Tỉnh dòng Phanxicô Việt Nam

Những người mang quà tặng Phúc Âm

Saturday, May 19th

Last update06:51:19 AM GMT

Linh mục, cha tinh thần của Dân Chúa (tiếp theo)

Phần II: "Trong Đức Kitô, nhờ Tin Mừng, chính tôi đã sinh ra anh em" (1 Cr 4,15)

Hai yếu tố then chốt trong mầu nhiệm Thánh Phaolô sinh thành các Kitô hữu Côrintô là: ngài sinh ra họ "trong Đức Kitô" và nhờ Tin Mừng, nghĩa là nhờ việc rao giảng Tin Mừng cho họ.

2.1. Sứ vụ chính yếu của Phaolô là rao giảng Tin Mừng.

- "Thiên Chúa đã đóai thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại" (Gl 1,15-16).

- "Đức Kitô đã chẳng sai tôi đi làm phép rửa, nhưng sai tôi đi loan báo Tin Mừng, và loan báo không bằng lời lẽ khôn ngoan...(x. 1 Cr 1,17), nhưng chỉ căn cứ vào bằng chứng của Thần Khí và quyền năng. Có vậy, đức tin của anh em mới không dựa vào lẽ khôn ngoan người phàm, nhưng dựa vào quyền năng Thiên Chúa" (1 Cr 2,4-5).

- Không phải Phaolô không biết tới phép rửa (x. Gl 3,27) hay lệnh truyền của Chúa Kitô Phục Sinh: "Hãy đi biến muôn dân thành môn đệ (của Thầy), làm phép rửa cho họ..., dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền dạy cho anh em" (Mt 28,19-20), nhưng ngài để cho kẻ khác ban phát bí tích ấy, vì họ làm được, còn ngài tập trung vào việc rao giảng Tin Mừng, do chính Đức Giêsu Kitô trực tiếp mặc khải cho ngài (x. Gl 1,11-12). Đó là công việc chính yếu và nhiệm vụ cơ bản nhất, khiến ngài đã phải thốt lên: "Khốn thân tôi, nếu tôi không loan baùo Tin Mừng" (1Cr 9,16). Bởi lẽ Thánh nhân ý thức rằng: đức tin phát sinh từ việc nghe rao giảng lời Đức Kitô (x. Rm 10, 17); "nhờ đức tin, Chúa Kitô cư ngụ trong tâm hồn anh em" (Ep 3,17); "nhờ đức tin tất cả anh em đều là con cái Thiên Chúa trong Đức Kitô-Giêsu. Tất cả anh em đã chịu phép rửa để được kết hợp với Đức Kitô, thì đều mặc lấy Đức Kitô" (Gl 3,26-27), nghĩa là ở trong và sống trong Đức Kitô. Chúng ta chú ý đặc biệt tới cụm từ "trong Đức Kitô-Giêsu" trong các lá thư của thánh Phaolô.

2.2. Nhờ rao giảng Tin Mừng, Phaolô sinh ra các tín hữu "trong Đức Kitô".

Khía cạnh sâu sắc nhất trong mầu nhiệm cuộc sinh thành thiêng liêng này nằm nơi cụm từ "trong Đức Kitô". Cụm từ ấy có nghĩa gì? - Thánh Phaolô được các chuyên viên Kinh Thánh xem như là người đầu tiên sáng tạo và sử dụng cụm từ "trong Đức Kitô" ('en Christô = in Christo) hoặc "trong Chúa" ('en Kyriô = in Domino) [1]. Trước Thánh Phaolô, chưa ai dùng cụm từ này. Ngoài tác phẩm của ngài, người ta thấy cụm từ này rất ít được sử dụng, có chăng là một số lần trong tác phẩm của Thánh Gioan, với kiểu nói như; "Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em", trong đó Gioan thích dùng động từ "ở lại" (meinate = manete: Ga 15,4...). Cụm từ "trong Đức Kitô" xuất hiện rất nhiều lần trong các thư của Thánh Phaolô và mang nhiều ý nghĩa đa dạng, khác nhau, nhưng không mâu thuẫn, trái lại bổ túc cho nhau. Xuất phát chủ yếu từ hai bài thánh thi Cl 1,15-20Ep 1,3-14, và bằng một cái nhìn tổng hợp, chúng ta có thể rút ra mấy ý nghĩa chính sau đây:

2.2.1. "Trong Đức Kitô" có nghĩa là "trong hoặc theo khuôn mẫu Đức Kitô", đặc biệt khi Thánh Phaolô suy niệm về công trình tạo thành của Thiên Chúa.

