Nói đến thánh Phaolô, chúng ta không thể không nghĩ đến biến cố đã làm cho thánh nhân trở thành vị Tông đồ Dân Ngoại (Rm 11,13), "biến cố Đamát". Đamát lúc đó là một ốc đảo rộng lớn nằm tại bờ biên của sa mạc Siri, được che chở bởi dãy núi Antilabanô, được tưới đẫm bởi những dòng suối mát như Barađa và Abana, nên đã là một vùng rất phì nhiêu mầu mỡ. Thành phố là một nơi dừng chân nghỉ ngơi thoải mái và một trung tâm giao dịch quan trọng giữa các đoàn thương gia thuộc các sắc dân Địa Trung hải và Mêsôpôtamia.
Tuy nhiên, biến cố này thực sự đã tạo ảnh hưởng nào trên cuộc đời thánh nhân?
1. Đamát và ơn gọi của Phaolô
Thánh Phaolô đã viết về cuộc quay ngược lại quyết liệt đối với đời sống của ngài trong Gl 1,6: "Người (Thiên Chúa) đã đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại". Mạc khải này đã đến sau một cuộc sống trong Do-thái giáo và một thời gian bách hại "Hội Thánh của Thiên Chúa" (Gl 1,13; x. Pl 3,6). Còn thánh Luca đã kể lại kinh nghiệm Đamát ba lần trong sách Cv: một lần trong bài tường thuật mô tả Phaolô hầu chắc đã dừng lại Đamát vài ngày (Cv 9,3-19); hai lần trong các diễn từ, trước đám đông tại Giêrusalem (22,6-16) và trước tổng trấn Phéttô và vua Ácríppa (26,12-18). Mỗi lần kể, thánh Luca đều nêu bật tính cách vô phương cưỡng lại và bất ngờ của kinh nghiệm đã xảy ra trong khi Saolô/Phaolô đi bắt bớ các Kitô hữu. Tuy nhiên, cả ở hai câu gợi ý vắn tắt Gl 1,15-16, lẫn trong ba trình thuật (theo hoàn cảnh) đã được sách Cv ghi lại (9,3tt; 22,6tt; 26,12tt), cuộc hoán cải của Phaolô trong "biến cố Đamát" luôn được đặt liên hệ với nhiều bản văn tường thuật về ơn gọi ngôn sứ trong Cựu Ước. Đấy không phải là chuyện ngẫu nhiên: Biến cố Đamát đã bao trùm lên sự nghiệp tông đồ của Phaolô, cũng y như ơn gọi khởi đầu của các vị đại ngôn sứ đã chi phối tất cả tiến trình thi hành sứ vụ của các ngài.
Theo một số tác giả, cuộc hoán cải của Phaolô và ơn gọi làm tông đồ là hai hành vi hoàn toàn tách biệt về thời gian (chẳng hạn E. Benz, P. Gaechter, ...). Nhưng theo đa số các nhà chú giải (chẳng hạn M.J. Lagrange, E. Pfaff, J. Munck, ...), ta phải nghĩ ngược lại, như Đức Cha Cerfaux khẳng định: "Điều chúng ta gọi là cuộc hoán cải của ngài, trong thực tế chỉ là ơn Thiên Chúa gọi ngài làm tông đồ Dân Ngoại".
Điều này được củng cố bằng mấy sự kiện:
- Trong các thư, thánh Tông đồ nói tới ơn gọi hơn là nói tới "hoán cải", ngoại trừ một trường hợp là Pl 3,12 ("tôi đã được Đức Kitô Giêsu chiếm đoạt"); trong thực tế, câu Pl 3,12 này vẫn có tương quan với kinh nghiệm ngôn sứ ("Thật vậy Đức Chúa đã phán với tôi thế này, khi tay Người nắm lấy tôi", Is 8,11). Còn nếu chúng ta có gọi là "cuộc hoán cải của thánh Phaolô" là vì chúng ta dựa vào chỗ thánh nhân rõ ràng đã coi kinh nghiệm trên đường Đamát như là một cuộc quay lại trong đời ngài. Vì thế J.G. Gager đã có lý khi nói đến một "cuộc lật đổ hoặc một cuộc chuyển dịch các giá trị". Chính biến cố này đã đưa ngài đến chỗ hiểu mình một cách mới mẻ: ngài được gọi làm tông đồ đi rao giảng Tin Mừng giữa Dân Ngoại và giải thích biến cố-Kitô dưới những ánh sáng mới.
