Mến tặng các anh Đình Trí, Thanh Đề, Khánh Thông nhân dịp lãnh nhận chức thánh vào ngày 13-6-2010 tại Học viện Phanxicô.
Vì linh mục được thụ phong đại diện cho Đức Kitô, vai trò của người ấy không thể trở thành vai trò của kẻ thống trị áp bức nhưng là thể hiện vai trò của Đức Kitô là người tôi tớ.
1. Đức Giêsu, vị Linh mục Thượng phẩm
“Đức Kitô không phải là một tư tế (linh mục), nhưng là một giáo dân”. Mới đây tôi nghe một linh mục trẻ tuyên bố như thế. Anh ta có vẻ ái ngại khi thấy mình có vẻ không không phải là một ‘giáo sĩ’. Sự thật là Đức Giêsu chưa bao giờ thi hành trách nhiệm phục vụ Đền Thờ. Thậm chí Người không phải là một rab-bi được tấn phong. Trong mắt những người đương thời, Đức Giêsu chỉ là một giáo dân thôi. Giuse, người cha hợp pháp của Người, là một thành viên của chi tộc Giuđa, chứ không thuộc hàng tộc Lêvi phát xuất từ chức tư tế Do-thái cha truyền con nối (Mt 1,1-18; Lc 2,4-5; 3,1-38).
Tuy nhiên, các Kitô hữu sơ khai quan tâm đến việc Đức Giêsu trong tư cách là Đấng Mêsia (Hi-lạp: Christos, Đấng được Xức Dầu). Người hoàn tất những lời ngôn sứ trong Cựu Ước việc xức dầu với cùng quyền lực thần linh được phong trên Aharon là Thượng tế và trên Đavít là Vua và trên các vị kế tục. Từ Các Cuộn Da bên bờ Biển Chết chúng ta biết rằng một số người Do-thái vào thời Đức Giêsu chờ đợi một Đấng vừa là “Đấng Mêsia thuộc nhà Đavít” vừa là “Đấng Mêsia thuộc nhà Aharon,” và các kitô hữu tin rằng Đức Giêsu đã hoàn tất cả hai niềm hy vọng này. Tuy nhiên, để tránh hiểu lầm về mặt chính trị trong sứ vụ của Người, Đức Giêsu đã không tuyên bố công khai tư cách này về bản thân mình hay cho phép Nhóm Mười Hai làm như thế. Tuy nhiên, cách riêng Người chấp thuận lời tuyên xưng đức tin của Phêrô về bản thân là Đấng Kitô (Mc 8,27-30; Mt 16,13-20; Lc 9,18-21). Theo Tin Mừng Nhất Lãm, Đức Giêsu, thậm chí tại cuộc xử án, khi bị Philatô thẩm vấn Người có phải là “Vua dân Do-thái” hay không, thì Đức Giêsu chỉ trả lời “là do ông nói đó” (Mc 15,2; Mt 27,11; Lc 23,3) và vẫn giữ thinh lặng. Tuy thế, ở một trình thuật đầy đủ hơn trong Ga 18,28-40, Người đã giải thích, “nước Tôi không thuộc về thế gian này.”
Vậy, phải chăng Đức Giêsu là một linh mục? Đối với Giáo Hội thời Tân Ước và hôm nay đối với tất cả những ai chấp nhận Kinh Thánh được linh hứng, từ các thư Phaolô đến thư Do-thái vấn đề đó đều được giải quyết mà không có bất kỳ sự nhập nhằng nào. Thậm chí từ quan điểm văn chương, thì thư Do-thái là một trong những tác phẩm ấn tượng nhất của Tân Ước, mặc dù chúng ta không chắc ai là tác giả của thư này. Do văn phong của lá thư, nhiều Giáo Phụ nghi ngờ việc cho rằng thánh Phaolô là tác giả và phần lớn các nhà chú giải hôm này cũng nghĩ như thế. Tuy nhiên, lá thư ấy là một tác phẩm được linh hứng, thuộc thư quy, và có lẽ được viết trước khi Giêrusalem sụp đổ vào năm 70 SCN, vì dường như lá thư thừa nhận rằng các việc phục vụ Đền thờ vẫn đang tiếp tục (Dt 10,1-3…). Một số nhà chú giải giải thích những đoạn văn này chỉ là những quy chiếu tới những chỉ dẫn thuộc Cựu Ước đối với việc phục vụ Đền Thờ. Tuy nhiên, chắc chắn rằng nếu tác giả đã viết lá thư này sau khi Đền Thờ bị phá huỷ, thì ông đã đề cập đến việc bãi bỏ những hy tế Đền Thờ như là một bằng chứng rõ rệt trong luận đề của ông rằng các việc phụng sự của Luật Cũ chỉ là tạm thời, chỉ là bóng mờ của những điều sắp đến.
