KINH KÍNH CHÀO ĐỨC TRINH NỮ MARIA [1]
Trong truyền thống các bản sao, kinh này nhiều khi được chép tiếp liền với kinh "Kính chào các Nhân đức". Một vài nhà phê bình hiện đại nghĩ rằng lúc đầu cả hai kinh này cũng chỉ là một kinh. Họ dựa vào sự kiện vừa nêu ở trên và câu cuối cùng trong kinh Kính chào Đức Trinh Nữ Maria. Đàng khác, một vài bản sao kinh "Kính chào các Nhân đức" mang đầu đề : "Các nhân đức mà Đức Trinh Nữ Maria đã được trang điểm và mỗi linh hồn thánh thiện phải có". Tuy nhiên, trong đa số các bản sao thì hai kinh này lại được tách ra, nghĩa là mỗi kinh có đầu đề riêng. Vì thế chúng tôi nghĩ rằng đây là hai bản văn độc lập. Các chứng lý nội tại yểm trợ cho quan điểm này, vì các câu văn của hai lời kinh rất khác biệt nhau.
BẢN VĂN
1 Kính chào Bà,
Nữ hoàng thánh thiện,
Thánh Mẫu của Thiên Chúa,
Maria nữ trinh đã trở thành ngôi đền thờ [2],
2 được Chúa Cha chí thánh trên trời tuyển chọn.
Chúa Cha cùng với Chúa Con chí thánh dấu yêu
và Chúa Thánh Thần, Đấng Bảo trợ, đã thánh hiến Bà.
3 Bà đã được và đang được tràn đầy ơn phúc
và mọi điều thiện hảo.
4 Kính chào Bà, cung điện của Chúa.
Kính chào Bà, nhà tạm của Chúa.
Kính chào Bà, ngôi đền của Chúa.
5 Kính chào Bà, hoàng bào của Chúa.
Kính chào Bà, nữ tì của Chúa.
Kính chào Bà, thân mẫu của Chúa.
6 Và kính chào toàn thể các Dũng-thần thánh thiện[3] :
Nhờ Chúa Thánh Thần thi ân và soi sáng,
quí vị được đổ xuống trong tâm hồn các tín hữu,
để biến đổi những con người bất tín,
nên những tôi tớ trung thành của Thiên Chúa.
[1] Đầu đề bằng La-ngữ: Salutatio beatae Mariae Virginis, x.Opuscula, tr.299.
[2] Ecclesia: đền thờ, nhưng cũng còn có nghĩa là Giáo-hội , x.Francis of Assisi, vol.I: the Saint, ở tr.163 có lời chú thích như sau: " Trong khi thánh Am-rô-xi-ô viết về Đức Ma-ri-a như là nguyên mẫu của Giáo-hội , và các tác giả khác xem người như là nguyên-mẫu hay là mẫu gương, thì Phan-xi-cô là người duy nhất gọi Bà là "Nữ-trinh trở thành Giáo-hội".
[3] Omnes sanctae virtutes. "Virtutes" thường được dịch là các nhân đức, nhưng từ này còn là danh hiệu của các Thiên-thần được nhắc tới nhiều lần trong Di-cảo (x.L ksc 23,6; DC 40;. Điệp-ca trong Bộ Kinh Thương khó). Sau khi kính chào Đức Mẹ, Phan-xi-cô kính chào các Thiên-thần vây quanh Ngài. Theo truyền thống Ki-tô-giáo, ma quỷ xúi dục người ta làm điểu dữ, thánh Phan-xi-cô dựa trên Phúc-âm để khẳng định là Satan cố dập tắt Lời Chúa khỏi cõi lòng người ta để tới cư ngụ ở đó (L ksc 22,19-20). Còn các thiên-thần khích lệ người ta thực hành các nhân đức. Vì thế có sự đồng hóa giữa các Thiên-thần và các nhân đức. Tác động của các thiên-thần thực ra phát xuất từ "ân sủng và sự soi sáng của Chúa Thánh-thần". Vì thế lòng tôn sùng đối với các thiên-thần là một cách diễn tả cụ thể lòng tôn sùng đối với Chúa Thánh-thần (x.D.Barsoti, La Prìere de St Francois ,Paris 1982,p.43-60).
Thánh Phan-xi-cô yêu mến đặc biệt ngôi đền thờ kính Đức Mẹ các Thiên-thần ở Po-xi-un-cu-la; theo kinh nghiệm của ngài, nơi đó "được nhiều thiên-thần trên trời viếng thăm" (1Celano 105).
| < Prev | Next > |
|---|
- 07.11.2008 Bài ca gởi các chị em thánh Clara
- 07.11.2008 Bài ca anh Mặt trời
- 07.11.2008 Kinh vượt qua
- 05.11.2008 Kinh suy tôn
- 05.11.2008 Kinh Lạy Cha quảng diễn
- 05.11.2008 Kinh kính chào các nhân đức
- 05.11.2008 Lưu bút gởi anh Lêô
- 05.11.2008 Kinh đọc trước thánh giá
- 05.11.2008 Lời mời gọi ngợi khen Thiên Chúa
- 05.11.2008 Thư gởi anh Lêô

