Tỉnh dòng Phanxicô Việt Nam

Những người mang quà tặng Phúc Âm

Monday, May 21st

Last update06:02:34 AM GMT

Cái khôn của một người nghèo 08

praying handsGIÁ CHÚNG TA BIẾT CẦU NGUYỆN

Phục sinh năm ấy trên ẩn viện thật vui vẻ. Ruphin đã trở lại chung sống với anh em.

Anh vui tươi cởi mở hơn bao giờ hết, luôn tìm dịp giúp đỡ mọi người. Sáng nào anh cũng xuống suối gánh nước lên cho cả nhà dùng. Anh làm rau, mổ cá giúp anh Bếp, anh làm đủ thứ công việc lặt vặt trong nhà. Có lần anh tình nguyện đi xin ăn thay cho anh em. Thật lạ lùng. Anh đã trở nên con người mới. Bầu khí cộng đoàn tự nhiên thêm ấm cúng.

Hôm thứ tư sau lễ Phục sinh, Ruphin đến tâm sự với Phanxicô:

- Thưa cha, con muốn nói chuyện với cha như con đã trình bày hôm nọ. Con mới thoát khỏi một cơn khủng hỏang. Nay đã khá hơn. Suýt nữa thì hỏng cả... ơn kêu gọi.

- Anh thử kể nghe, sao nào? Phanxicô hỏi.

Ruphin làm thinh một hồi. Anh thở dài như người có rất nhiều điều muốn nói ra nhưng không biết bắt đầu từ chỗ nào. Hai cha con bách bộ dưới bóng mát, mặt đất phủ đầy những lá thông lăn tăn. Không khí dịu hiền phảng phất mùi thơm của nhựa thông.

- Chúng ta ngồi xuống đây, tâm sự dễ hơn, Phanxicô nói.

Họ ngồi ngay xuống đất.

- Khi con đến xin cha nhận con vào số anh em cách đây 12 năm, thật con muốn sống Phúc âm theo gương sáng cha. Lúc dó con thành thật muốn theo Phúc âm. Những năm đầu ở trong Dòng, con không thấy có gì khó khăn. Con cứ cố gắng làm đủ những gì con cho là bổn phận hằng ngày.

“Nhưng trong thâm tâm con vẫn có những tư tưởng chẳng hợp Phúc âm chút nào. Cha biết rõ con đã sinh trưởng trong môi trường nào. Gia đình quí phái, giáo dục quí phái, tình cảm con mang nặng màu sắc quí phái, toàn con người con như bị gắn liền với môi trường quí phái mà con khó quên đi được. Con hiểu biết, con nhận định theo môi trường đó, theo những giá trị thường được những người quí phái hâm mộ. Khi con đến bắt chước cha sống cuộc đời hết sức khiêm nhường và nghèo khó, con tưởng mình đã từ bỏ hẳn những giá trị kia và “chết” thật sự vì Chúa rồi.

“Vâng, chết thật sự, nhưng chỉ bề ngoài thôi. Con đã đổi lối sống, đổi việc làm. Và con cho đó là một điều quan trọng. Nhưng trong đáy lòng con còn giữ lại phần quan trọng nhất của con người con: tâm tình cũ do môi trường xưa để lại. Con tiếp tục phán đoán người và vật theo những tiêu chuẩn con quen biết khi còn sống trong gia đình. Ở nhà con, việc gác cổng, hay làm bếp, quét dọn, và một số công việc khác là bổn phận những người làm công, người đầy tớ. Khi con trở thành tu sĩ Hèn mọn, con vẫn nghĩ rằng giữ cửa nhà khách, làm bếp, đi xin, hay săn sóc người cùi, là những công việc quá hèn hạ. Tuy thế con cũng làm mục đích là để có dịp hạ mình. Hơn nữa, con thích hạ mình làm những công việc đó, tưởng rằng đức khiêm hạ Phúc âm không phải gì khác. Thâm tâm con như vậy khi con vào Dòng.