Thật khá hiển nhiên là tại sao lá thư này, dù trong vòng xoắn mờ mịt về tác giả, đã được Giáo Hội sơ khai xem là quan trọng đủ để được kết luận là thuộc thư quy. Dựa trên nền tảng của nhiều quy chiếu Cựu Ước lá thư chứng tỏ cách hùng hồn rằng (1) Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa vượt trên mọi tạo thành; (2) tuy nhiên Người cũng là con người thật, trong mọi sự như chúng ta ngoại trừ tội lỗi; (3) và vì thế trong tư cách là Đấng Kitô, Người là Đấng Trung Gian của chúng ta. Người là linh mục đích thực duy nhất, Đấng ở với chúng ta và cho chúng ta hiến dâng chính mình cho Thiên Chúa như là hy tế xứng hợp và như thế mang lại cho chúng ta ơn cứu độ từ Thiên Chúa, là Cha của Người.
Như vậy, mặc dù thánh Phaolô và các Tin Mừng chưa bao giờ nói cách minh nhiên Đức Giêsu là một linh mục, thư Do-thái khẳng định chắc chắn rằng Người không những là một linh mục mà còn là một linh mục chân thực duy nhất. Hơn nữa, mặc dù Tin Mừng Nhất Lãm và thánh Phaolô không nói Đức Giêsu là một “linh mục”, nhưng tất cả thực sự liên kết những lời nói long trọng và hành động của Người vào Bữa Tối. Điều gì có thể rõ rệt hơn hành động trong tư cách là linh mục hơn việc chia sẻ bánh và rượu của Người khi Người phán với Nhóm Mười Hai: “Đây là mình Thầy hiến tế vì anh em… chén này là giao ước mới trong máu của Thầy, bất cứ khi nào anh em uống, để tưởng nhớ đến Thầy,” vậy là đang hiện tại hoá hy tế thập giá đang đến (1 Cr 11,23-34, x. 10,16-17; Mc 14,22-26; Mt 26,26-29; Lc 22,14-23)? Chắc chắn những quy chiếu này làm sáng tỏ điều mà Giáo Hội sơ khai đã hiểu BữaTối là một hành vi tôn thờ của linh mục trên vai trò của Đức Giêsu được nối tiếp là một thực hành chủ yếu trong cộng đồng Kitô giáo.
Cốt lõi đối với toàn bộ cuộc tranh cãi về lá thư Do-thái là sự khẳng định rằng cái chết hiến tế này của Đức Giêsu là hy tế đích thực duy nhất có thể xoá tan tội lỗi. Như vậy, Đức Giêsu là Đấng và là Thượng Tế Thượng Phẩm chân thực và duy nhất trong hàng tư tế thuộc dòng dõi Aharon của Cựu Ước, chỉ là những kiểu mẫu ngôn sứ. Như vậy, tác giả thư Do-thái cho thấy rằng Bữa Tối hình dung trước cái chết hy tế của Đức Giêsu cũng chính là một tác động ngôn sứ mang tính linh mục. Đối với một số nhà chú giải nghiêng về Tin Lành thì nhấn mạnh trên việc rao giảng Lời như là sự đối kháng với việc nhấn mạnh của Công giáo trên việc thực thi chức linh mục của các Bí tích, hạn từ “phụng tự” có những ý nghĩa tiêu cực. Các học giả này cũng cường điệu mối tương phản giữa các truyền thống ngôn sứ và tư tế của Cựu Ước. Sự thật là các ngôn sứ thường tố cáo những ai tuân phục những nguyên tắc phụng tự của Luật trong khi xao lãng những đòi buộc về luân lý. “Vâng phục thì tốt hơn dâng hy lễ” (1 Sm 15,22). Tuy nhiên “tôn sùng,” mang nghĩa đơn giản là “thờ phượng” (worship) và không có nơi nào trong Kinh Thánh thi hành việc “thờ phượng” hay “tư tế” có những nghĩa tiêu cực như thế. Mà hoàn toàn ngược lại, “chức linh mục” và việc “thờ phượng” (bất cứ điều gì có thể được nói về những tư tế chuyên biệt và sự trung tín của họ đối với ơn gọi của họ), khi họ đang thi hành nhiệm vụ phục vụ Thiên Chúa Duy Nhất, đối với Kinh Thánh thì luôn là những lời tích cực (St 14,18). Đó là lý do tại sao thư Do-thái quan tâm đến sự việc cho thấy Đức Giêsu không chỉ là một tư tế, nhưng còn là một Thượng Tế, Tư tế Tối Cao. Như thế, bất cứ cố gắng nào đưa vấn đề chức tư tế Kitô giáo mang tính thần học thì phải bắt đầu với chân lý mạc khải mà thư Do-thái đã chứng thực cách rất sâu sắc. Nghiêm túc mà nói thì chỉ có thể có một Tư Tế duy nhất là Đức Giêsu, vừa là người vừa là Thiên Chúa đích thực, Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại, Đấng đã dâng hiến bằng một hy tế trọn hảo, hy tế là chính bản thân mình trên Thập giá.