"Trong Đức Kitô, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất..., tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người..., tất cả đều tồn tại trong Người..."(Cl 1,16-17).

- Thiên Chúa tạo thành muôn vật nhờ Đức Kitô (di'autou = per ipsum), nghĩa là với Đức Kitô như công cụ trung gian (Thánh Gioan cũng nói tương tự như thế, x. Ga 1, 3): Đức Kitô là công cụ;

- Thiên Chúa tạo thành muôn vật cho Đức Kitô (eis auton = in ipsum, theo Nova Vulgata), nghĩa là nhằm phục vụ hoặc tôn vinh Đức Kitô: Đức Kitô là mục đích;

- Thiên Chúa tạo thành muôn vật trong Đức Kitô (en autô = in ipso), theo khuôn mẫu Đức Kitô: Đức Kitô là mô hình.

2.2.2. "Trong Đức Kitô", từ cõi trời, Thiên Chúa đã chúc lành cho chúng ta..." (Ep 1,3).

Trong bài thánh thi của thư Ê-phê-xô (Ep 1,3-14), cụm từ "trong Đức Kitô" biểu thị lý do hoặc nguyên nhân khiến Chúa Cha chúc lành cho chúng ta, đó là công trạng, hoặc tình trạng của Đức Kitô đẹp lòng Chúa Cha. Trong Đức Kitô (= trong Thánh Tử yêu dấu), tức nhờ công trạng của Đức Kitô luôn đẹp lòng Thiên Chúa, Thiên Chúa làm những điều sau đây cho chúng ta:

- Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta (Ep 1,3);

- Thiên Chúa tuyển chọn chúng ta để trở nên thánh thiện, vô tì tích...(Ep 1,4);

- Thiên Chúa ban tặng ân sủng của Người cho chúng ta (Ep 1,6);

- Thiên Chúa ban ơn cứu chuộc và ơn tha thứ cho chúng ta... (Ep 1, 7);

- Thiên Chúa ban cho chúng tôi (những người thuộc dân It-ra-en) được thừa hưởng gia nghiệp (Ep 1,11);

- Thiên Chúa ban cho anh em (những người thuộc dân ngọai), sau khi đã tin, được đóng ấn tín Thánh Thần (Ep 1,13).

Nhờ việc rao giảng Tin Mừng, Thánh Phaolô tạo điều kiện cho Chúa Cha sinh ra các Kitô hữu Côrintô trong Đức Kitô, nhờ công trạng của Đức Kitô, bằng cách chúc lành cho họ, tuyển chọn họ, ban cho họ ân sủng, ơn cứu chuộc, ơn tha thứ, cho họ thừa hưởng gia nghiệp, và được đóng ấn tín Thánh Thần. Tất cả những kiểu nói này chung quy đều diễn tả chủ đề được Thánh Phaolô quan tâm nhiều, đó là Thiên Chúa sinh thành các Kitô hữu bằng cách ban cho họ ơn làm nghĩa tử. Khi viết: "Trong Đức Kitô, nhờ Tin Mừng, chính tôi sinh ra anh em", chắc hẳn Thánh Phaolô muốn hiểu rằng việc ngài sinh ra các tín hữu Côrintô khuôn theo mẫu mực là chính việc Chúa Cha sinh ra Chúa Kitô qua mầu nhiệm Phục Sinh, bởi lẽ Chúa Cha là nguồn gốc và nguyên mẫu của mọi tình phụ tử trên trời, dưới đất (x. Ep 3,14), và Đức Kitô là người Con mẫu mực được Chúa Cha sinh ra qua mầu nhiệm Phục Sinh nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần. Thánh Phaolô "bắt chước" Chúa Cha trong việc sinh thành các Kitô hữu. Còn các Kitô hữu "bắt chước" Chúa Kitô trong việc được Chuùa Cha sinh ra nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần.

2.2.3. Nghĩa tổng hợp: cụm từ "trong Đức Kitô" tại nhiều đọan thư của Thánh Phaolô tổng hợp cả hai nghĩa vừa nêu trên đây. Tiêu biểu nhất là Gl 3,26: "nhờ đức tin, tất cả anh em đều là con cái Thiên Chúa trong Đức Kitô Giêsu": nghĩa là con cái Thiên Chúa, do Thiên Chúa sinh thành, nhờ công trạng của Đức Kitô và theo khuôn mẫu Đức Kitô.

