Tỉnh dòng Phanxicô Việt Nam

Những người mang quà tặng Phúc Âm

Saturday, May 19th

Last update06:51:19 AM GMT

Suy niệm theo ý Tổng Tu Nghị Dòng 2009

Mẫu thức thứ nhất:

Tâm trí hướng về Chúa để sống phù hợp với khuôn mẫu thánh Phúc Âm

  

 

1. Chuẩn bị

Người anh em hướng dẫn việc ‘lectio’ mời mọi người thinh lặng và hồi tâm. Nên nhắc lại ý nghĩa của khoảnh khắc này. Sau khi làm dấu thánh giá, có thể bắt đầu cầu xin Chúa Thánh Thần.

Chúng ta có thể sử dụng một điệp khúc của cộng đoàn Taizè, chẳng hạn ca khúc được đề nghị trong bản đề cương hoặc ca khúc được nhiều người hiện diện biết. Nên hát kéo dài điệp khúc này trong một ít phút, sao cho có thể đạt tới một sự hòa hợp thực sự với Thánh Thần.

 

Lạy Chúa Thánh Thần, xin Người ngự đến

Thổi bùng lên ngọn lửa rực yêu thương

Tự nơi  Người, Thánh Thần của lòng mến

Lạy Thánh Thần, xin đến với con luôn.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin Người ngự đến …

 

Cũng nên dành một ít phút để cầu nguyện bột phát với Chúa Thánh Thần, xen kẽ bằng lời hát điệp khúc; dĩ nhiên, những người tham dự có thể diễn tả tâm tình bằng ngôn ngữ quen thuộc nhất.

 

Thí dụ:

Lạy Chúa Thánh Thần, xin Người hãy đến

Mở rộng hồn con đón nhận lời Đức Giê-su

Xin giúp con trong ánh sáng của Ngôn từ

Biết sống và sống trung thành trong ơn gọi …

 

2. Đọc và lắng nghe Lời Thiên Chúa

 

Công bố Tin Mừng

Khi anh hướng dẫn ‘lectio’ cảm thấy đã có một bầu khí sẵn sàng cho việc lắng nghe, anh mời một trong những người tham dự công bố Lời Tin Mừng.

 

Có thể đọc những trích đoạn lấy từ sách Tin Mừng:

 

  • Ngôi nhà được xây trên nền đá: Mt 7,21-27
  • Chàng thanh niên giàu có: Mt 19,16-29
  • Những đòi hỏi đối với người môn đệ: Lc 9,57-62

 

Để hiểu bản văn

 

Ngôi nhà được xây trên nền đá: Mt 7, 21-27

 

21 "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! lạy Chúa! " là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.22 Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: "Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao? "23 Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác! 24 "Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá.25 Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá.26 Còn ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người ngu dại xây nhà trên cát.27 Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành".

 

Lối loại suy này mạnh mẽ lạ lùng. Với một ít nét phác thảo đầy uy lực, Đức Giê-su vẽ ra hai bức tranh: ngôi nhà của một người cẩn thận xây trên đá và ngôi nhà mà một kẻ điên dại xây trên cát. Cần phải mường tượng ra khung cảnh và cách thức người ta xây dựng nhà cửa ở vùng Palestine, những căn nhà được xây dựng tốt nhất là bằng đá, bùn và gỗ. Trời thường mưa bất chợt và rất to, trên mặt đất thì nước mưa không thể thấm vào cây cối và các thảm cỏ, nên tụ lại thành những con suối và những dòng thác mạnh trên bề mặt của nền đá. Ngôi nhà được xây trên đá thì không thể trôi đi được: cơn cuồng nộ của dòng nước sẽ rửa sạch nó, mà không thể xói mòn nền móng. Ngược lại, ngôi nhà kia ngay sẽ tức khắc gặp nguy hiểm, vì nước sẽ dễ dàng rửa trôi sạch nền cát trên đó nó đã được xây dựng, cuốn trôi ngôi nhà đó đi.

