Tỉnh dòng Phanxicô Việt Nam

Những người mang quà tặng Phúc Âm

Saturday, May 19th

Last update06:51:19 AM GMT

Giờ thánh của Đức Maria

duoichanthapgiaCó một chủ đề hết sức nan giải trong Tin Mừng Gioan có thể làm sáng tỏ vai trò độc đáo của Đức Maria trong lịch sử cứu độ. Chủ đề này quan trọng đến nỗi nó sẽ giúp chúng ta biết làm thế nào mà Đức Maria lại có thể trở thành "Evà Mới " và là người mẹ thiêng liêng của mọi Kitô hữu. Chúng ta hãy nhìn vào chủ đề xuyên suốt này trong Tin Mừng IV là chủ đề về "Giờ".

Chủ đề bí nhiệm về "giờ" của Đức Maria vận hành như một sợi chỉ xuyên suốt trong Tin Mừng Gioan và tạo ra tình trạng thấp thỏm đầy kịch tính đối với độc giả. Trước hết chúng ta bắt gặp chủ đề xuyên suốt này vào khởi đầu sứ vụ công khai của Đức Kitô tại tiệc cưới Cana, vào lúc Đức Giêsu nói với Đức Maria, "Giờ của con chưa đến" (Ga 2,4). Vào lúc này, Đức Giêsu không làm sáng tỏ giờ này là giờ nào hay vào lúc nào thì giờ ấy sẽ đến. Người chỉ nói rằng giờ mầu nhiệm chưa đến.

Tính tò mò của chúng ta tăng lên khi Đức Giêsu quy chiếu đều đặn đến một số giờ tối hậu sắp đến. Thí dụ, đang khi ngỏ lời với người phụ nữ Samaria, Người nói rằng giờ đang đến khi những kẻ thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật (4,21-23). Rồi đang khi ngỏ lời với đám đông tại Giêrusalem, Người nói giờ đang đến khi các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa và ai nghe thì được sống (5,25).

Giờ bí ẩn của Đức Kitô được đề cập đến hơn hai lần trong những khoảnh khắc xung đột căng thẳng giữa Đức Giêsu và các đối thủ của Người. Nhưng lần nữa, thực chất và sự phối hợp của giờ này vẫn bị che phủ. Khi người Do-thái tại Giêrusalem tìm cách bắt Đức Giêsu, Tin Mừng Gioan ghi nhận rằng không ai có thể ra tay trên Người được "vì giờ của Người chưa đến" (7,30). Tương tự như vậy, sau cuộc tranh cãi sôi nổi với người Pharisêu, không ai có thể bắt giữ Đức Giêsu vì "giờ của Người chưa đến" (8,20).

Đôi khi, chúng ta nghe nói về một số giờ bí ẩn gần đến nhưng chẳng bao giờ đến cách trọn vẹn. Vì thế, chúng ta cần xem xét giờ này là giờ gì ? Và khi nào giờ ấy sẽ đến?

Giờ đã đến

Thật may, giờ được chờ đợi bấy lâu cuối cùng đã đến trong Gioan 12. Chỉ sau khi Người vào Giêrusalem trong Tuần Thánh. Cuối cùng Đức Giêsu công bố giờ của Người đã đến. Người nói, "Giờ đã đến để Con Người được tôn vinh" (Ga 12,23). Và Đức Giêsu tiếp tục bảo cho chúng ta biết mọi sự giờ này là giờ gì : tình yêu hy tế và tự hiến của Người trên Thập giá (Ga 12,24–25).

Nhưng tới một mức độ thật đáng kể, Tin Mừng Gioan ghi nhận cách thức làm thế nào mà giờ này không phải là một khoảnh khắc nguy kịch trong cuộc đời Đức Giêsu. Giờ của Đức Kitô cho thấy đó là bước ngoặt trong lịch sử thế giới ! Vì giờ ấy đưa chương trình cứu độ của Thiên Chúa đến mức viên mãn như đã được tiên báo tất cả trong sách Sáng Thế từ lâu lắm rồi. Giờ của Đức Giêsu dẫn đến sự thất bại của ma quỉ, mà Thiên Chúa đã hứa Người sẽ hoàn tất trong St 3,15. Chúng ta cần xem xét những gì mà chính Đức Giêsu nói sẽ xảy ra trong giờ của Người :

"Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian. Giờ đây thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngoài ! Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi." Đức Giêsu nói thế để ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào." (Ga 12,31–33)

Cần lưu ý cách thức Đức Giêsu nói về cái chết của Người không như khoảnh khắc thất bại, nhưng là một khoảnh khắc chiến thắng. Khi Người được giương cao trên Đồi Can-vê, thì "quyền lực của thế gian này" -satan- sẽ bị tống ra ngoài. Sự thất bại của satan nhắc đến lời tiên báo nổi tiếng trong St 3,15 khi Thiên Chúa tiên báo rằng cuối cùng một người nữ sẽ có một người con, người nữ ấy sẽ đạp dập đầu con rắn. Vì thế, Tin Mừng Gioan, trình bày giờ Khổ nạn của Đức Giêsu như là giờ thất bại của satan. Cuối cùng, giờ của Đức Kitô hoàn tất lời ngôn sứ xưa trong St 3,15.

"Giờ" của Người Đàn Bà dưới chân Thập giá

Điều này có những ẩn ý thâm sâu để có thể hiểu những lời nói sau cùng của Đức Giêsu trên Thập giá, khi Người ngỏ lời với bà với tước hiệu thật lạ lùng là "người đàn bà" : "Khi Đức Giêsu thấy mẹ Người và người môn đệ thương mến đứng gần, Người nói với mẹ Người, 'Này Bà, đây là con bà!'" (Ga 19,26).

Trong Tiệc cưới Cana, đây là điều hết sức bất thường đối với một người đàn ông Do-thái gọi mẹ mình là "đàn bà". Thực ra, không có điều rõ rệt nào nơi người Giu-đa cổ và người Hi-lạp xưa nơi người con mà lại đi nói với mẹ mình theo cách này. Vì thế, ắt hẳn Đức Giêsu đã có một số mục đích chiến lược khi gán cho mẹ Người tước hiệu độc đáo là "người đàn bà."

Một khi chúng ta nhận ra điều đó trong Tin Mừng Gioan, "giờ" chết của Đức Giêsu được hiểu là sự thất bại của ma quỉ và là sự hoàn tất của Sáng thế 3,15 (x. Ga 12,31–32), ý nghĩa tước hiệu "người đàn bà" của Đức Maria mang nghĩa trọng tâm này. Rõ ràng trong bối cảnh với St 3,15, Đức Maria đang được gọi là "người đàn bà" trong hoạt cảnh này sẽ nhắc nhớ đến một người phụ nữ đặc biệt : người phụ nữ của Sáng thế 3,15 mà con của bà sẽ đã đánh bại con rắn. Thực vậy, Tin Mừng Gioan liên kết Đức Maria với người phụ nữ xưa kia là Evà.

Evà mới

Và vì Kinh Thánh mô tả Evà là "mẹ của mọi sinh linh " (St 3,20), sự liên kết của Đức Maria với "người phụ nữ" của Sáng Thế lan toả thêm ánh sáng trên mẫu tính thiêng liêng của mẹ trên toàn thể các kitô hữu—một đề tài đã được khai phá trong suy tư của chúng ta trong Gioan 19. Tại đó, chúng ta đã xem xét làm thế nào mà ý nghĩa biểu tượng của tương quan từ mẫu với người môn đệ được Chúa yêu thể hiện nơi Đức Maria như người mẹ thiêng liêng của mọi tín hữu Kitô. Tại đây, chủ đề Evà mới trong Gioan 19 củng cố và đào sâu sự đồng thuận Kinh Thánh đối với mẫu tính thiêng liêng của Đức Maria. Y như Evà là mẹ của mọi sinh linh, thì Đức Maria, trong tư cách là Evà Mới, trở thành mẹ của tất cả người nào đang sống sự sống thần linh trong Đức Kitô nhờ ân sủng.

Đây là điểm mà ĐGH Gioan Phaolô II thực hiện khi ngài suy tư về những lời của Đức Kitô nói với Đức Maria trên Thập giá. Bằng những lời "Này là con bà!" Đức Giêsu chỉ cho thấy rằng sứ vụ từ mẫu của Đức Maria sẽ tiếp tục theo một nẻo đường mới. Cho tới lúc này, bà đã phục vụ trong tư cách là mẹ của Đấng Mêsia ; sự vụ từ mẫu của mẹ tìm thấy "một sự liên tục 'mới' trong Giáo hội và qua Giáo hội, được biểu tượng hoá và được tượng trưng bởi tông đồ Gioan [người môn đệ được yêu]."[1] Là mẹ của Đức Giêsu, giờ đây ngài cũng trở thành mẹ của mọi Kitô hữu chia sẻ đời sống của Đức Kitô.