2.2.4. Thánh Phaolô lý luận tiếp:"Quả thế, tất cả anh em đã chịu phép rửa để được kết hợp với Đức Kitô, thì đều mặc lấy Đức Kitô" (Gl 3,27), mặc lấy con người mới trong Đức Kitô, "con người đó hằng được đổi mới - từ chiều sâu nội tâm - hầu đạt được sự hiểu biết tường tận, theo hình ảnh Đấng đã tạo thành nó" (Cl 3,10). "Mặc lấy Đức Kitô" có nghĩa là trở nên đồng dạng với hình ảnh Con Thiên Chúa (x. Rm 8,29), Đấng là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo (x. Cl 1,15: chủ đề tạo thành các thụ tạo, trong đó có các Kitô hữu), để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đảo" (chủ đề sinh thành các Kitô hữu là những người em của Đức Kitô: x. Rm 8, 29). Trong tư duy của Thánh Phaolô, hai hành động Thiên Chúa tạo thành và sinh thành các Kitô hữu quyện chặt vào nhau. Hai hành động đó của Thiên Chúa làm cho các Kitô hữu "tồn tại trong Đức Kitô", hay đúng hơn "đứng vững trong Đức Kitô" (x. Cl 1,17). Ở đây cụm từ "trong Đức Kitô" biểu thị một chỗ dựa vững chắc, một môi trường an tòan cho cuộc hiện hữu và ñôøi soáng của người Kitô hữu; đồng thời biểu thị tình trạng người tín hữu thuộc về Đức Kitô (x. Pl 1,1: kính gửi các thánh trong Đức Kitô Giêsu - nghĩa là thuộc về Đức Kitô Giêsu - ở Phi-líp-phê; xem thêm 1Tx 1,1; 2Tx 1,1; các thánh trong Đức Giêsu Kitô ở Thê-xa-lô-ni-ca).

2.2.5. Ứng dụng trực tiếp hơn cho việc Thánh Phaolô sinh thành các Kitô hữu Côrintô, cụm từ "trong Đức Kitô" nói lên rằng chính Thánh Phaolô phải "thuộc về Đức Kitô, nên một với Đức Kitô, mặc lấy Đức Kitô, tồn tại và đứng vững trong Đức Kitô", để có thể sinh ra họ. Đặc biệt cụm từ "mặc lấy Đức Kitô" biểu thị tình trạng "tôi ở trong và sống trong Đức Kitô". Thánh Phaolô tập trung suy gẫm về tình trạng này và nhìn theo hai chiều: "Tôi sống trong Đức Kitô""Đức Kitô sống trong tôi" (x. Gl 2,20), bởi vì "đối với tôi, sống là Đức Kitô" (Pl 1,21), và "Đức Kitô là sự sống của anh em" (Cl 3,4) - và của tôi, đúng như chính Người đã tuyên bố: "...Tôi là sự sống" (Ga 14,6), sự sống của trần gian, tương tự như "Tôi là ánh sáng, ánh sáng của trần gian " (Ga 9,5). Thánh Phaolô đặc biệt chú ý tới chiều kích "Đức Kitô sống trong tôi" (Gl 2,20), mà ngài cũng diễn tả cách khác bằng cụm từ: "Nhờ đức tin, Chúa Kitô cư ngụ (katoikèsai = habitare) trong tâm hồn anh em" (Ep 3,17), và trong tâm hồn tôi. Để hiểu đúng tư tưởng của Thánh nhân về đề tài này, chúng ta không được tách câu 20 khỏi câu 19 liền trước đó tại Gl 2,19-20: " (c.19) Cùng với Đức Kitô, tôi bị đóng đinh vào thập giá; (c. 20) tôi sống, nhưng không còn phải là tôi mà là Đức Kitô sống trong tôi. Đời sống của tôi hiện nay trong xác phàm, tôi sống đời sống ấy trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương tôi và hiến mình vì tôi". Thật vậy, "tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngòai thập giá của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô! Nhờ thập giá thế gian đã bị đóng đinh (tức bị giết chết) đối với tôi, và tôi bị đóng đinh (tức bị giết chết) đối với thế gian" (Gl 6, 14-15). Giữa thế gian và tôi, không còn thông thương sự sống, không còn hiệp thông với nhau nữa. "Tôi mang trong thân thể tôi cuộc khổ nạn của Đức Kitô" (2 Cr 4,10), và "tôi chỉ biết Đức Kitô bị đóng đinh" (1 Cr 2,2). Như thế, thông dự vào mầu nhiệm thập giá là điều kiện để được Đức Kitô sống trong tôi, và để toâi coù được khả năng sinh thành những Kitô hữu khác "trong Đức Kitô". Điều này hòan tòan ăn khớp với giáo huấn của Đức Giêsu: Ai muốn làm môn đệ tôi, "hãy vác thập giá của mình từng ngày mà đi theo tôi" (Lc 9, 23; 14,27). Vậy, để sống trong Đức Kitô và để được Đức Kitô sống trong tôi, tôi phải chấp nhận bị đóng đinh vào thập giá cùng với Người; và việc sinh thành các Kitô hữu "trong Đức Kitô" chỉ có thể xảy ra dưới bóng thập giá mà thôi. Thần học thập gía là một trong những đề tài nổi bật và đậm nét nhất của các thư Thánh Phaolô.