“Năm này sang năm khác, bởi vì con không có tài giảng thuyết, nên anh em cứ bắt con làm những công việc con vừa kể trên, mà con thường coi là những việc hèn hạ dành cho bậc tôi tớ. Nhưng đó là việc bổn phận, con cố gắng làm: sống khiêm nhường vì bổn phận, tuy nhiều lần con thấy xấu hổ.

“Dĩ nhiên việc phải đến đã đến. Dần dần con cảm nghĩ rằng anh em khác, những người có tài giảng thuyết, coi con như đầy tớ của họ. Cảm tưởng đó trở nên rất mãnh liệt khi nhiều anh em trẻ hơn con lại thuộc những gia đình rất tầm thường, họ vào Dòng, được sai đi giảng dạy đây đó, còn con thì cứ cặm cụi lo việc bếp núc ở nhà. Mỗi khi một anh em nào có một nhận định về con, hay xin con điều gì, con mất bình tĩnh và hay bực bội. Tuy không nói ra nhưng lòng con sôi sục. Sau đó con nguôi đi, bình tĩnh trở lại. Con hạ mình xuống hơn chút nữa. Luôn luôn vì bổn phận.

“Làm gì con cũng làm vì bổn phận. Con nghĩ rằng đó là sống đời tu trì. Nhưng thực ra đó chỉ là một chiếc áo quá chật hẹp, con cố sắng kéo cho vừa tầm thước, nhưng vô hiệu quả. Cứ kéo xuống trôi lên hoài; đời sống của con, đời sống xứng hợp với con, hẳn là nơi khác: ở đó con có thể thoải mái hơn, sống theo ý mình hơn. Thế rồi ngày nào cũng như ngày nấy, con làm mọi việc cho mau, những việc hèn hạ! rồi tìm nơi thanh vắng để có cảm giác làm chủ tự do của mình và sống thực sự. Nhưng khi việc bổn phận bắt buộc, con lại cố gắng một lần nữa làm đầy tớ cho anh em.

“Sống theo cái đà ấy thì không mấy chốc người ta kiệt sức, rồi điên khùng. Tất cả những điều con coi như việc bổn phận, thì con làm một cách miễn cưỡng, nặng nhọc như việc một tên tù tội. Ăn không ngon, ngủ không yên, sáng ngày thức dậy con đã cảm thấy mệt mỏi, bực mình với tất cả mọi người. Anh em là những ông chủ mà con phải phục dịch. Con có cảm tưởng như bị khinh khi, nên con phẫn uất, không chịu đựng ai nữa. Sau cùng, trong lòng con có sự chống đối với mọi người. Khi đó con ngây thơ nghĩ rằng Chúa muốn con thuộc trọn về Chúa, con phải sống một mình trong nơi thanh vắng, và con đã xin cha cho phép con lên sống ở ẩn viện này. Nhưng lên đây, con đã gặp khủng hoảng dữ dằn như cha biết. Đó câu chuyện của con là như vậy.

- Những điều anh nói, tôi không ngạc nhiên chút nào, Phanxicô trả lời cách dịu dàng. Hẳn anh còn nhớ ngày tôi sai anh đi giảng tại nhà thờ thánh Ruphin, tuy anh không muốn đi. Tôi muốn giúp anh quên mình và thoát khỏi cô đơn, vì thấy anh cứ luẩn quẩn với ý nghĩ của mình.

- Thưa Cha, con còn nhớ. Nhưng lúc đó con không hiểu thâm ý của cha, Ruphin đáp. Bây giờ con hiểu tất cả.

- Chúa đã thương xót anh đó, Phanxicô trả lời. Như Ngài thương xót mỗi người chúng ta theo giờ khắc của Ngài. Vào lúc chúng ta không ngờ, chúng ta lại được nếm biết lòng từ bi Chúa. Ngài thường hành động như vậy, chẳng khác nào những cơn mưa muộn làm xẹp bụi bặm trên đường đi lại.

- Đúng vậy, thưa Cha, anh Ruphin nhận định. Con có cảm giác khởi sự một cuộc đời mới.

- Nhưng Chúa đã mở mắt cho anh như thế nào? Phanxicô hỏi.