- Không bao giờ thánh Tông đồ coi sứ mạng của ngài chỉ là kết quả của một sự ủy nhiệm từ Hội Thánh. Trái lại, ngài cứ thiết tha công bố rằng sứ mạng này trực tiếp từ Chúa Kitô đến với ngài. Vậy ít ra là phải theo cha Béda Rigaux mà công nhận một phần tối thiểu rằng: Biến cố Đamát hàm chứa ơn gọi tông đồ của Phaolô trong mầm mống. Đối với ngài, chính một cuộc gặp gỡ với Đức Chúa phục sinh (Kyrios) đã là một biến cố quyết liệt trong đời ngài. Khi tư cách tông đồ của ngài bị đặt thành vấn đề, ngài đã tự hỏi: "Tôi không phải là tông đồ ư? Tôi đã không thấy Đức Giêsu, Chúa chúng ta sao?" (1 Cr 9,1; x. 15,8). Hậu quả của "mạc khải của Đức Giêsu Kitô" (Gl 1,12) là ngài đã trở thành "tôi tớ của Đức Kitô" (Gl 1,10), với bổn phận ("sự cần thiết bắt buộc", anankê, 1 Cr 9,16) là rao giảng Tin Mừng của Đức Kitô và vì thế ngài đã trở nên "tất cả cho mọi người" (1 Cr 9,22).
2. Đamát và "Tin Mừng" của thánh Phaolô
Trong các thư, có khi thánh Phaolô gọi tắt là "Tin Mừng", khi thì gọi là "Tin Mừng của Thiên Chúa", "Tin Mừng của/về Con của Người ... Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta" (Rm 1,3tt.9), "Tin Mừng của/về Đức Kitô" (Rm 15,19t; 2 Cr 2,12...), "Tin Mừng về vinh quang Đức Kitô" (2 Cr 4,4; x. Ep 3,8).
"Tin Mừng" đây chính là sức mạnh cứu độ của Thiên Chúa, với cốt lõi là cái chết và sự sống lại của Đức Kitô (1 Cr 15,1-5) và hướng về cuộc quang lâm vinh hiển của Người (1 Cr 15,22-28). Tin Mừng này "là một sức mạnh của Thiên Chúa nhằm cứu độ" (Rm 1,16).
Nhờ đâu thánh Tông đồ nhận được sứ điệp cứu độ ấy?
Phải nói rằng, tại khởi điểm của sứ điệp ấy, có cuộc thần hiển của Đức Kitô tại Đamát. Cuộc hiện ra của Đức Kitô chính là một cuộc "mạc khải" theo nghĩa mạnh nhất: vừa mạc khải chính con người của Đức Giêsu vừa mạc khải liên hệ mầu nhiệm giữa Người với cộng đoàn mà Người sáng lập:
- Trên đường đi Đamát, bất chợt Phaolô được biết rằng Đức Giêsu Nadarét mà ngài đã nghe biết rằng Người đã rao giảng tại Galilê và Giuđê, đã bị xử tử dưới thời quan tổng trấn Philatô, nay đã sống lại và đang sống vinh quang trên trời.
- Ngài cũng được biết rằng các môn đệ của Đức Giêsu được đồng hóa cách mầu nhiệm với Người, đến nỗi tất cả những gì người ta làm cho họ nhân danh Đức Giêsu, là làm cho chính Đức Giêsu: bách hại các môn đệ của Chúa Kitô là bách hại chính Người. Rõ ràng những lời "Ta là Giêsu mà ngươ i đang bắt bớ" được lập lại trong cả ba bài tường thuật trong sách Cv (9,5; 22,8; 26,15) đã là một nguồn cơ bản cho giáo lý của Phaolô, cho nền Kitô học cũng như cho Giáo Hội học của ngài. Điều tối quan trọng là phải nhận thấy rằng: Chính Đức Giêsu Kitô đã cung cấp cho thánh tông đồ những nguyên tắc để xây dựng nền giáo lý của ngài.
