Nhận ra lời mời gọi của Thiên Chúa và quảng đại đáp trả quả là điều quan trọng trong đời kitô hữu. Nhưng không phải chỉ thế, người kitô hữu còn phải giúp nhau nhận ra tiếng gọi của yêu thương của Thiên Chúa đang đổ xuống trên những người mà mình gặp gỡ trên dòng đời này. Tháng 11, tháng cầu cho các tín hữu qua đời, thật hữu ích để suy nghĩ về: Lòng quảng đại, phần thưởng của Thiên Chúa cũng như sự tự do đáp trả của con người. (VHL)
Sự thử thách của Thiên Chúa. Phần thưởng của chúng ta. (Mt 20,1-16)
"Cả các anh nữa hãy đi vào vườn nho."- Mt 20,7
Lời mời gọi này đã được Đức Giêsu đưa ra đã trên 2000 năm nay trong dụ ngôn các tá điền vườn nho. Những thính giả của Người biết rằng Người không chỉ nói về những trái nho cần phải được thu hoạch hay ông chủ vườn đã mềm lòng đối với những kẻ thất nghiệp. Thật ra, dụ ngôn này cũng như nhiều dụ ngôn khác của Đức Giêsu đã đưa ra thách đố vào lúc này -status quo- và thúc giục các thính giả của Người phải nỗ lực với một nhận thức mới đối với Nước Thiên Chúa mà Chúa chúng ta đang cố gắng truyền đạt.
Chẳng có gì phải ngạc nhiên vì dụ ngôn này hãy còn đưa ra những thách đố cho chúng ta trong thời đại hôm nay. Chúng ta cần nhìn cận cảnh hơn câu chuyện và các ý nghĩa mà các thính giả vào thời Đức Giêsu đã có thể gán cho nó, và rồi áp dụng các bài học của nó cho chúng ta hôm nay.
Nước Trời ví như vườn nho
Điều đầu tiên chúng ta lưu ý trong dụ ngôn này (dụ ngôn này chỉ có trong Tin Mừng Mt) là Đức Giêsu đang nói về "Nước Trời." Bảng thuật ngữ lần xuất bản thứ hai của cuốn Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo nói với chúng ta rằng vương quốc, "Nước Thiên Chúa" "thể hiện trong chính Đức Giêsu," Đấng "nhờ Thánh Thần thiết lập dân của Người trong vương quốc tư tế là Giáo Hội, tại đó Nước Thiên Chúa là sự hiện diện cách mầu nhiệm, vì Giáo Hội là hạt giống và là khởi đầu của Vương Quốc trên mặt đất".
Chủ đề "Vương quốc" là chủ đề rất quan trọng trong Tin Mừng Mt. Lời đầu tiên của Gioan Tẩy Giả trong Tin Mừng Mt là "Anh em hãy sám hối vì Nước Trời đã đến gần" (3,2). Nhưng lời đầu tiên của Đức Giêsu khi Người bắt đầu rao giảng, lại được Mt ghi nhận chính xác thì giống như của Gioan (4,17). Từ "triều đại - basileia" xuất hiện 56 lần trong Mt. Còn hình thức "nước trời" - basileia ouranos) 32 lần, mà 10 trong số các trường hợp này nằm trong bối cảnh Đức Giêsu kể dụ ngôn mô tả vương quốc này (bắt đầu ở 13,24. 31. 33. 44. 45. 47; 18,23; 20,1; 22,2; và 25,1). Đức Giêsu rất muốn các thính giả của Người biết về vương quốc mà Người đến để thiết lập.
