vào
Read More 398 Hits 0 Ratings
Ơn gọi của Đức Maria (Lc 1,26-38 - CN IV MV - B: Truyền Tin) 17 December 2014, 10.13 Phạm Xuân Thanh Bài giảng - Suy niệm
Ơn gọi của Đức Maria (Lc 1,26-38 - CN IV MV - B: Truyền Tin)
1.- Ngữ cảnh Câu truyện thứ hai của TM Lc trong phân đoạn gọi là “Tin Mừng về thời thơ ấu” (1,5–2,52) song song với câu truyện thứ nhất: cũng như cuộc chào đời lạ lùng của
Read More 59 Hits 0 Ratings