Không thể cho rằng trong câu chuyện ấy, tác giả Luca đã giả tạo đặt vào miệng Chúa Kitô những lời phù hợp với thần học Phaolô: trong sách Cv, thánh Luca không hề nói tới các thư của thánh Tông đồ; thế mà chỉ trong các thư, chứ không phải trong các diễn văn của Phaolô đã được sách Cv ghi lại, mới nói rõ sự đồng nhất bí nhiệm giữa Chúa Kitô và những người đã được rửa tội. Vả lại, lời Chúa Kitô vinh hiển nói ở đây nằm trong chiều hướng của những câu logia trong các Tin Mừng. Tuy nhiên, ở đây, nên phân biệt một điểm: Theo nguyên tắc Do-thái, người sứ giả được đối xử cùng một cách như người sai phái; dựa theo nguyên tắc này, ta có thể giải thích nhiều bản văn Tin Mừng liên quan đến các tông đồ, như: Mc 9,41; Mt 10,40-42; Ga 13,20.
3. Đamát và Kitô học của thánh Phaolô
Riêng về Kitô học của thánh Tông đồ, dường như từ con đường Đamát, thánh nhân đã nắm được chân lý cơ bản này: Đức Kitô là Con Thiên Chúa theo nghĩa hẹp. Ngay sách Cv cũng đã hé cho ta đoán rằng Đức Giêsu, Đấng đã tỏ mình ra cho Phaolô, chính là Con Người siêu việt, một nhân vật thuộc thiên giới và vinh hiển, Đấng đã tỏ mình ra cùng một kiểu với thánh Têphanô tử đạo. Nhưng bản văn Gl 1,16 còn nói chính xác hơn: "Người (= Chúa Cha) khứng mạc khải Con của Người cho tôi".
Đức Cha Cerfaux trình bày rất rõ ý kiến của ngài về câu Gl 1,16 này: "Chúng ta phải hết sức lưu ý thuật ngữ Con Thiên Chúa. Một cách đặc biệt, chúng ta cho thuật ngữ này có giá trị như một danh từ riêng vì trong trường hợp này, thuật ngữ ấy xác định và diễn tả bản tính của Chúa Kitô. Liên hệ của Chúa Kitô với Chúa Cha trong tư cách là Con là lý do khiến Thiên Chúa đã mạc khải Người ra. Phải nói rằng Phaolô bị bó buộc phải diễn tả trực giác của ngài ra bằng công thức này, hoặc có thể nói: công thức này được Thiên Chúa mạc khải trực tiếp cho ngài.... Thiên Chúa đã mạc khải cho ngài rằng Đức Giêsu là Con của Người và Đức Giêsu mang tên ấy. Luca củng cố giả thuyết của chúng tôi. Do chỗ lo lắng giữa cho chính xác, đó là đức tính của ông, trong từ vựng của ông, ông đã đặt vào miệng Phaolô danh hiệu Con Thiên Chúa, và đặt nó quan hệ với cuộc hoán cải của thánh Tông đồ. Ngay sau biến cố này, như Luca kể, tại Đamát, "lập tức, ông (Phaolô) bắt đầu rao giảng trong các hội đường rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa" (Cv 9,20).... Thật sự phải rất liều mới dám nhắc lại công thức mà người Do-thái đã dựa vào để kết án Đức Kitô. Các tông đồ đã tạm gác công thức đó lại: trong các diễn từ, không bao giờ Phêrô nói tới danh hiệu "Con Thiên Chúa", chỉ dùng thuật ngữ pais tou theou (tôi tớ / con cái Thiên Chúa), là một thuật ngữ để giải thích theo chiều hướng mà truyền thống Do-thái giáo chính tông chấp nhận được. Têphanô, trong một thị kiến không thiếu phần tương tự với thị kiến trên đường Đamát, đã dùng danh hiệu "Con Người". Còn trong diễn từ của Phaolô tại Antiôkhia miền Pixiđia, đã vang lên danh hiệu "Con Thiên Chúa" (huios tou theou), cùng với câu trích dẫn Kinh Thánh: "Con là Con của Ta, ngày hôm nay Ta đã sinh ra Con" (Tv 2,7; x. Cv 13,33). Phaolô đã chú giải và áp dụng bản văn này vào cuộc phục sinh của Đức Giêsu, khiến Người được mặc vinh quang riêng của Con Thiên Chúa (Cv 13,33; x. Rm 1,4).