Trong khi so sánh nước trời, Đức Giêsu đang sử dụng một đề tài không thông dụng (uncommon) đối với Người- đề tài vườn nho. Nhưng các thính giả của Người đã hiểu rất rõ vườn nho đã được canh tác thế nào, vì vườn nho là "một trong các dấu chỉ căn bản của sự giàu có về mặt nông nghiệp vào thời Kinh Thánh [với ] quá trình lao động thích hợp cho một tài sản như thế...đã xác định cách tổng quát trong các bộ luật khác." [1] Thêm vào đó, "Bài ca Vườn nho của Isaia" là một hình ảnh bậc thầy về tiêu chuẩn của nghề trồng nho [thu hoạch nho] áp dụng cho đời sống của dân (Is 5,1-7)." [2] Vì thế, chúng ta thấy vườn nho cũng là một biểu tượng cho Israen (x. Tv 80,8 ví Israen như "cây nho ngoài Ai cập").
Các tầng lớp Ý nghĩa
Ngay trong đoạn trước dụ ngôn này, Đức Giêsu công bố cách đặc biệt cho các môn đệ. Hoạt cảnh không thay đổi đối với dụ ngôn này. Thật ra, dụ ngôn này đến ngay sau lời tuyên bố của Phêrô về Đức Giêsu: "Chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy" (Mt 19,27), rồi kèm theo là một câu hỏi "vậy thì chúng con sẽ được gì?" (19,27). Thế rồi Đức Giêsu bảo với Nhóm Mười Hai rằng họ sẽ ngự trên 12 ngai để xét xử 12 chi tộc Israen, thế rồi Ngài kết luận "nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót và nhiều kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu" (19,30).
Sự hoán đổi ngay trong vai trò lãnh đạo trong dụ ngôn những tá điền vườn nho, trong đó Phêrô và các môn đệ khác học biết rằng phần thưởng của họ sẽ lớn hơn bất kỳ một phần thưởng nào khác trên đời này-nghĩa là một đời sống vĩnh cửu. Dụ ngôn kết thúc bằng một tiếng dội trong Matthêu 19,30, lại nữa cho thấy dụ ngôn này là một lời đáp trả và bổ sung cho sự tiến triển câu trả lời của Đức Giêsu dành cho Phêrô.
Người chủ là Chúa Cha (20,1) và người quản lý là Đức Giêsu (20,8). Các tá điền được nói đến là nhân loại. Nhưng chính xác thì Đức Giêsu quy chiếu đến ai? Như với hầu hết các dụ ngôn của Đức Giêsu, dụ ngôn này rất phong phú trong các tầng lớp ý nghĩa của nó. Một đàng nhìn vào đó mà thấy rằng các tá điền là những nhân vật lớn trong lịch sử cứu độ đã được Thiên Chúa gọi đi làm việc cho Ngài. Công việc này đã khởi sự với các Tổ phụ, rồi các luật sĩ, sau đó là các ngôn sứ, và cao điểm là Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ.
Thánh Grêgoriô Cả (đã được thánh Tôma Aquinô trích dẫn trong tác phẩm Chuỗi Vàng của ngài, hay "Catena Aurea"[3]) cho thấy những giờ khắc trong ngày tương ứng với các thời điểm của lịch sử cứu độ. Ngài giải thích rằng buổi sáng là thời gian từ Ađam đến Nôê, giờ ba trải dài từ Nôê đến Abraham, giờ sáu từ Abraham đến Môsê, và giờ chín là từ đó đến thời Đức Giêsu. Giờ thứ mười một (nghĩa là giờ trước khi mặt trời lặn, chấm dứt ngày làm việc) đang hướng đến việc chờ đợi: từ thời Đức Giêsu cho đến tận thế. Ở đây lời mời được được mở rộng ra cho đến mọi người, không chỉ cho dân được tuyển chọn.
Một lối giải thích khác có thể có là Đức Giêsu đang đi từ hiện tại nhắm tới tương lai; các Tông đồ là những người đầu tiên được gọi trong Giao ước mới, trong khi những kẻ khác vào thời của Ngài cũng như trong tương lai thì được gọi sau.