2.2.6. Thánh Phaolô không chỉ tự coi mình là người cha của mỗi giáo đòan (1 Cr 4,15; 1 Tx 2,11), mà còn tự ví mình với người mẹ: "Hỡi những người con bé nhỏ của tôi, mà tôi quặn đau sinh ra một lần nữa cho đến khi Đức Kitô hình thành nơi anh em" (Gl 4,19). Chính Đức Giêsu đã dùng hình ảnh người phụ nữ, khi sinh con thì ưu phiền ..., nhưng sinh con rồi, không còn nhớ đến cơn gian nan nữa, bởi được vui mừng vì một con người đã sinh ra trong thế gian (Ga 16, 21), để diễn tả tâm trạng của các môn đệ trước viễn ảnh về cuộc Thương Khó (tâm trạng ưu phiền) và sự Phục sinh của Người (tâm trạng mừng vui). Như Đức Giêsu đã từng sánh ví mình với gà mẹ muốn ấp ủ đàn gà con là dân thành Giêrusalem (x. Mt 23,37 // Lc 13,34), Thánh Phaolô cũng cư xử với giáo đòan Tê-xa-lô-ni-ca thật dịu dàng, chẳng khác nào mẹ hiền ấp ủ con thơ (x. 1 Tx 2, 7). Một nhà trí thức như Phaolô, với lối suy tư cao siêu, mà chính Thánh Phêrô cũng thấy khó hiểu (x. 2 Pr 3,16), lại là một mục tử mang trái tim người cha, người mẹ. Đây là một đề tài cho các linh mục suy ngẫm. Điều quan trọng thu hút sự chú ý của chúng ta trong bài suy niệm này là: Thánh Phaolô giống như một người mẹ quặn đau sinh đẻ những ngöôøi con "trong Đức Kitô".

2.2.7. Quặn đau sinh đẻ các tín hữu "trong Đức Kitô",

- Trước tiên là quặn đau trong khi thông dự vào cuộc Thương Khó của Đức Kitô và hiệp thông với mầu nhiệm Thập giá của Người. Phaolô bị đóng đinh vào thập giá cùng với Đức Kitô (x. Gl 2,19) khi cam chịu muôn vàn đau khổ và gian truân của kiếp tông đồ truyền giáo, như ngài kể lại phần nào trong thư thứ 2 gửi giáo đòan Côrintô: năm lần bị người Do Thái đánh 39 roi, ba lần bị đánh đòn, một lần bị ném đá, ba lần bị đắm tàu, một ngày một đêm trôi dạt giữa biển khơi;...nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngọai, nguy hiểm ở thành phố, nguy hiểm trong sa mạc, nguy hiểm ngòai biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh anh em...; rồi còn có nỗi ray rứt hằng ngày của tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh...(x. 2 Cr 11, 23-29):