2. Chức linh mục của những người đã được rửa tội
Các kitô hữu Tin Lành đôi khi nêu vấn nạn, “Nếu như thư Do-thái dạy rõ rệt, Đức Giêsu là linh mục duy nhất và việc dâng hiến của Người trên Thập giá là một hy tế trọn hảo nhất đối với tội lỗi (Dt 10,11-18), thì làm thế nào lại có thể có những linh mục được truyền chức dâng thánh lễ hằng ngày như một hy lễ?” Phải chăng thừa tác vụ của người Kitô hữu không được thụ phong để trở thành nhà rao giảng, thì không phải là một linh mục tế tự sao? Họ cũng cho thấy rằng các nhà lãnh đạo của các cộng đoàn Tân Ước không được gọi là các ‘linh mục’ nhưng là các ‘kỳ mục hay trưởng lão’ (elders -presbyters). Tuy nhiên, đồng thời họ không thể bỏ qua các bản văn Kinh thánh quan trọng khác ngoài thư Do-thái. Trong lá thư đầu tiên của thánh Phêrô chúng ta đọc thấy, “Còn anh em, anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền. Xưa anh em ‘chưa phải là dân’, nay anh em đã là Dân của Thiên Chúa (1 Pr 2,9-10a). Bản văn này, trích dẫn Xh 19,6 với qui chiếu tới Dân được chọn, cũng được xác minh bởi lời ngôn sứ đã làm cho dân Do-thái trong thời đại Mêsia, “Còn anh em, anh em sẽ được gọi là tư tế của Đức Chúa, người ta sẽ gọi anh em là "người phụng sự Thiên Chúa chúng ta." (Is 61,6). Ý nghĩa của các bản văn này là đã tuyển chọn và thánh hiến Israen như dân riêng của Người trong một Giao Ước nhờ đó họ được liên kết chặt chẽ chỉ để phụng thờ Người mà thôi. Tư tưởng này được tiếp nối thêm nữa bởi hai bản văn khác trong Isaia đệ tam:
Như thế, dân Do-thái được mời gọi trở thành người trung gian nhờ đó Thiên Chúa Chân Thật sẽ được muôn dân nhận biết. Như vậy, Dân Ngoại cũng sẽ đến thờ phượng Thiên Chúa tại Đền Thánh Giêrusalem và thậm chí từ những người ngoại này, một số sẽ được tuyển chọn để trở thành những tư tế. Vì thế, những sứ ngôn này, trong sự hoàn thiện của người kitô hữu, tiên vàn chưa được thể hiện cho những cá nhân, nhưng là cho Giáo Hội như một thân thể duy nhất và kể từ đó cho các thành viên mà nhờ bí tích Rửa tội trở thành các chi thể của một thân thể. Thánh Phaolô nói, “chúng ta là một thân thể trong Đức Kitô, và mỗi người liên đới với những người khác như những bộ phận của một thân thể.” (Rm 12,5). Giáo Hội, cộng đoàn Kitô hữu, là một ‘giống nòi được tuyển chọn’ hay ‘dân tộc’ là ‘dân Thiên Chúa,’ được Đức Kitô thánh hiến ‘riêng’như là ‘thánh’, và như một ‘vương quốc’ ‘hoàng tộc’. Giáo Hội là ‘linh mục’ vì Giáo Hội được mời gọi để ‘loan báo những kỳ công của Người (Thiên Chúa)’ theo một cung cách xứng hợp, nghĩa là nhờ Đức Kitô trong tư cách là Thiên Chúa mà chính Người đã định.
Sách Khải huyền khẳng định rằng giáo huấn của thư 1 Pr khi nói về Đức Kitô, “Người làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người : kính dâng Người vinh quang và uy quyền đến muôn thuở muôn đời. A-men” (Kh 1,6). "Người cũng làm cho họ thành một vương quốc, thành những tư tế, để phụng thờ Thiên Chúa chúng ta, và họ sẽ làm chủ mặt đất này." (Kh 5,10). “Cái chết thứ hai không có quyền gì trên họ ; nhưng họ sẽ là tư tế của Thiên Chúa và của Đức Kitô, họ sẽ hiển trị với Đức Kitô một ngàn năm ấy.” (Kh 20,6). Công đồng Vaticanô II nhìn nhận : đây là chức linh mục phổ quát của tất cả những người được rửa tội. Nó được thực hiện cách tượng trưng trong việc xức dầu thánh của bí tích Thêm sức theo sau bí tích Rửa tội.
Trong Hiến chế Tín lý về Giáo hội của Công đồng Vaticanô II (Lumen Gentium) chúng ta đọc thấy: Tín hữu là những Kitô hữu đã được tháp nhập vào thân thể Chúa Kitô nhờ phép Rửa, đã trở nên Dân Thiên Chúa. Theo phận vụ riêng của mình, họ tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Kitô. Họ là những người đang thực hiện sứ mạng của toàn dân Kitô giáo trong Giáo Hội và trên trần gian” (số 31).