Đức Giê-su đã giới thiệu hai người thợ xây như một tấm gương. Anh muốn giống ai khi xây dựng ngôi nhà cuộc đời anh? Theo sự phê phán của người đời, một người thì khôn ngoan và cẩn thận, còn người kia thì ngu dại và thật đáng “chịu thiệt hại và bị xem là điên khùng”. Điều này cũng xảy ra liên hệ tới giáo lý của Đức Giê-su: bất cứ ai nghe và đi theo Người là một người cẩn thận; bất cứ ai chỉ nghe nhưng không đi theo Người là một kẻ điên. Chỉ có hai khả năng đó xảy ra và ở đây cũng chỉ có một điều thực sự đáng kể, đó là “việc làm”. “Anh em hãy đem Lời ấy ra thực hành, chứ đừng nghe suông” (Gc 1,22). Theo câu chuyện, đây không chỉ là một sự cẩn trọng hay ngu dại thuộc con người hoặc trần thế. Ở đây, vấn đề không chỉ là chuyện đang xảy ra trong cuộc sống hiện tại, về ngôi nhà được làm bằng vật chất. Kẻ ngu dại trong bài hẳn đã có thể xây cho mình một ngôi nhà mới và học được sự cẩn thận vì đã bị thiệt hại.

Điều này có thể xảy ra cho các môn đệ của Đức Giê-su không? Đức Giê-su nói: “Bất cứ ai nghe lời tôi và làm theo lời tôi sẽ giống như một người khôn ngoan …”, nghĩa là, vào ngày chung thẩm. Trận giông bão trong câu chuyện được miêu tả với những màu sắc mạnh mẽ đến nỗi làm cho người ta nghĩ tới cái tai họa khủng khiếp sẽ đưa lịch sử đến chỗ kết thúc. Mưa rơi xuống, nước lũ dâng lên, gió thổi mạnh và ùa đập vào ngôi nhà đó. Hình ảnh này gợi lên “cơn bão” cánh chung, sẽ quyết định dứt khoát số phận ngôi nhà cuộc đời chúng ta: không một ai có thể bắt đầu xây dựng lại một lần thứ hai nữa. Nếu ngôi nhà sụp đổ, nó sẽ cứ phải ở trong tình trạng hoang phế mãi mãi.

Những lời này đưa lại cho toàn thể Bài giảng Trên Núi một chiều sâu và một công hiệu đặc biệt. Anh chỉ có thể xây dựng bản thân anh theo cách này hoặc cách kia. Những lời Đức Giê-su chỉ cho biết chúng ta phải đặt nền móng ở đâu, hầu kháng cự lại được trận bão của ngày chung thẩm; nhưng lắng nghe và hiểu biết Lời thôi thì không đủ, nếu chúng ta không xây dựng trên đá, nghĩa là, nếu chúng ta không đem Lời của Người ra thực hành. Mọi sự đều khẩn trương; không phải bởi vì Thiên Chúa muốn như thế hoặc bởi vì Đức Giê-su đã mạc khải ra như vậy, nhưng vì thời gian đang thúc bách mỗi người chúng ta. Cuộc sống chỉ là một và không thể tái diễn, và việc chung thẩm là điều không thể tránh khỏi. Chỉ người nào đã xây dựng cuộc sống mình bằng cách có Thiên Chúa, có Nước Chúa và sự công chính của Người như những lý tưởng duy nhất, thì mới có thể sống sót (cf. W. Trilling, Vangelo secondo Matteo, 141-142).

 

Chàng thanh niên giàu có: Mt 19,16-29

 

16 Bấy giờ có một người đến thưa Đức Giê-su rằng: "Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời? "17 Đức Giê-su đáp: "Sao anh hỏi tôi về điều tốt? Chỉ có một Đấng tốt lành mà thôi. Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các điều răn."18 Người ấy hỏi: "Điều răn nào? " Đức Giê-su đáp: "Ngươi không được giết người. Ngươi không được ngoại tình. Ngươi không được trộm cắp. Ngươi không được làm chứng gian.19 Ngươi phải thờ cha kính mẹ", và "Ngươi phải yêu đồng loại như yêu chính mình."20 Người thanh niên ấy nói: "Tất cả những điều đó, tôi đã tuân giữ, tôi còn thiếu điều gì nữa không? "21 Đức Giê-su đáp: "Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi."22 Nghe lời đó, người thanh niên buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải.