Đón Đức Maria về nhà?

Cuối cùng, chúng ta hãy xét ba điểm từ câu cuối của của hoạt cảnh này tại chân Thập giá nói với chúng ta về nẻo đường của người môn đệ được yêu đã đón nhận Đức Maria như người mẹ thiêng liêng của mình : "Và kể từ giờ đó người môn đệ đón lấy Đức Maria về nhà mình" (Ga 19,27).

Trước hết, các hạn từ "từ giờ đó" không ám chỉ tới một giờ khắc theo thứ tự thời gian, nhưng ám chỉ tới giờ tối hậu của Đức Kitô về một tình yêu tự hiến trên Thập giá và sự chiến thắng toàn diện của Người trên satan. Điều ngụ ý là giờ đây công trình cứu độ của Đức Kitô trên Đồi Can-vê thì hoàn tất, người môn đệ Chúa yêu có thể "đón lấy Đức Maria về nhà mình."

Nhưng, kế đến, "đón lấy" Đức Maria về nhà mình có ý nghĩa gì đối với người môn đệ được yêu ? Trong Tin Mừng Gioan từ hi-lạp "đón lấy" (lambano – ëá́âÜíù - take) có ba nghĩa. Nghĩa thứ nhất là khi được liên kết với một vật hiển nhiên rõ ràng (về thể lý) thì lambano ám chỉ tới lấy cái gì đó về vật chất như lấy ổ bánh mì ("Rồi Đức Giêsu cầm lấy bánh . . . " [Ga 6,11]). Thứ đến, tuy nhiên, khi được liên kết với một ân ban thiêng liêng, thì từ này không ám chỉ tới việc cầm lấy theo nghĩa di chuyển cái gì đó về vật chất hầu nắm lấy nó. Thay vào đó, nó có nghĩa là "đón nhận" trong việc lãnh nhận ân sủng (Ga 1,16) hay lãnh nhận Thánh Thần (Ga 20,22). Thứ ba là, trong một cao trào khác, khi từ lambano được liên kết với một con người thì nó có nghĩa là đón nhận một người nào đó cách cá nhân— chào đón, chấp nhận, hay tin tưởng vào người ấy. Trong Tin Mừng Gioan, nghĩa thứ ba này thường được dùng để diễn tả người nào đó đang chào đón Đức Kitô trong đức tin với sự tin tưởng (Ga 1,12; 5,43; 13,20).[2]

Do hoạt cảnh của chúng ta tại Thập giá trong Gioan 19,27 sử dụng từ "đón lấy" (lambano) – CGKPV : rước – qui chiếu tới bản thân Đức Maria, nghĩa thứ ba nhắm đến cá nhân thì rất có thể phù hợp ở đây. Do đó, khi bản văn nói người môn đệ được yêu "đón" Đức Maria, điều này không có nghĩa là người môn đệ ấy đưa Đức Maria trên một hành trình đến một nơi đặc thù nào. Đúng ra, điều ấy nhắm đến một cuộc chào đón mang tính cá nhân Đức Maria vào cuộc đời của người môn đệ ấy. Cần nhắc nhớ rằng Đức Giêsu chỉ đặt người môn đệ được yêu trong một tương quan tân tử-mẫu với Đức Maria ("Này là mẹ anh!"). Như vậy, người môn đệ được yêu "đón lấy" (lambano) Đức Maria nhắm đến sự chấp nhận hân hoan Mẹ Đức Giêsu của ngài trong tương quan mới mẻ này khi ngài đón nhận Đức Maria là mẹ ngài.

Đón nhận Đức Maria

Thứ ba là, "người môn đệ rước bà về nhà mình" có ý nghĩa gì? Qua những từ cuối cùng chung chung được dịch là "nhà mình" (tức nhà riêng của người môn đệ ấy), diễn tả trong nguyên bản hi-lạp theo nghĩa đen nhiều hơn, "vào nhà người môn đệ" hay "vào trong những gì của người ấy." Thật ra, Tin Mừng Gioan sử dụng lối diễn tả này để mô tả dân riêng của Đức Giêsu (1,11), đàn chiên của Người (10,4), hay các môn đệ của Người (13,1). Nhất là trong Gioan 13, các từ " riêng của Người" mô tả sự hiệp thông sâu xa và riêng tư với các môn đệ của Người.