Chúng ta có thể kết luận rằng dụng từ “linh mục” (Hi-lạp: hierous, La-tinh: sacerdos) có thể và phải được áp dụng cho toàn thể Kitô hữu, thực vậy, chỉ có một từ duy nhất, nhưng theo nghĩa loại suy để hoàn tất chức tư tế của Đức Kitô. Mọi chức Tư tế thêm vào chức tư tế của Đức Kitô có thể chỉ là một số hình thức tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô mà thôi, từ đó mà nó phải kín múc toàn bộ ý nghĩa và quyền năng của chức tư tế ấy. Khi Đức Giêsu nói, “Đừng gọi ai trên mặt đất này là cha, vì ngươi chỉ có một Cha trên trời” (Mt 23,9), Người không phủ nhận chúng ta có những người cha và mẹ mà Thiên Chúa là Cha chúng ta đòi buộc chúng ta phải kính trọng (Mt 15,4). Đúng ra Người muốn dạy rằng tình phụ tử nhân loại chỉ là một sự chia sẻ tư cách cha của Chúa Cha Tối Cao là Đấng Tạo Thành, Đấng là người cha hoàn hảo. Tương tự, mặc dù Đức Kitô là linh mục duy nhất, nhưng tất cả những ai đã chịu phép rửa là những thành viên của thân mình Đức Kitô và nhờ Người mà tôn thờ Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần, mà chia sẻ cách đích thực chức tư tế của Người. Vì thế, tôi có thể nói với anh bạn linh mục trẻ rằng, “Có thể là anh đúng khi nói rằng Đức Giêsu là một giáo dân, nhưng chắc chắn là anh sai khi nói rằng Người không phải là một tư tế (linh mục). Đức Kitô là linh mục duy nhất và chúng ta, những Kitô hữu đã được rửa tội là những tư tế chỉ trong và cho Người như chúng ta là Giáo hội. Giáo Hội là thân thể thánh của Đức Kitô được nuôi dưỡng nhờ Mình và Máu của Người trong Thánh Lễ, Người dâng hiến cho trần gian một lần và cho mọi thời trên Thập giá.”
3. Linh mục được tấn phong
Giáo huấn của thư Do-thái rằng Đức Kitô là tư tế duy nhất chắc chắn ám chỉ tới một khoa Giáo hội học . Như ông Môsê là trung gian của giao ước bất toàn trước đây, cũng thế Đức Kitô là trung gian của Giao ước mới chung cuộc hoàn hảo. Vì Giao ước đầu đã được thực hiện không chỉ với những cá nhân nhưng với Dân được tuyển chọn là Israen, cũng thế giao ước mới được thực hiện với Israen mới là cộng đồng Kitô hữu là Giáo hội. Vì đối với thư Do-thái thì Giáo Hội có được chính sự hiện hữu của mình như là một dân tư tế đối với Đầu là Đức Giêsu Kitô Thượng Tế, đó là một tổ chức phẩm trật. Hạn từ “phẩm trật (hierarchy),” mặc dù được Công đồng Vaticanô II sử dụng trong Lumen Gentium mà không có lời biện bạch nào, hôm nay là quyền rút phép thông công đối với một số vấn đề, mà đối với một số người nó có nghĩa là “quyền gây áp lực.” Thực ra, từ ấy phát xuất từ những vị anh hùng Hi-lạp, thánh thiêng, và nguyên lý khởi đầu, một nguyên tắc về thứ bậc, và vì thế chỉ có nghĩa là “chức thánh”. Giáo Hội không phải là một đám đông hỗn tạp hay một “Phong trào Giêsu" lỏng lẻo, nhưng là một cộng đồng có tổ chức, có cơ cấu chặt chẽ và hoạt động năng động mà tổ chức của Giáo Hội được xác định bởi sứ vụ thiêng liêng. Điều này được thấy rõ bởi hai ẩn dụ Kinh Thánh. Thứ nhất là trong thư thứ nhất của thánh Phêrô (2,4-8) so sánh các Kitô hữu với những “viên đá sống động” để “xây nên ngôi nhà thiêng liêng là hàng tư tế thánh để dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Người, nhờ Đức Giêsu Kitô.” Trong công trình này, chính Đức Kitô không chỉ là một “viên đá sống động” nhưng còn là “viên đá góc.” Ẩn dụ thứ hai đã được thánh Phaolô trau chuốt trong chương mười hai của thư thứ nhất gởi giáo đoàn Côrintô so sánh Giáo Hội với một thân thể sống động với các chi thể khác nhau trong đó Đức Kitô là đầu. Phaolô dùng lối ẩn dụ này để khôi phục trật tự trong Giáo Hội Côrintô mà rõ ràng là ngài đã có trong tâm trí không chỉ Đức Kitô tỏ hiện cách vô hình, nhưng còn trong những vị lãnh đạo cộng đoàn là những người thay mặt Đức Kitô trong Giáo Hội đó.