4. Đamát và Cựu Ước
Khi ta đã lưu ý về liên hệ chặt chẽ giữa các thư của Phaolô với Cựu Ước, ta mới hiểu tại sao ngài chú giải biến cố Đamát không bằng những từ ngữ nói về sự "hoán cải", mà bằng những từ ngữ nói về "ơn gọi": Quả thật, nếu ngài đã thay đổi lối sống, và thay đổi tận căn, để sống với các Kitô hữu, thì trong thực tế, ngài không hề thay đổi tôn giáo; theo ngài, Kitô giáo mà ngài đã gắn bó với, chỉ là sự hoàn tất của tôn giáo Israel được giải thích đúng đắn. Đúng là có nhiều lần ngài đã trình bày rất đanh thép sự đối nghịch giữa nhiệm cục cũ và mới, nhưng đó là vì phải tranh cãi, biện bác, và do áp lực từ phía các Kitô hữu gốc Do-thái. Không những vị Thiên Chúa của Cựu Ước, dưới mắt ngài, vẫn là vị Thiên Chúa của các Kitô hữu, mà hơn nữa, Chúa Kitô, Đấng đã thiết lập nhiệm cục mới, cũng chính là sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa, Đấng sau khi đã tham dự vào cuộc tạo dựng thế giới, đã tự thông ban chính mình cách rất đặc biệt cho Israel.
Trong Cựu Ước, công cuộc tạo dựng là mở đầu và nền tảng của lịch sử cứu độ. Trung thành với viễn tượng này, thánh Phaolô luôn luôn coi Thiên Chúa tạo hóa và tác giả đầu tiên của công trình cứu độ: hai chủ trương quy-Kitô và quy-thần được phối hợp rất hài hòa trong tư tưởng Phaolô: ở đây, chính Chúa Cha là nguyên lý và cứu cánh của mọi sự.
5. Đamát và cuộc Tạo dựng mới
Đọc 2 Cr 4,6, ta thấy Phaolô nói đến ánh sáng siêu nhiên đã rạng sáng trong tim các tông đồ và giúp các ông chuyển thông cho những người khác sự hiểu biết về vinh quang Chúa Kitô; rồi ngài đã so sánh ánh sáng ấy với việc tạo dựng ánh sáng vào ngày thứ I của trần gian (x. St 1,3).
Ta tự hỏi: ngài có ý nhắc tới một thị kiến phi thường nào về vinh quang của Chúa Kitô chăng? Có một tác giả nghĩ đến cuộc Hiển Dung, như là phần Tân Ước song đối lại thị kiến trong đó Môsê ở trên núi Sinai được thấy vinh quang của Thiên Chúa: Quả thật, các từ metamorphousthai (biến hình) của 2 Cr 3,18 và 4,6 cũng như elampsen (rạng sáng), phôs (ánh sáng) và prosôpon (gương mặt) ở 2 Cr 4,6 đều có trong Mt 17,2, là truyện Hiển Dung. Vậy, có thể Phaolô đã biết trình thuật Tin Mừng, ít ra là nhờ phương tiện khẩu truyền.
Nhưng nay, người ta thường chấp nhận ý kiến: Phaolô quy chiếu về chính cuộc hoán cải của ngài. Ngài nói tới ánh sáng bất chợt rạng sáng lên trong tim các tông đồ, và ngài so sánh hiện tượng đó với việc tạo dựng ánh sáng. Đấy là biến cố Đamát: Phaolô đã được biến đổi bất chợt và tận căn; điều này khiến từ nay ngài quan niệm việc đi vào đời sống Kitô hữu như một cuộc tạo dựng mới, như cha Benoýt đã nhận xét chí lý: "Trên đường Đamát, ngài (Phaolô) đã thoắt một cái nhảy từ thế giới cũ của Do-thái giáo sang thế giới mới đã được Chúa Kitô khai mào".
Quả thật, cuộc hoán cải của Phaolô đúng là một cuộc tạo dựng mới, một sự biến đổi tận căn khiến ngài có thể chiêm ngưỡng vinh quang của Thiên Chúa trên gương mặt Con người Nadarét, Đấng đã bị Phongxiô Philatô xử tử.
Biến cố Đamát không phải chỉ là một mạc khải hoàn toàn ở bên trong tâm hồn: Ta thấy thánh Tông đồ tách biến cố này khỏi những thị kiến khác của ngài và đặt biến cố này vào trong chuỗi những cuộc thần hiển của Chúa Kitô phục sinh.