- Chính Chúa Kitô cũng đã quặn đau trên Thập giá để sinh ra Giáo Hội qua lời tuyên bố với Đức Maria và môn đệ được Người yêu thương: "Này là con của Bà; này là Mẹ của con" (x. Ga 19, 25-27). Giáo Hội được sinh ra dưới bóng Thánh giá gồm đầy đủ mọi thành phần: Tông đồ, do Gioan đại diện cho cơ cấu phẩm trật; Maria trinh mẫu, biểu tượng nữ tính và mẫu tính của Giáo Hội, được tăng cường bởi sự hiện diện của nhiều nữ môn đệ ñi theo Đức Giêsu; và có thêm tên gian phi cùng chịu đóng đinh một trật với Đức Giêsu mà nay sám hối, đại diện cho mọi tội nhân được ơn tha thứ; và cả viên sĩ quan La mã đã tin vào Đức Giêsu, đại diện cho dân ngọai được kêu mời hoán cải (x. Ga 19, 25-27; Lc 23,42-43; Mt 27,54-56 // Mc 15,39-41). Theo tầm nhìn của Gioan, cuộc sinh thành Giáo Hội dưới bóng Thập giá được đóng ấn bởi hành động Chúa Giêsu "trao phó Thần Khí" (x. Ga 19, 30) khi trút hơi thở cuối cùng. Chính Thần Khí bảo đảm sự hợp nhất và tính duy nhất của Giáo Hội mà biểu tượng là "chiếc áo dài không có đường khâu, dệt liền từ trên xuống dưới" (x Ga 19, 23-24). Công đồng Vatican II đã ám chỉ việc Giáo Hội được sinh thành dưới bóng Thập giá khi viết: "Sự khai nguyên (exordium, nhìn trong văn cảnh của Phúc Âm theo thánh Gioan, thì nên hiểu là "sự sinh ra", xem cước chú 5 dưới đây) và phát triển (incrementum) Giáo Hội được biểu thị bởi máu và nước trào vọt từ cạnh sườn bị (lưỡi đòng) mở ra của Chúa Giêsu chịu đóng đinh (x. Ga 19,34) và được tiên báo qua lời Chúa nói về cái chết của Người trên Thập giá: "Và Ta, khi được dương cao lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta" (Ga 12,34 bản Hy lạp) (x. GH số 3).[2]

- Người mẹ quặn đau sinh đẻ các tín hữu "trong Đức Kitô"  cũng mang gương mặt người mục tử tốt sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì chiên (Ga 10,11.14-15). Đức Giêsu chính là vị mục tử đó và là khuôn mẫu tuyệt đối của các linh mục. Suốt thời gian thi hành sứ vụ mục tử là suốt thời gian hy sinh mạng sống vì chiên. Đối với linh mục, noi gương Thánh Phaolô, hy sinh mạng sống vì chiên là quặn đau sinh đẻ đòan chiên "trong Đức Kitô", nghĩa là "cho đến khi Đức Kitô hình thành nơi mỗi tín hữu" (x. Gl 4,19).

- Sự quặn đau sinh đẻ đòan chiên "trong Đức Kitô", hiểu một cách cụ thể đối với đời sống linh mục, tất nhiên bao hàm sự chọn lựa sống độc thân vì Nước trời (x. Mt 19,12c), mà nhà thần học Karl RAHNER, S.J. gọi là "một vết thương không bao giờ lành" [3]. Vì không bao giờ lành, vết thương đó luôn tạo ra sự đau đớn, nhức nhối cho người linh mục, nhưng chính vì không bao giờ lành, nên vết thương đó không ngừng nhắc nhở người linh mục ý thức thật rõ ràng và thật sâu sắc như Thánh Tông đồ Phaolô rằng: mình "đã chịu đóng đinh vào thập giá cùng với Đức Kitô" (x. Gl 2,19), và qua đó mình được kêu gọi làm cha tinh thần và làm mẹ thiêng liêng của Dân Chúa, để nhờ Tin Mừng, sinh ra các tín hữu "trong Đức Kitô", họa lại tình phụ tử của Chúa Cha (x. Ep 3,14).