Vì thế, những ẩn dụ này làm rõ khía cạnh Giáo Hội là phẩm trật, nghĩa là có chức thánh trong đó Đức Kitô là Linh mục Thượng phẩm, là linh mục tối cao [1], căn nguyên của trật tự cơ cấu đó. Vì Giáo Hội là thân mình của Đức Kitô nhờ đó mà Người hiện diện và tác động cách hữu hình trong sứ vụ trên trần gian, các vị lãnh đạo của Giáo Hội cũng phải biểu thị một cách bí tích về sự hiện diện linh mục trong lòng Giáo Hội. Như một số thần học gia Tin lành, phải nói rằng sự hiện diện của Đức Kitô được biểu lộ cách đầy đủ trong lời rao giảng về Lời mà Người hạ mình trong mầu nhiêm Nhập Thể. Đức Kitô thực sự hiện diện qua nhà rao giảng, nhưng cũng qua các bí tích, và trên hết là qua việc hiệp dâng Thánh Lễ. Tất cả ba chức năng của Đức Kitô, cai quản, rao giảng và thánh hoá được liên kết không thể tách rời trong Đức Kitô là Đầu của Giáo Hội và vì thế cũng trong vị đại diện bí tích của Người trong cộng đoàn. Thật thế, vì linh mục được thụ phong đại diện cho Đức Kitô, vai trò của người ấy không thể trở thành vai trò của kẻ thống trị áp bức nhưng là thể hiện vai trò của Đức Kitô là người tôi tớ. Phải chăng Đức Giêsu đã không nói về mình thế này sao, “Con Người không đến để được phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người” (Mt 20,28)?
Không như trong các Tin Mừng và trong các thư của thánh Phaolô, tự nó thư Do-thái không nói về Đức Giêsu là “đầu của thân mình là Giáo Hội” cũng không nói như người “tôi tớ.” Tuy nhiên tác giả chuyển tải cùng một chân lý bằng việc nhấn mạnh vai trò tư tế của Đức Kitô như là Đấng Trung Gian. Trừ khi Đức Kitô vừa là “đầu của thân mình là Giáo Hội” (Ep 5,23) cũng vừa là Tôi Tớ của Giáo Hội, Người không thể làm trung gian giữa Thiên Chúa và nhân loại. Là thủ lãnh tối cao của dân Người là Giáo Hội, Người là vị đại diện cho dân trước Thiên Chúa. Tuy nhiên là Con Thiên Chúa, Người cũng là vị đại diện của Thiên Chúa cho dân. Có lẽ một trong những công thức tuyên xưng sớm nhất của các Kitô hữu, một bản dịch về công thức Tuyên tín của người Do-thái, kinh Shema, là:
Chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người : đó là một con người, Đức Kitô Giêsu, Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người. (1 Tm 2,5-6).
Tuy nhiên, tư cách tôi tớ của Đức Giêsu không mâu thuẫn với vai trò lãnh đạo của Người trong tư cách là linh mục. Vào Bữa Ăn Tối, sau khi rửa chân cho Nhóm Mười Hai, Người nói : “Anh em gọi Thầy là “Thầy” và là “Chúa”, điều đó phải lắm. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em. (Ga 13,13-15).
Chắc chắn Đức Giêsu đã không do dự dạy bảo với một thẩm quyền chắc chắn hơn nhiều thẩm quyền của các kinh sư và Phrisêu bằng sự nguỵ biện hợp lý của họ (Mt 7,29). Tuy nhiên Người đã không đòi hỏi quyền này để dạy bảo và xét xử (Ga 6,27) như là quyền riêng của Người nhưng đã dựa trên sứ mạng mà Người lãnh nhận từ Cha Người, một sứ mạng không phải để kết án nhưng là để cứu độ (Ga 3,26-27). Vì thế, Người đã chọn cho mình một tước hiệu là “mục tử”, “Tôi là mục tử nhân lành” (Ga 10,14), một tước hiệu Do-thái cổ dành các các vua của họ và các lãnh tụ khác (Ed 34). Bổn phận của mục tử là phải bảo vệ đoàn chiên của mình và trên hết là giữ chúng di chuyển cùng với nhau cho dù xu hướng nổi loạn của chúng muốn tản mác và lang thang vào chỗ nguy hiểm. Để cộng đồng Kitô hữu vẫn là một cộng đồng và thi hành sứ mạng của mình như là Giáo Hội, thì nơi đó phải là “một đoàn chiên và một mục tử” (Ga 10,16).
