Bài chia sẻ trong thánh lễ cha thánh Phanxicô tại Xứ Đakao chiều 03-10-2009
Trong tác phẩm Trung Hoa tên là Tây Du Ký thuộc thế kỷ 16, nhân vật Tôn Ngộ Không gốc là một con khỉ đá, khi thành khỉ sống, đã quậy phá tung trời lộn đất, và tự xưng là "Tề Thiên Đại Thánh". Phật Tổ Như Lai đến để tìm cách chế ngự, Phật đưa bàn tay lên bảo: Nếu ngươi nhảy qua được bàn tay của ta thì ta phục ngươi. Tôn Ngộ Không nghĩ thầm: Bay khắp trời đất còn được, phương chi một bàn tay! Thế là vận dụng tài đằng vân, Tôn Ngộ Không bay một hơi dài. Đến khi mở mắt ra chỉ thấy mây kéo vần vũ và một quả núi sừng sững ngất trời, Tôn Ngộ Không nghĩ là mình đã bay quá xa, bèn đắc chí phóng uế vào chân núi và viết mấy hàng chữ để lưu niệm. Bỗng mọi sự rung chuyển, Tôn Ngộ Không lại chỉ thấy bàn tay của Phật Như Lai trước mặt, ở ngón giữa có những dấu tích của mình. Hóa ra hắn chưa bay qua được năm ngón tay của Phật. Phật úp bàn tay lại, Tôn Ngộ Không liền bị đè dưới núi Ngũ Hành Sơn. Thế là "chạy trời không khỏi nắng"! "Lưới trời lồng lộng nhưng khó thoát". Sau này chú khỉ của chúng ta được thả ra, để theo Đường Tăng đi thỉnh kinh, nhưng thỉnh thoảng lại nổi chướng, khiến Phật Tổ lại phải trị bằng "vòng kim cô"...
Phanxicô Assisi không "chạy trời" để "khỏi nắng". Khi còn trẻ, ngài sống như không có "trời". Nhưng khi "lưới trời" đã chụp ngài, ngài không nổi loạn, trái lại ngài dừng lại mà hỏi: Lạy Chúa, con phải làm gì?" Rồi từ đó, chẳng can "vòng kim cô" bó trán, Phanxicô cứ thế bước tới theo Thầy Giêsu, và ngài đã khám phá ra "trời": Đây chính là Thiên Chúa (TC) mà Đức Giêsu Kitô, Thầy của ngài, gọi là "Cha". Và Phanxicô học được bài học của Thầy: luôn luôn quy hướng về Chúa Cha để đón nhận mọi sự từ Chúa Cha, dù đó là tình yêu và sự sống (Ga 6,57; 15,9-10), tư tưởng và ý muốn (Ga 4,34; 5,30), đạo lý (Ga 7,16), công việc và chương trình (Ga 5,17.19-21) và liên tục bày tỏ lòng biết ơn (dâng trả về cho) đối với Chúa Cha bằng thái độ ngưỡng mộ (Ga 8,49), say mê (Ga 17), tôn sùng (Ga 2,16-17). Ngài thấy Chúa Cha luôn luôn hiện diện gần gũi, quan tâm chăm sóc mọi con cái và từng người con; TC Cha là nguồn mạch mọi sự thiện, Người ban bất cứ điều gì cũng tốt cũng lành. Thậm chí "cái chết", mà dân chúng gọi bằng cái tên đáng sợ, "Tử thần", Phanxicô còn thấy là "chị", "Chị Chết", vì cái chết đưa ngài về với CCha.
Phanxicô hiểu như thế: "Khi Chúa ban cho tôi" là một cụm từ ngài dùng liên tục trong Di Chúc để nói lên xác tín ấy. Khi nói rằng điều này điều nọ là do TC ban, Phanxicô hiểu đó là đưa các ơn lành trở lại với nơi chúng đã xuất phát ra, và nói lời cám ơn là "trả", "dâng trả" ơn lành đó lại cho nguồn mạch.
Các môn đệ của thánh Phanxicô biết rõ: Tâm tình biết ơn và dâng trả các ơn lành này chạy xuyên suốt Tác phẩm của ngài, từ các Bản Luật, đến các Huấn ngôn, các Thư, các Bài ca, các lời Kinh (L Ksc 17,17.18; 23; T Pv 2; Hn 7,4; 8,4; 18; 21,2; 28,1-2...; BCAMT). Chẳng hạn, trong Bản Luật không sắc chỉ, ngài khuyên (L Ksc 17,17.18): "Chúng ta hãy dâng trả mọi sự tốt lành về cho Chúa là Thiên Chúa tối cao và chí tôn. Chúng ta hãy biết rằng mọi sự tốt lành là của Chúa và hãy tạ ơn Người về tất cả mọi sự; Người là nguồn mạch mọi sự tốt lành. Xin Người là Thiên Chúa tối cao và chí tôn, duy nhất và chân thật, nắm quyền sở hữu mọi danh dự và tôn kính, mọi lời ca ngợi và cung chúc, mọi lời tạ ơn và tôn vinh : chúng ta hy dâng trả và xin Người nhận lấy, vì mọi sự tốt lành đều thuộc về Người và chỉ một mình Người là tốt lành (x. Lc 18,19)". Hai cụm từ: "mọi sự tốt lành"; "dâng trả và nhận biết" được nhắc đi nhắc lại (4 lần). Còn trung tâm chính là "Thiên Chúa tối cao và chí tôn, duy nhất và chân thật; mọi sự tốt lành đều thuộc về Người, và chỉ một mình Người là tốt lành".