Vì thế, trình thuật người môn đệ được yêu đón nhận Đức Maria đi vào "cái riêng tư của người ấy" chắc chắn không như áp dụng với người môn đệ đơn thuần là rước ngài (Đức Maria) về nhà mình. Tin Mừng Gioan quan tâm tới điều gì đó còn sâu xa hơn chỉ là chuyện Đức Maria đi đến sống ở nơi nào. Đúng ra, người môn đệ được yêu rước Đức Maria "về nhà mình" chỉ ra điều gì đó sâu xa hơn và thiêng liêng hơn nhiều. Người môn đệ được yêu đón Đức Maria đi vào sự hiệp thông sâu xa và riêng tư, đón lấy trọn vẹn mẹ của Đức Giêsu là mẹ của riêng mình. Ngài đón Đức Maria như là người của "riêng mình"."[3]

Lần này, có chỗ trong quán trọ

Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II thêm vào điểm nhấn thiêng liêng trong hoạt cảnh này. Ngài lưu ý rằng các hạn từ "vào cái riêng của mình " trong Tin Mừng Gioan qui chiếu đến "món hàng hay tặng phẩm thiêng liêng nhận được từ Đức Kitô: ân sủng (Ga 1,16), Ngôi Lời (Ga 12,48; 17,8), Thần Khí (Ga 7,39; 14,17), Thánh Thể (Ga 6:32–58)."[4]

Rồi ngài kết luận rằng người môn đệ được yêu, trong khi đón nhận Đức Maria "đi vào cái riêng của người ấy," là nhận ra Đức Maria như là tặng phẩm thiêng liêng cao quí được ban cho các môn đệ của Đức Kitô. Bằng việc rước Đức Maria "vào cái riêng của mình," người môn đệ được yêu đón nhận Đức Maria không chỉ như một người mẹ thông thường, mà như một người mẹ thiêng liêng là đáng thay mặt cho tặng phẩm thiêng liêng sâu thẳm cho đời sống nội tâm của người ấy. Y như người môn đệ trung tín đón nhận Ngôi Lời, Thần Khí, hay Thánh Thể vào đời sống thiêng liêng của mình, cũng thế người môn đệ được yêu đón nhận mẫu tính thiêng liêng của Đức Maria như là một kho báu được ban cho ngài bởi Đức Chúa chúng ta. Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô II thúc đẩy chúng ta tạo ra một chỗ cho Đức Maria trong đời sống riêng tư của chúng ta, y như người môn đệ được yêu đã làm trong đời của ngài :

Trong số những ân ban ngài nhận được từ sự việc là ngài được Đức Giêsu thương yêu, người môn đệ đón nhận Đức Maria như là mẹ mình, là đang thiết lập một sự hiệp thông đời sống sâu xa với người (Đức Maria) (x. Mẹ Đấng Cứu Thế - Redemptoris Mater, số 45, ghi chú 130). Nguyện xin cho mỗi Kitô hữu, phỏng theo mẫu gương người môn đệ được yêu, mà "rước Đức Maria về nhà mình" và tạo ra một nơi cho người trong đời sống riêng hàng ngày của mình, đang khi nhận ra vai trò quan phòng của người trong hành trình cứu độ.[5]

[1] John Paul II, Redemptoris Mater, no. 24, available online at www.vatican.va/holy_father/ john_paul_ii/encyclicals.
[2] I. De La Potterie, Mary in the Mystery of the Covenant (New York: Alba House, 1992), pp. 225–28; G. Montague, Our Father, Our Mother (Steubenville, OH: Franciscan University Press, 1990), pp. 128–29.
[3] I. De La Potterie, Mary in the Mystery of the Covenant, pp. 227–28; G. Montague, Our Father, Our Mother, pp. 128–29.
[4] John Paul II, General Audience, May 7, 1997, as cited in John Paul II, Theotokos (Boston: Pauline Books and Media, 2000), p. 193.
[5] Ibid.

Edward P. Sri

Antôn Vũ Hữu Lệ (chuyển ngữ)