- Hôm đó thứ Năm Tuần Thánh, khi chúng ta đang ăn cơm, đông đủ, Ruphin trả lời, một anh em nào đó đã nhắc tới lời Cha thường nói:

“‘Nếu một người mẹ dưỡng nuôi và quí mến con cái do xác thịt sinh ra, thì chúng ta lại chẳng phải dưỡng nuôi và âu yếm gấp trăm lần những người anh em thiêng liêng chúng ta sao?’ Đã nhiều lần con nghe Cha nói điều đó mà không để ý, thực ra con chẳng hiểu gì cả. Nhưng lần này, lời đó có ý nghĩa làm con cảm động, nên khi về phòng, con suy nghĩ hoài.

“Trong một gia đình không có đầy tớ, con thầm nghĩ, thường thường, người mẹ nấu bếp, dọn bàn ăn, làm công việc trong nhà, bận rộn luôn chẳng lúc nào bà nhàn rỗi, nhưng bà cho đó là phải lẽ, bà chẳng cảm thấy bị lợi dụng, bà không hề nghĩ mình bị hành hạ quá. Bà không làm nô lệ cho con hay cho chồng, bà thương yêu mọi người, phục vụ mọi người tận tâm tận lực. Có những khi bà mệt nhọc trong tâm hồn và trong thể xác, mệt nhọc lắm chứ, nhưng bà không phẫn uất, không chống đối lại những người bà yêu thương. Và con còn nhớ có những gia đình nghèo, bà mẹ gặp phải trăm sự khó khăn nhưng bà vẫn vui tươi, tràn đầy hạnh phúc, mặc dầu là vất vả.

“Con liền hiểu ngay con đã lầm đường. Con chẳng có tinh thần Phúc âm chút nào, nên đã sinh ra giận dỗi và chống đối. Con nghĩ rằng con đã bỏ thế gian vì con đã thay đổi việc làm hằng ngày, nhưng lại không thay đổi tâm hồn mình. Kể từ hôm đó, con có sự nhận định khác hẳn khi trước, con muốn áp dụng ngay ánh sáng con nhận được, con liền chạy đi giúp đỡ và phục vụ anh em. Thế rồi, càng ngày con thấy sáng sủa trong tâm hồn hơn. Và lúc này, con cảm thấy mình thảnh thơi, nhẹ nhàng như cánh chim trong khoảng trời bao la.

- Anh nên cảm đội ơn Chúa, Phanxicô nói. Thật anh vừa được nếm biết một kinh nghiệm quí báu. Bây giờ hẳn anh hiểu rõ thế nào là một Anh em Hèn mọn, một người nghèo khó theo nghĩa Phúc âm: đó là người đã tự nguyện từ bỏ mọi thứ quyền hành từ bỏ mọi cách thống trị người khác, nhưng không có mặc cảm của kẻ nô lệ, trái lại có tinh thần cao thượng nhất, tinh thần Chúa Kitô. Đó là con đường rất khó khăn, ít người tìm thấy. Chúa vừa ban cho anh một ơn lành, một ơn trọng đại lắm đấy.

“Anh biết không, chẳng những là những kẻ quyền cao chức cả mới thích ăn trên ngồi trước, thống trị người khác, nhưng cả những người đầy tớ, những người hèn hạ cũng vẫy vùng, cũng mong muốn được những điều đó, nên cái địa vị thấm kém trở thành gánh nặng đè lên đầu lên cổ con người, làm cho nó đầy sự phẫn uất và đố kỵ. Gánh nặng đó không phải là gánh nặng của Chúa Kitô trao cho con người.

“Ăn ở nghèo khó theo thánh Phúc âm, nhưng chỉ lo ép mình ép xác làm những công việc nô lệ thì chưa đủ, trái lại còn phải có tinh thần của Chúa. Sự khác biệt là chỗ đó. Ở đâu có tinh thần Chúa Kitô, ở đó lòng người không cay đắng. Sẽ chẳng còn chỗ cho phẫn uất hay giận hờn. Khi xưa, tôi còn sống ngoài thế gian, tôi ghê tởm nhất việc đi săn sóc người cùi. Nhưng Chúa đã thương xót tôi, dẫn đưa tôi đến với họ, tôi đã giúp đỡ họ. Khi tôi ra về, điều tôi ghê tởm trước kia trở nên dịu ngọt cho tôi trong tâm hồn và nơi thân xác. Tinh thần Chúa không chua cay nhưng dịu ngọt và vui sướng.