Tuy nhiên, khi nhìn vào đó với một cách thế khác, thánh Âu-tinh và nhiều vị khác cũng đã liên kết giờ trong dụ ngôn với năm tháng đời sống của một con người: vì họ như thể là những người được gọi vào giờ thứ nhất, những người khởi sự là những kitô hữu tươi trẻ ngay từ trong dạ mẹ; những thiếu niên được gọi là những người vào giờ thứ ba; các thanh niên là vào giờ thứ sáu, họ là những người đang tiến về tuổi già, vào giờ thứ chín, và những người được gọi vào giờ thứ mười một là tất cả những người già yếu; tuy nhiên tất cả những người này đều cùng nhận được như nhau, một đồng tiền denarius của đời sống vĩnh cửu. [4]
Vì thế kể từ thánh Âu-tinh, cũng như đa số các nhà chú giải khác, chúng ta biết rằng "tiền lương hằng ngày" (hay denarius, một đồng bằng bạc của đế quốc Rôma) được ám chỉ tới trong Mt 20,2 là biểu tượng của đời sống vĩnh cửu. Đồng bạc này, chỉ với hình Caesar, biểu thị cho Đức Vua Vinh Quang mà những tá điền trung tín sẽ gặp diện đối diện vào cuối ngày làm việc của họ.
Trong khi tiến đến ngay trước cuộc tiên báo lần thứ ba và đó là lần tiên báo cuối cùng của Đức Giêsu về cuộc Khổ nạn của Ngài, chúng ta nhận thêm được một ý nghĩa quan trọng. Lần tiên báo sau cùng cuộc Khổ nạn này của Đức Giêsu xảy ra khi Ngài đang tiến về Giêrusalem, nơi đó Ngài biết cái chết đang chờ đợi mình. Chắc chắn Đức Giêsu đang cố gắng đưa ra một sứ điệp quan trọng về thập giá.
Những bài học cho những thính giả của Đức Giêsu
Dân Do thái có thể nhận ra mình nơi những người được gọi trong những giờ đầu. Nhưng đúng hơn là vì ganh tị với lòng quảng đại của Thiên Chúa đối với tất cả Dân ngoại (ngay cả những người thu thuế và tội lỗi), họ phải học biết rằng ân ban cứu độ của Thiên Chúa được đề nghị cho tất cả và có thể đạt đến tất cả mọi người, dù khi một người được gọi trong cuộc đời hay trong dòng lịch sử. Dường như đối với họ có thể họ có một sự trách móc hợp lý (như được thấy đối với các tá điền giờ đầu trong cc 11-12) với lời kêu gọi Dân Ngoại là những kẻ đã đi lạc đường quá lâu. Nhưng họ là một dân cần phải nhớ lại sự bất trung cứ lập đi lập lại mãi trong khi Thiên Chúa vẫn cứ trung thành. (từ "lẩm bẩm" trong câu 11 nhắc nhớ sự lẩm bẩm của dân Israen chống lại Môsê trong sa mạc trong Xh 16,3). Thế rồi họ sẽ nhận ra rằng ơn cứu độ là một ân ban tự do của Thiên Chúa -như đang làm việc trong vườn nho của Người.
Các Tông đồ của Đức Giêsu có thể nhận ra mình là những người "sau cùng" giờ đây trở thành người "trước hết" (Mt 20,16). Điều này hoàn tất câu trả lời của Đức Giêsu cho Phêrô trong đoạn ngay trước dụ ngôn. Một phần thưởng xứng đáng! Tuy nhiên đây không phải là lý do để kiêu hãnh hay quá tự tin bệnh hoạn trên thành phần các Tông đồ. Sự tốt lành và quảng đại của Thiên Chúa, mà họ dự phần trong đó, được mở rộng cho mọi dân tộc.
Đối với Dân ngoại, những người được gọi rất trễ, không có lý do nào xem mình là không có giá trị trong sự phân biệt đối xử như những người đến "trước". Ơn cứu độ mở ra cho tất cả mọi người và tặng ban cho tất cả những ai làm việc, bất cứ khi nào tiếng gọi được đáp trả. Hoặc, như trong trường hợp người con hoang đàng, bất chấp họ xa cách bao lâu.