Muốn "nhận biết" như thế, con mắt và trí tuệ phải tỉnh thức, chăm chú, mà khám phá ra các dấu vết của Đấng duy nhất tốt lành ở khắp mọi nơi, rồi để cho con tim ngạc nhiên thích thú và hân hoan tưng bừng.
Hành vi "nhận biết" này tức khắc đưa tới hành vi "mở tay" ra, để "dâng lại, trả lại" cho Thiên Chúa tất cả những gì thuộc về một mình Người. Hiểu được như thế là một ơn soi sáng đặc biệt. Làm được như thế là lương thiện, vì nói thẳng ra được là những điều tốt lành đó không thuộc về ta. Ngạn ngữ Á rập bảo rằng: "Khi ta cưỡi một con ngựa đẹp, thì hãy nhớ rằng con ngựa đẹp". Thế nhưng phải chăng ta thường xuyên đồng hóa mình với biết bao con ngựa như vậy? Kiến thức, địa vị, quyền lực, tài sản... đều là những con ngựa đẹp Thiên Chúa ban cho ta để ta sử dụng mà lớn lên, không phải để ta tước đoạt khỏi tay Người mà co quắp lại.
Quả thế, anh em sẽ nói được vô số điều tốt lành, sẽ thực hiện được muốn vàn việc tốt lành. Nhưng có con mắt tinh tế và trí tuệ sắc bén là khi nhận biết được rằng chính Thiên Chúa đang nói và làm điều tốt lành "nơi anh em và nhờ anh em". Khi trái tim đã thấm nhuần quyền lực của Tin Mừng, nó thay đổi và dần dà quay về Thiên Chúa và người anh em, khi trái tim đã chết cho tính ích kỷ tự nhiên, thì người ta nên ngay thẳng và tốt lành. Người ta nên thánh thiện, gần kề Thiên Chúa, nên giống như Người. Sự tốt lành sẽ tỏa rạng quanh người ấy; bằng các lời nói và hành vi tốt lành, người ấy sẽ ảnh hưởng tới những người mình gặp. Quả thật, một người công chính, một vị thánh, có tính lây lan!
Thế nhưng ở đây lại có ẩn tàng một nguy hiểm chết người, một cám dỗ mà người công chính thường rơi vào. Đó là tự tôn vinh, và vui mừng về chính mình, là trong lòng tự đề cao về sự thiện mà mình thấy có nơi mình. Nếu người ta rơi vào cám dỗ này là vì người ta quên hai điều. Quên rằng mọi sự đến từ Thiên Chúa, từ Thánh Thần của Người, quên rằng Đức Kitô là Thiên Chúa. Kế đó, quên tình trạng bất lực tận căn của con người: nếu bỏ mặc cho chính mình, thì không thể làm bất cứ điều gì tốt lành, và lại có thể làm bất cứ điều xấu nào.
Phanxicô không quên hai điều ấy. Đoạn Kinh Tung hô sau đây là một minh họa:
Trọn vẹn Phanxicô la như thế, con người nghèo chân thật, không phải là một sự nghèo khó bên ngoài, nhưng là vắng bóng chính mình, tước bỏ mọi sở hữu bản thân, mọi tự hào cao ngạo, thậm chí mọi nhân đức, y như thể đã bị hớp lấy bởi sự thánh thiện và tốt lành là Thiên Chúa. Câu trả lời duy nhất của ngài là bài hát tự do của kẻ không có gì cho riêng mình, nhưng lại có mọi sự vì Thiên Chúa cũng lại vì người ấy mà ra sức sống nghèo, khi hiến mình trọn vẹn cho người ấy.
Và đây là lối sống được đề nghị cho chúng ta. Trong phim Clara và Phanxicô, có một cảnh kết thúc như đã bắt đầu, diễn tả Clara bước theo Phanxicô. Phanxicô đã hỏi: "Có phải chị đang bước theo những vết chân của tôi không?" Clara lắc đầu trả lời: "Không, em bước theo những vết chân sâu hơn" hay "lớn hơn". Quả vậy, có bước theo sát vết chân của Phanxicô, thì cũng vẫn chỉ là bước theo những vết chân cạn, vết chân nhỏ. Clara được Phanxicô dạy cho biết bước theo những vết chân sâu hơn, vì chắc chắn hơn, những vết chân lớn hơn, vì đáng kính hơn, đó là những vết chan của Đức Giêsu. Phanxicô cũng dạy chúng ta như thế. Và ngài biết rõ điều ngài dạy, vì chính ngài đã bước theo các vết chân sâu, vết chân lớn đó.
Bây giờ, đến lượt chúng ta sống như thế...
FX
- 16.10.2009 Ân sủng và nguồn cội
- 16.10.2009 Phanxicô, con người "nhất nghệ tinh, nhất thân vinh"
- 16.10.2009 Về một tấm gương cần cù
- 15.10.2009 Câu hỏi của Đức Maria-phải chăng là một lời khấn hứa?
- 15.10.2009 Tiên tri Giôna bướng bỉnh
- 14.09.2009 Lao mình về phía trước
- 19.08.2009 Linh mục, cha tinh thần của Dân Chúa (tiếp theo)
- 05.08.2009 Những lời nói cuối cùng của Đức Maria
- 14.07.2009 Linh mục, cha tinh thần của Dân Chúa
- 22.06.2009 Bài giảng lễ bế mạc Tổng Tu Nghị OFM 2009