- Kinh nghiệm vừa qua cho con hiểu, Ruphin nói người ta rất dễ bị ảo tưởng về mình, và coi sự thúc giục của tính tự nhiên như là ơn Chúa soi sáng vậy.

- Đúng vậy, người ta dễ bị ảo tưởng lắm. Không phải là ít. Nhưng có một dấu hiệu cho phép người ta biết ngay là ảo tưởng hay không...

- Dấu hiệu nào, thưa Cha? Ruphin vội hỏi.

- Sự bối rối tâm hồn, Phanxicô trả lời. Nước bị khuấy động chắc chắn không phải là nước trong sạch. Đối với con người cũng vậy. Khi lòng trí xôn xao rối loạn, ấy là dấu không phải Chúa sáng soi hướng dẫn: cái gì thúc đây người ta hành động đó, chứ không phải tinh thần của Chúa... Bao lâu người ta được tất cả mọi sự như ý mình muốn, người ta khó lòng biết được mình có tinh thần của Chúa hay không. Người ta dễ lầm tưởng coi những tính xấu của mình như những nhân đức, tìm thỏa mãn bản thân dưới chiêu bài mục đích cao siêu, vô vị lợi. Lầm tưởng một cách hoàn toàn vô ý thức. Nhưng khi có dịp nào đó làm con người thường tự dối mình như vậy, phải chịu sự trái ý hay sự chống đối, thế là mặt nạ rơi xuống ngay: người ta bối rối giận dữ. Dưới con người “thiêng liêng” giả mạo đã xuất hiện con người “xác thịt” không khác nào một con vật sẵn sàng cấu xé để tự vệ. Sự bối rối và hay gây sự đó là dấu hiệu con người không do ơn Chúa thôi thúc đâu nhé.

Một hồi khuông trong ẩn viện. Giờ đọc Thần tụng. Phanxicô và Ruphin đứng lên, tiến bước về phía nhà nguyện. Họ bước đi bình tĩnh như những người không chút bận bịu.

Thình lình Phanxicô đập tay lên vai Ruphin ra hiệu cho anh đứng lại. Ngài tỏ vẻ lưỡng lự. Sau cùng ngài nhìn thẳng vào mắt anh Ruphin và nói cách trịnh trọng:

- Này anh, nhờ ơn Chúa giúp, anh đã thắng được cái tính tự nhiên thống trị, thích làm oai. Không phải một lần hay hai, nhưng mười, hai mươi có khi cả trăm lần khác nữa, anh còn phải cố gắng.

- Cha nói làm con sợ hãi. Con không cảm thấy đủ nghị lực để chiến đấu lâu dài như vậy.

- Anh sẽ không đủ nghị lực, nếu chỉ ra sức chiến đấu, nhưng cũng phải cầu nguyện nữa chứ. Người cầu nguyện Thiên Chúa, tất nhiên là nhìn nhận chỉ có Thiên Chúa là Đấng quyền năng. Nhìn nhận điều đó và chấp nhận điều đó, sâu xa tận đáy lòng. Người đó vui mừng vì Thiên Chúa là Thiên Chúa. Có Thiên Chúa, thế là đủ. Người đó sẽ hoàn toàn tự do. Anh hiểu không?

- Vâng, thưa Cha, con hiểu

Hai cha con lại bước đi, họ chỉ còn cách nhà nguyện chừng dăm bước nữa.

- Nếu chúng ta biết cầu nguyện thờ kính Chúa, Phanxicô nói, chẳng có gì làm cho chúng ta bối rối cả. Chúng ta sẽ đi khắp cùng trái đất một cách bình thản, như những con sông vĩ đại êm đềm.