Kết luận

Khi quyết định thiết lập Năm Linh Mục (19/6/2009-19/6/2010) Đức Bênêđictô muốn đặt Cha Sở thánh thiện họ Ars, Gioan-Maria VIANNEY làm Quan Thầy và mẫu mực cho mọi linh mục trên thế giới, chứ không riêng gì cho các cha sở mà thôi. Để liên kết ý nghĩa của Năm Thánh Phaolô (29/6/2008-29/6/2009) với ý nghĩa của Năm Linh Mục, chúng ta đã tập trung suy niệm về lời khẳng định của Thánh Tông đồ: "Trong Đức Kitô, nhờ Tin Mừng, chính tôi đã sinh ra anh em" (1 Cr 4,15). Xuất phát từ kinh nghịêm của Thánh Phaolô và Cha sở họ Ars, chúng ta có thể rút ra kết luận thực tiễn sau đây: Là Cha tinh thần của Dân Chúa, mỗi linh mục được mời gọi thực hành mục vụ của mầu nhiệm sinh thành, kết hợp với mục vụ của những công trình tạo thành.

- Sinh thành từng tín hữu và cả cộng đồng Dân Chúa là sinh họat dẫn đưa linh mục vào chiều sâu của mầu nhiệm: mầu nhiệm đời sống "trong Đức Kitô", cũng đồng nghĩa với "sống bởi Thần Khí (của Đức Kitô) vaø nhờ Thần Khí mà tiến bước" trong hành trình đi theo Chúa (x. Gl 5,25). Sự sinh thành, tái sinh, và nuôi dưỡng các tín hữu "trong Đức Kitô" bằng các Bí tích, nhất là bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh Thể, biến linh mục thành con người của mầu nhiệm, mà ngôn ngữ truyền thống của Giáo Hội gọi là "con người thần bí hoặc thần hiệp (homo mysticus)". Thánh Phaolô đã chẳng gọi tông đồ là "người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa" đó sao (x. 1 Cr 4,1)? Chính ý thức về mầu nhiệm sinh thành đó thúc đẩy Cha Sở họ Ars cầu nguyện liên lỉ và trở thành chứng nhân và thầy dạy cho Dân Chúa về đời sống cầu nguyện; và cũng thúc đẩy ngài ngồi trong toà giải tội hàng chục giờ mỗi ngày để tái sinh các hối nhân vào đời sống ân sủng, mà vẫn không sao nhãng việc dạy giáo lý cho mọi thành phần Dân Chúa viếng thăm mục vụ. Chính mục vụ của lòng thương xót và tình yêu cứu độ đã thánh hoá ngài và thánh hóa Dân được giao phó cho ngài. Diễn tả theo ngôn ngữ của Thánh Phaolô, sinh thành các tín hữu là họa lại hành động của Chúa Cha, nguồn gốc và nguyên mẫu của mọi tình phụ tử trên trời dưới đất (Ep 3,14). Chính Chúa Cha dùng quyền năng của Thánh Thần hoạt động qua việc người tông đồ loan báo Tin Mừng và cử hành các bí tích đức tin, để sinh thành những Kitô hữu "trong Đức Kitô", cho đến khi Đức Kitô hình thành trong họ (x. Gl 4,19), khiến họ "đạt tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc xứng với sự viên mãn của Đức Kitô" (x. Ep 4,13), nghĩa là thông truyền cho họ hình ảnh của Thiên Chúa được hiện thân cụ thể trong Đức Kitô, là "hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình và trưởng tử sinh ra trước mọi lòai thụ tạo" (Cl 1,15), và là "dấu ấn của bản thể Thiên Chúa" (Dt 1,3). Hành động người Tông đồ sinh thành các tín hữu là kết quả của sự hiệp thông sâu sắc giữa người Tông đồ với mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi.

Điều gây ngỡ ngàng, là tại một giáo xứ miền quê nghèo nàn, đang gánh chịu hậu quả muôn mặt của cuộc Cách Mạng 1789, cha Gioan-Maria Vianney, một linh mục ít học hành, lại có sáng kiến tạo lập được cô nhi viện "Quan Phòng" để đón tiếp và giáo dục những cô gái bị bỏ rơi, và hai ngôi trường dành cho học sinh nghèo: một cho con trai, một cho con gái[4]. Những công trình xã hội ấy, có thể được xem như nội dung của mục vụ tạo thành, mục vụ của óc sáng tạo. Chắc chắn chúng xuất phát từ lòng bác ái mục vụ, và như sự nối dài mục vụ của mầu nhiệm sinh thành, yếu tố cơ bản của sứ vụ linh mục nơi Cha Sở họ Ars. Một trong những thách đố lớn nhất được đặt ra cho tất cả các linh mục thời hiện đại là làm thế nào để mục vụ của các công trình tạo thành (như xây nhà thờ, nhà xứ, nhà giáo lý, tổ chức các hội đoàn, viết sách bo, v.v...) không lấn thời giờ hoặc làm suy suyển mục vụ của mầu nhiệm sinh thành, một yếu tố đích thực biến linh mục thành người cha tinh thần của Dân Chúa, theo gương Thánh Tông đồ Phaolô và Cha Sở họ Ars?