Quan trọng hơn cả là tất cả các tá điền đều nhận được lương hằng ngày - nghĩa là đời sống vĩnh cửu trên trời. Cần lưu ý là không có ai trong số các tá điền này bị xem là kẻ lười biếng. Tất cả đều đang tìm việc làm và vui mừng chấp nhận công việc vào bất cứ giờ khắc nào trong ngày. Thực ra, chỉ có những người đến trước thoả thuận về một số tiền lương đặc biệt, trong khi số còn lại thoả thuận làm việc mà không đòi hỏi một thù lao nào cả. Tuy nhiên, tất cả đều nhận phần thưởng của mình, tất cả đều bằng nhau, ngay cả những kẻ than phiền. Thực ra, một số người đưa ra giả thiết rằng những người được gọi đến sau đã làm việc thậm chí vất vả hơn để được trả lương như thế.
Những cơ hội vô tận
Trong dụ ngôn các tá điền vườn nho, Đức Giêsu cung cấp một sứ điệp về niềm hy vọng và tình thương cho tất cả các thế hệ. Luôn có niềm hy vọng cho con người để được cứu độ, bất chấp người ấy đã làm gì, ở độ tuổi nào, hay người ấy đã "đang đứng ngoài chợ" (Mt 20,3) được bao lâu. Trong sự quảng đại và tình yêu chan chứa của Người, Thiên Chúa kêu gọi chúng ta từ những năm tháng sớm nhất và tiếp tục kêu mời, thậm chí thuyết phục, suốt cả "ngày" đời của chúng ta để chúng ta đi vào hay trở về vườn nho của Người là Giáo Hội.
Điều này đòi hỏi tất cả chúng ta đáp trả lời mời gọi cách riêng tư. Đối với những ai đã khước từ những cơ hội làm việc trong vườn nho của Thiên Chúa hay xao lãng tận dụng các cơ hội như thế vì bất cứ lý do nào, thì điều ấy cũng không bao giờ là quá trễ. Bằng sự đáp trả lời mời gọi chúng ta trở thành những tá điền cho Thiên Chúa đồng hàng với các tổ phụ, các ngôn sứ, các Tông đồ và tất cả mọi tín hữu qua các thời đại. Hôm nay chúng ta tiếp tục công việc của Thiên Chúa.
Tuy nhiên, hẳn là chúng ta không được trì hoãn đáp trả lời mời gọi. Hẳn là chúng ta không bao giờ để rơi vào cái bẫy mà nghĩ là luôn có đủ thời giờ để thay đổi hay quay trở về với Thiên Chúa. Chính Đức Giêsu cảnh báo chống lại thái độ này: "Vì vậy, hãy tỉnh thức, vì anh em không biết ngày nào hay giờ nào" Chúa sẽ đến với anh (Mt 25,13). Như thánh Âu-tinh nói: "Nhìn kìa, đó là giờ thứ mười một, và phải chăng bạn vẫn chưa sẵn sàng, và có phải vì Ngài đến chậm? Không ai hứa hẹn với ngươi vào ngày mai cả." [5]
Có nhiều cách cộng tác với chương trình của Thiên Chúa. Chúng ta phải thường xuyên mời gọi những ai chưa biết đến tình thương của Đức Kitô liên kết với chúng ta trong Giáo Hội Người. Chúng ta làm điều này bằng cách mời gọi và khích lệ kẻ khác mà không cần để ý xem họ đang ở đâu trong hành trình đến với Thiên Chúa. Hãy xem thánh Grêgôriô Cả đã nói gì về những người trong dụ ngôn đã được hỏi tại sao họ vẫn còn ngồi không (20,7): "Và đó chính là điều phải nói, 'Không có người nào thuê chúng tôi,' nhưng là nói, 'Không ai rao giảng cho chúng tôi con đường sự sống?" [6] Ắt hẳn chúng ta không để cho bất cứ ai có lý do bảo là do không biết như là cái cớ khiến không quay trở về nhà với Chúa. Tất cả chúng ta đều phải chấp nhận lời mời gọi!