Vì Đức Giêsu luôn ý thức rằng đời sống trần thế của Người sẽ chấm dứt trên thập giá, điều đó cấp bách nên Người chuẩn bị đầy đủ cho sự tiếp nối vai trò lãnh đạo này sau khi Người ra đi. Mặc dù Người luôn hiện diện cách vô hình đối với Giáo Hội của Người trong đức tin (“Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế” Mt 28,20), tuy nhiên, tư cách thủ lãnh này của Giáo Hội, cách này cách khác, phải tiếp tục cách hữu hình. Đây là lý do tại sao Đức Giêsu đã tuyển chọn rất kỹ và chuẩn bị Nhóm Mười Hai bằng việc giải thích đầy đủ ý nghĩa giáo huấn của Người. “Anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ [đám đông] thì không” (Mt 13,10-11). Người đã ban cho Nhóm Mười Hai những danh hiệu riêng của Người là “mục tử” như khi Người nói với Phêrô, “Hãy chăn dắt chiên của Thầy” (Ga 21,17); “xét xử” (“Bất cứ điều gì anh em cầm buộc dưới đất thì trên trời cũng sẽ cầm buộc, và bất cứ điều gì anh em tháo cởi thì trên trời cũng thảo cởi” Mt 16,19; x. Mt 19,28), và “thầy dạy” (“Ai nghe anh em là nghe Thầy,” Lc 10,16). "Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em."(Mt 28,18-20).
Người ta có thể nêu vấn nạn là tại sao trong những bản văn như thế không đề cập đến từ “linh mục”. Nhưng trong bản văn vừa mới được trích dẫn, rõ ràng là Nhóm Mười Hai phải làm phép rửa. Như đã đề cập rồi, vào Bữa Tối họ được lệnh tiếp tục cử hành Thánh Thể. Họ cũng được quyền tha tội ("Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha ; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ." Ga 20,22-23). Như vậy là rõ ràng, rằng trong khi chuẩn bị và rời xa các lãnh đạo trong Giáo Hội, Đức Giêsu có dụng ý muốn họ sẽ chia sẻ tư cách thủ lãnh của Người trong Giáo Hội không chỉ như những mục tử và thày dạy mà còn như những thừa tác viên các bí tích, nghĩa là, như các linh mục. Tuy không được dùng trong đó, nhưng thuật ngữ “linh mục” được giải thích bởi nhu cầu của Giáo Hội non trẻ để tránh bất cứ đề nghị nào khiến các vị lãnh đạo của Giáo Hội buộc phải là những linh mục (tư tế) Do-thái. Như thư Do-thái khẳng định, chức tư tế của người Kitô hữu là thực tại của của chức tư tế Aharon và chức tư tế này chỉ là một ẩn dụ.
Điều ấy cũng bác bỏ rằng trong các bản văn mà tôi trích dẫn và những bản tương tự khác, thì không luôn hiển nhiên là liệu Đức Giêsu có đang trao ban quyền năng cách riêng biệt cho Nhóm Mười Hai và các người kế vị của họ hay trên tất cả các môn đệ của Người sau đó và hiện nay hay không. Công đồng Vaticanô II đã giải đáp cho vấn nạn này, như tôi đã đề cập đến rồi, do giáo huấn mà trong khi toàn thể Giáo Hội là tư tế (linh mục) vì Giáo Hội chia sẻ nơi sứ vụ của Đức Giêsu và nơi thừa tác vụ ‘bộ ba’ của Người là mục tử, thày dạy và linh mục, Giáo Hội không thể làm như thế mà không có lãnh đạo hữu hình. Những vị lãnh đạo này không ở ngoài và ở trên Giáo Hội, nhưng là những thành phần của một thân thể sống động, là thủ lãnh của Giáo Hội thì cũng là bộ phận của thân mình. Họ cũng đón nhận sự sống của họ từ thân mình đó. Thực thế, họ sống và hành động trong việc phục vụ sự hiệp nhất và sứ vụ của thân mình đó chỉ bởi quyền năng của Thánh Thần đang linh hoạt Giáo Hội, thủ lãnh và các thành viên.
Do đó, những ai được Đức Kitô uỷ thác cho việc dạy bảo và cai quản cũng như dẫn dắt cộng đoàn trong việc thờ phượng, nhất là chủ toạ Thánh Lễ là hành vi thờ phượng tối cao của Giáo Hội. Chỉ nhờ trật tự này về tư cách lãnh đạo trong Giáo Hội là nhằm chủ toạ việc thờ phượng mới có thể thấy mục đích thiêng liêng chính yếu về tư cách lãnh đạo của họ. Theo cách này nó ăn khớp kiểu mẫu đã được Đức Giêsu đưa ra vào Bữa Tối. Các giáo phụ đã thấy một qui chiếu rất hợp lý trong thư Do-thái mà bản văn dùng trong Thánh Lễ, “Điều tốt là củng cố tâm hồn bằng ân sủng, chứ không phải bằng đồ ăn thức uống, là những thứ chẳng sinh ích gì cho những người giữ luật Môsê về chuyện ăn uống. Chúng ta có một bàn thờ ; những gì dâng trên đó, các người lo việc phụng tự trong Lều không có quyền ăn” (Dt 13,9-10). Tuy nhiên, hôm nay điều phổ biến, đối với các học giả Kinh thánh thấy không có gì hơn trong những lời này là một ám chỉ tới bàn thờ trên trời, nghĩa là cái vĩnh hằng, một lần và cho tất cả hy tế của Đức Kitô. Bài đọc này đòi hỏi người ta phải giả thiết rằng đúng ra bản văn dùng cách gượng ép từ “ăn” có nghĩa là một hành vi đức tin nơi Thập Giá. Tuy nhiên dường như là tự nhiên hơn để hiểu nó như là một sự so sánh giữa bữa ăn thánh thuộc CƯ được chia sẻ bởi những người dâng hy tế trong Đền Thờ và Thánh Lễ như bữa tiệc thánh tưởng nhớ và làm hiện diện hy tế Thập Giá. Mặc dù điều này không được đưa ra như một quy chiếu đến Thánh Lễ, chúng ta không cần phải kinh ngạc điều mà tác giả thư Do-thái thích đưa ra những lý lẽ thuộc các bản văn CƯ vào thời mà TƯ chưa được viết ra. Việc hiểu biết của tác giả lá thư về sự tuôn trào bửu huyết Đức Kitô như sự khai mạc Giao ước Mới (Dt 9,18) dường như phản ánh những lời thiết lập bí tích Thánh Thể trong truyền thống đã được Phaolô tường thuật vào lúc đầu, “Chén này là giao ước mới trong máu của Thầy” (1 Cr 11,25).