Tuy nhiên, ngay trên bình diện Kitô học, không nên phóng đại ánh sáng Phaolô đã nhận được tại Đamát. Một trực giác mau lẹ, dù thuộc lãnh vực thần bí, vẫn chưa phải là một nền giáo lý đã được xây dựng mạch lạc, phong phú. Như P. Gaechter nói cách dí dỏm: Không có gì cho phép chúng ta được hình dung Phaolô đã hoán cải dưới hình ảnh một người nhảy dù đã được trang bị đầy đủ. Nói cách khác, cuộc gặp gỡ Đamát chưa mang lại cho ngài ánh sáng đầy đủ. Sau đó, ngài đã đi vào một nỗ lực triển khai dần dần, cho thêm sáng tỏ và đầy đủ. Được thúc đẩy bởi những nhu cầu của đời tông đồ mà ngài phải đáp ứng, tư tưởng của Phaolô không ngừng phát triển và phong phú thêm; ngoài ra, ngài còn được hỗ trợ bởi nhiều nguồn khác nữa, chẳng hạn:
- Truyền thống Kitô giáo sơ khai (có những bài thánh ca, những công thức có trước ngài; cách khai thác những lời Chúa nói....),
- Cựu Ước và truyền thống Do-thái giáo: Do-thái giáo do các kinh sư với những phương pháp chú giải riêng; Do-thái giáo tại Alexandria với những suy nghĩ về sự Khôn Ngoan; Do-thái giáo khải huyền,
- Nền văn hóa và văn minh Hy-lạp: triết học dân gian, và những tôn giáo thần bí.
***
Trong Thư 1 Cr, thánh Phaolô đã viết: "Tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu" (1 Cr 15,10). Hiệp thông vào tâm tình biết ơn của thánh Tông đồ, ý thức rằng ân sủng của Thiên Chúa đã và vẫn hoạt động trong chúng ta trong mọi biến cố lớn nhỏ của cuộc đời, chúng ta cầu mong cho nhau luôn sống trong niềm vui đã và vẫn đang được gặp Chúa Kitô Phục sinh mỗi ngày, được soi sáng và biến đổi bởi ánh sáng của Người, để những chọn lựa hằng ngày của chúng ta luôn làm tăng trưởng và kiến tạo sự hợp nhất của toàn thể Hội Thánh.
F.X Vũ Phan Long, OFM
Sách tham khảo
Để tránh rườm rà, người viết bỏ tất cả các cước chú trong bài. Đây là một số sách tham khảo:
BENEDETTO XVI (J. Ratzinger), Paolo, l'Apostolo delle genti, Libreria Editrice Vaticana, Vaticano / Edizioni San Paolo, Milano 2008.
BENOÝT, P., "Paulinisme et Johanisme", trong NTS 9 (1963) 193-207.
CERFAUX, L., Le Christ dans la théologie de Saint Paul, Cerf, Paris 1959.
-, Recueil L. Cerfaux. Études d'Exégèse et d'Histoire Religieuse, t. II, Gembloux, 1962.
FEUILLET, A., Le Christ, Sagesse de Dieu d'après les Épýtres pauliniennes, Études Bibliques, J. Gabalda, Paris 1966.
FITZMYER, J.A., Paolo - Vita, viaggi, teologia, Queriniana, Brescia 2008.
GAECHTER, P., Paulus und seine Zeit, Innsbruck 1958.
GAGER, J.G., "Some notes on Paul's conversion", trong NTS 27 (1980-1981) 697-704.
MANNS, F., Saulo di Tarso. La chiamata all'universalità, Edizioni Terra Santa, Milano 2008.
RIGAUX, B., Saint Paul et ses lettres, État de la question, Paris-Bruges, 1962.
- 22.06.2009 Bài giảng lễ bế mạc Tổng Tu Nghị OFM 2009
- 04.06.2009 Bài giảng lễ của Đức Hồng Y José Saraiva Martins 04.06.2009
- 16.04.2009 Gioan 20,22-23 dưới ánh sáng của Bản LXX
- 15.04.2009 Tin mừng Phục Sinh
- 09.03.2009 Đức Maria, một người Mẹ ngoại thường
- 15.02.2009 Nếu muốn, hãy đến theo tôi
- 08.02.2009 Suy niệm theo ý Tổng Tu Nghị Dòng 2009
- 14.01.2009 Nước, sự sống ...
- 04.01.2009 Ngôi sao dẫn đường
- 15.12.2008 Bài ca của ông Môsê và của Con Chiên (Kh 15,2-4)