Thêm vào đó, chúng ta phải mở ra để nói về đức tin của chúng ta, và vì thế chúng ta phải có khả năng nhận biết đức tin của mình. Chúng ta được thúc đẩy phải "luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của chúng ta." (1 Pr 3,15).
Kinh Thánh, sách GLGHCG, và một số tài liệu Công giáo có giá trị... nên là những bạn thường xuyên trong hành trình đức tin của chúng ta. Thế rồi khi chúng ta được yêu cầu nói về niềm tin của mình, hay tìm kiếm một sự khai mở để bàn luận về chúng, chúng ta cần được trang bị tốt để làm như thế.
Chúng ta cần phải được tháp tùng bởi gương sáng của những kitô hữu sống động. Những hành động lên tiếng vang dội hơn là lời nói. Chúng ta được thánh Phanxicô Assisi nhắc nhở, ngài nói: "Rao giảng luôn luôn; khi nào cần thiết dùng lời nói." Phải chăng người ta nhận biết chúng ta là những kitô hữu nhờ lòng mến của chúng ta?
Điều quan trọng là cầu nguyện. Thiên Chúa tình yêu, Đấng biết chúng ta cần điều gì trước khi chúng ta xin, lại sẽ từ chối chúng ta điều tốt lành nào sao? Chúng ta nhận ra điều này là Thiên Chúa, Đấng đang hoạt động; chúng ta chỉ gieo hạt và tưới gội chúng bằng những lời chuyển cầu của chúng ta thay cho kẻ khác.
Cuối cùng, chúng ta sẽ không bao giờ mất hy vọng đối với những người như đang lầm lạc trong tội lỗi, dù đó là người trong gia đình, bạn bè, hay kẻ thù. An sủng và lòng nhân từ của Thiên Chúa có hiệu lực trên tất cả. Chúng ta được kêu gọi giúp đỡ kẻ khác qua chứng từ, sự khích lệ và lời cầu nguyện của chúng ta. Thánh Chrysostom nói rằng, biết bao lần chúng ta thấy nhiều người thoát ra khỏi sự ác và sau đó còn trổi vượt hơn nhiều người khác nữa"! [7]
Vì thế, bằng việc đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa, "Bạn cũng phải đi vào vườn nho của Người."
Richard Grebenc
Antôn Vũ Hữu Lệ (dịch)
(Trong Lay Witness Magazine, Mar/Apr 2008)
[1] Paul J. Achtemeier, gen. ed., Harper's Bible Dictionary (San Francisco: Harper & Row, 1985), p. 1114.
[2] Ibid.
[3] Golden Chain, MT-MK5001 (Mt. 20:1-16); available online from www.clerus.org. This site offers a searchable index of biblical text and commentaries and references made by Doctors of the Church and the magisterium
[4] Augustine on NT, 87 (Sermon XXXVII. [LXXXVII. Ben.]), no. 7; available online from www.clerus.org.
[5] Ibid., nos. 8 and 11.
[6] Golden Chain, MT-MK5001 (Mt. 20: 1-16).
[7] Ibid.
- 16.01.2010 Giải mã người phụ nữ trong sách Khải Huyền
- 08.01.2010 Tâm tình tạ ơn cuối năm
- 05.01.2010 Một cuộc hội ngộ đáng nhớ
- 09.12.2009 Đời sống của Đức Trinh Nữ Maria trước biến cố Truyền Tin
- 14.11.2009 Nên hoàn thiện bằng cách sống hiệp thông
- 17.10.2009 Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô
- 16.10.2009 Ân sủng và nguồn cội
- 16.10.2009 Phanxicô, con người "nhất nghệ tinh, nhất thân vinh"
- 16.10.2009 Về một tấm gương cần cù
- 15.10.2009 Câu hỏi của Đức Maria-phải chăng là một lời khấn hứa?