 


[1] Xem Albrecht OEPKE, 'En, trong KITTEL, Theologisches Woerterbuch zum Neuen Testament (Từ điển thần học về Tân Ước). Stuttgart 1935. Zweiter Band: D-E, trang 534-539, đăc biệt mục số 3: 'En Christô 'Iesou, 'En Kyriô, tr. 537-539.

[2] Khi triển khai đề tài "Nước Thiên Chúa" trong GH số 5, Công đồng viết: "...Dominus (enim) Iesus Ecclesiae suae initium fecit praedicando faustum nuntium, adventum scilicet Regni Dei...", mà Phân Khoa Thần Học Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X, vào năm 1972, đã dịch như sau: "...(Thực thế) Chúa Giêsu đã khai sinh (đúng hơn, nên nói là "khai mào") Giáo Hội bằng việc rao giảng Tin Mừng, loan báo Nước Thiên Chúa đến..." (tương tự như bản dịch bằng tiếng Pháp trong ấn bản Centurion 1967: "...le Seigneur Jésus donna naissance à son Église en prêchant l'heureuse nouvelle, l'avènement du règne de Dieu..."). Thực ra Công đồng phân  biệt rõ ràng ít nhất ba "thì" của việc thành lập Giáo Hội (fundatio Ecclesiae): thì thứ nhất là việc Chúa Giêsu rao giảng Nước Thiên Chúa, kèm theo những phép lạ... (x. GH số 5). Để diễn tả thì thứ nhất này, Công đồng dùng cụm từ "Dominus ecclesiae suae initium fecit" = "Chúa khai mào Giáo Hội của Người" = "làm cho Giáo Hội  của Người bắt đầu hiện hữu" ( người ta có thể sánh ví với gian đoạn đứa con bắt đầu thành thai trong lòng mẹ). Thì thứ hai là cuộc sinh ra Giáo Hội, được diễn tả bằng từ ngữ "exordium", và Công đồng gắn thời điểm sinh ra Giáo Hội với hy tế Thập giá của Chúa Giêsu, đặc biệt với sự kiện máu cùng nước chảy ra từ cạnh sườn bị đâm thâu (x. GH 3). Thì thứ hai này tương đương với sự kiện đứa con sinh ra từ lòng mẹ. Thì thứ ba là Giáo Hội được biểu hiện hoặc bày tỏ hoặc giới thiệu công khai (manifestata) với thế giới trong ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống (x. GH số 2; TG số 4...). Dưới góc độ ngữ học, hai từ "initium" và "exordium" đều có nghĩa là "khởi đầu", "bắt đầu", "khởi nguyên", "khai nguyên"..., nhưng chính văn cảnh giúp chúng ta phân biệt "thì khai mào" với "thì khai sinh hoặc sinh ra Giáo Hội". Tóm lại: Giáo Hội được khai mào bằng việc Chúa Giêsu rao giảng Nước Thiên Chúa (x. GH số 5); được sinh ra (hoặc được khai sinh) nơi Thập Giá (x. GH số 3); và được bày tỏ công khai trong ngày lễ Ngũ Tuần (x. GH số 2; TG số 4...).

[3] Đáng lý phải giữ đúng nguyên tắc "Nói có sách, mách có chứng", nhưng do bất cẩn, tôi đã để lạc mất ghi chú về xuất xứ chính xác của câu nói nầy. Nhưng tôi nhớ chắc chắn đã đọc câu này của cha Rahner cách đây hơn 20 năm rồi.

[4] Xem:1) Thư của ĐTC Benêđictô XVI đề ngày 16-06-2009 gửi các Linh mục nhằm thiết lập Năm Linh Mục; 2) bài viết của Dức Cha Guy BAGNARD, GM Giao phận Belley-Ars: Làm sao một Linh mục đồng quê đã phúc âm hóa trần gian? Trong L'Osservatore Romano ngày 05-05-2009, do Cha Đamianô Đòan Văn Lữ, ofm chuyển ngữ.