Một vấn nạn cuối cùng khơi lên là tại sao trong TƯ chúng ta thấy không có nói gì về “việc tấn phong” đối với các người chỉ đạo là linh mục của Giáo Hội sơ khai. Ý nghĩa của bí tích Truyền chức thánh, dù là đối với GM, LM hay Phó tế, đều là những người lãnh đạo trong Giáo Hội mà không hành động theo ý riêng của họ nhưng chính xác là lãnh đạo trong tư cách thành viên của thân mình Đức Kitô. Họ không hành động theo quyền lợi riêng của họ mà chỉ nhân danh Giáo Hội, nghĩa là trong tư cách là những người đại diện của cộng đồng Kitô hữu. Cũng thế và tiên vàn họ hành động nhân danh Đức Kitô vì vai trò đặc biệt của họ là làm cho Đức Kitô nên hữu hình trong cộng đoàn như là đầu của nó, giống như các bí tích khác là những dấu chỉ về các tác động tha thứ, chữa lành, và nuôi dưỡng của Đức Kitô vô hình biểu thị cho cái hữu hình. Vì thế, trong khi cộng đồng có thể bày tỏ sự thích hợp của ứng viên cho chức linh mục và đón nhận, đồng ý ngài là đại diện hợp pháp của họ một khi ngài được chịu chức, họ không thể lấy quyết định cuối cùng về phần chịu chức của người ấy, hay họ không thể ban bí tích Truyền chức thánh cho ngài. Chỉ có các giám mục là những người có đầy đủ bí tích có thẩm quyền từ Đức Kitô qua những vị tiền nhiệm của họ là các Tông đồ mới có thể ban bí tích này. Việc trao cùng một quyền tông đồ này, mà Đức Giêsu đã ban cho Nhóm Mười Hai, phải là hành động công khai thực hiện cách minh nhiên trên đoàn chiên cho biết ai là những mục tử của họ. Nếu không đoàn chiên sẽ bị phân tán bởi “sói dữ” (Cv 20,29).
Trong khi có những cuộc tranh cãi bởi một số Giáo Hội Kitô bị cô lập trong thời gian lâu dài do thiếu LM dựa trên quyền riêng của mình, một GM có thể chọn một trong các thành phần của Giáo Hội làm linh mục, thì vẫn sẽ không có cách nào khác để biết rằng một vị lãnh đạo như vậy có quyền tông đồ này cho đến khi quyền ấy được công nhận đối với toàn thể Giáo Hội do một cuộc tấn phong hợp pháp. Một số thần học gia đã suy đoán rằng một Giáo Hội Kitô bị cô lập thiếu GM trong một thời gian lâu dài có lẽ có thể đúng trong việc dự phần riêng của mình như một cộng đồng Kitô giáo trong chức LM của Đức Kitô để chỉ định các linh mục cho mình. Tuy nhiên, cứ cho là họ phải thử điều này với một đức tin chân thành, thì sẽ vẫn không có cách nào cho họ hay cho toàn thể Giáo Hội biết rằng một vị lãnh đạo như thế có chức LM do quyền tông đồ cho tới khi người ấy được thụ phong bởi một GM hợp pháp trong một hành vi bí tích có hiệu lực chắc chắn. Mặc dù thừa tác vụ của vị linh mục được đề nghị này thậm chí có thể sinh hoa trái nhiều hơn tác vụ của một số linh mục được tấn phong, thì điều này cũng không làm cho người ấy một dấu chỉ bí tích hay không làm cho các bí tích có hiệu lực mà người ấy có thể cố gắng thi hành. Nhờ việc thụ phong hợp lệ, một LM tượng trưng một cách bí tích Đức Kitô không chỉ trong cách thức ẩn tàng như là đầu của Giáo Hội lịch sử trong sự hiệp nhất của nó qua thời gian và không gian. Dĩ nhiên, Đức Kitô có thể ban ân sủng cho thừa tác viên ngoài các bí tích như Người đã thiết lập chúng. Tuy nhiên, trong một cộng đồng Kitô giáo, việc thiếu một GM, ngay cả không có GM đoàn hay vị đứng đầu là GM Rôma, về cơ bản vẫn có thể thay đổi hay thay thế các bí tích. Tính vĩnh viễn cốt yếu của các bí tích chứng thực cách nhập thể tính thống nhất và liên tục trong lịch sử Giáo Hội.
Ngay từ đầu lịch sử Giáo Hội, dấu chỉ bí tích ‘truyền chức’ đã được ban do việc ‘đặt tay’ bởi những người được công nhận là những người kế nhiệm các Tông đồ (các giám mục) với những lời nguyện thích hợp diễn tả cấp độ và ý nghĩa của chức vụ được ban. Việc đặt tay này là một dấu chỉ rất tự nhiên, gợi lại cử chỉ của Đức Giêsu khi ban ơn lúc Ngài đưa tay và đụng chạm vào khi cần thiết (Mt 8,15, …). Trong Công vụ tông đồ 13,3 chúng ta đọc thấy cách thức Giáo Hội tại Antiôkhia sai Tông đồ Phaolô và Banaba trong sứ vụ đầu tiên đến với dân ngoại. Sau khi ăn chay và cầu nguyện, “Các Tông đồ đặt tay trên hai ông và sai họ đi,” như vậy là thừa nhận sự cần thiết của ơn Chúa đối với một nhiệm vụ khó khăn như thế. Trong khi việc đặt tay này được thực hành vừa trong Giáo Hội Đông phương và Tây phương cho thấy hành vi cốt yếu của việc phong chức không phải luôn được các thần học gia nhìn nhận hay được công bố cách chính thức mãi tới khi ĐGH Piô XII làm như thế vào năm 1947. Rõ ràng là ngay từ đầu, đối với các vị lãnh đạo Giáo Hội cần phải có linh mục cũng như quyền mục vụ và giáo huấn, LM phải lãnh nhận quyền ấy dưới hình thức tấn phong công khai được thực hiện bởi các vị lãnh đạo là những người có thể công bố cách đúng đắn quyền tông đồ.
Như thế câu trả lời của tôi cho câu hỏi của anh bạn, vị linh mục trẻ, có thể được tóm tắt như sau (1) Kinh thánh dạy cách minh nhiên trong thư Do-thái rằng Đức Giêsu thực sự là một linh mục, Linh mục Duy Nhất được chức tư tế trong CƯ tiên báo. (2) Giáo Hội là Thân Mình Đức Kitô chia sẻ chức linh mục của Người hay nhiệm vụ thánh hoá, cũng như tư cách vương đế hay vai trò mục tử, và trong nhiệm vụ giáo huấn, trong sứ vụ Phúc Am hoá thế giới và hiến dâng thờ phượng Thiên Chúa —nhất là dâng Thánh Lễ. (3) Tuy nhiên, Giáo Hội không thể hành động như một thân mình được hiệp nhất, vô tì tích củng cố đức tin của con người mà không có một lãnh đạo được tăng cường bởi việc tấn phong với quyền tông đồ từ Đức Kitô để hành động như những đại diện và khí cụ trong việc phục vụ của Giáo Hội và trong sứ mạng của Giáo Hội. (4) Vì chức linh mục của những người được tấn phong không thể tách rời khỏi chức linh mục của tất cả những người đã được rửa tội, và ngược lại, do đó cả hai không thể tách rời khỏi chức linh mục duy nhất của Đức Kitô là cội nguồn và là mục đích của chúng.
Fr. Benedict Ashley, O.P.
Antôn Vũ Hữu Lệ OFM (chuyển ngữ)
Ngày Lễ Thánh Tâm 11-6-2010, kết thúc Năm Linh Mục
[1] La-tinh hierarcha, Hi-lạp hierarchçs (éåñáñ÷ç̣) nghĩa là "lãnh tụ có chức thánh", từ hieros sacred + -archçs –arch. Theo Merriam-Webster Collegiate® Dictionary thì hierarch là lãnh tụ tôn giáo có vị trí cao nhất ; vị trí hàng đầu trong một phẩm trật. (ND)
- 08.10.2010 Bài giảng lễ cha thánh Phanxicô tại Đakao 04.10.2010
- 08.10.2010 Nhận biết tình yêu của Thiên Chúa và đáp trả
- 17.09.2010 Bài giảng lễ kính thánh Phanxicô được năm dấu thánh trên đỉnh La Véc-na
- 15.09.2010 “Cái điên của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người”
- 11.06.2010 Nhìn xem, cảm nghiệm, loan báo
- 14.05.2010 Giờ thánh của Đức Maria
- 15.03.2010 Này là mẹ anh
- 16.01.2010 Giải mã người phụ nữ trong sách Khải Huyền
- 08.01.2010 Tâm tình tạ ơn cuối năm
- 05.01.2010 Một cuộc hội ngộ đáng nhớ