 23 Bấy giờ Đức Giê-su nói với các môn đệ của Người: "Thầy bảo thật anh em, người giàu có khó vào Nước Trời. 24 Thầy còn nói cho anh em biết: con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa."25 Nghe nói vậy, các môn đệ vô cùng sửng sốt và nói: "Thế thì ai có thể được cứu? "26 Đức Giê-su nhìn thẳng vào các ông và nói: "Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được."

27 Bấy giờ ông Phê-rô lên tiếng thưa Người: "Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì? "28 Đức Giê-su đáp: "Thầy bảo thật anh em: anh em là những người đã theo Thầy, thì đến thời tái sinh, khi Con Người ngự toà vinh hiển, anh em cũng sẽ được ngự trên mười hai toà mà xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en.29 Và phàm ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì danh Thầy, thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp.

 

Trích đoạn “chàng thanh niên giàu có” thấy nằm trong một đoạn dài (các chương 19-25) của sách Tin Mừng, trước bài tường thuật về Cuộc Khổ Nạn. Đặc điểm của đoạn này là Đức Giê-su và các môn đệ Người đang tiến dần tới Giêrusalem. Sự căng thẳng gia tăng giữa Đức Giê-su với các nhà lãnh đạo Do Thái và với chính định chế tôn giáo (Đền thờ) tương ứng với chuyển động về mặt địa lý này. Các chặng đến gần được đánh dấu bằng lời minh nhiên nhắc tới việc rời bỏ Galilê mà sang miền Giuđê, bằng việc đi ngang qua Giêrikhô và bằng việc tổ chức và triển khai chuyến đi của Đức Giêsu vào Giêrusalem, qua một cuộc tấn phong Mê-si-a. Trên bình diện văn chương, đoạn này có đặc điểm là sự nổi bật tuyệt đối của các chỉ thị và các cuộc tranh luận, và chỉ có một phép lạ mà thôi. Đức Giê-su di chuyển trong bầu khí này với Nhóm Mười Hai, là những người đã được giáo huấn kỹ càng về những điều kiện để làm môn đệ (ch. 19) và thời cánh chung (các ch. 24 và 25), và họ được kêu gọi chia sẻ số phận của Người như là người tôi trung (20,17-28) và thẩm phán cánh chung của Israel (19,28). Kề bên Đức Giê-su là đám đông dân chúng, họ vẫn còn đứng về phía Người trong những tranh luận với các nhà lãnh đạo, và tuyên bố Người là Đấng Mê-si-a và con cháu vua Đa-vít (21,9-11). Có một chỗ đặc biệt được dành cho những người nhỏ nhất trong đám đông (19,13; 21,15t.), thậm chí Người tự đồng hóa với họ (25,40.45). Phía đối nghịch là những nhà lãnh đạo, các Pharisêu và luật sĩ, các thượng  tế và các kỳ mục, liên tục bị trực tiếp tố giác trong các tranh luận và cả bằng cách ẩn dụ, trong các dụ ngôn (các ch. 21-23).

Trích đoạn chúng ta đang suy ngẫm nằm ở khởi đầu phân đoạn, trước khi đến Giêrusalem, và là một phần trong chuỗi các chỉ thị được ban cho các môn đệ liên hệ tới ly dị, của cải và đời môn đệ.

Được thống nhất bởi chủ đề đời môn đệ và sự giàu có trong tương quan với cuộc sống vĩnh cửu, trích đoạn có thể được chia ra thành hai phần: trò chuyện với người thanh niên (cc. 16-22) và đối thoại với các môn đệ (cc. 23-30). Chàng thanh niên, bất kể tuổi tác hoặc địa vị xã hội, là bất cứ người nào đang hướng về Vị Thầy để được chỉ dẫn về con đường sự sống (Tv 119, 9-10).

Một cuộc đối thoại, gồm ba giai đoạn, giữa Đức Giê-su với chàng thanh niên và sau đó giữa Đức Giê-su với các môn đệ, được lặp lại trong cả hai phần. Hai đoạn văn có đặc điểm là một sự tăng mạnh dần trong lời đề nghị, sự đào sâu về tư tưởng và lời hứa. Ta đạt tới đỉnh cao thứ nhất qua lời kêu gọi và lời hứa ngỏ với người thanh niên,  còn đỉnh cao thứ hai là với lời hứa dành cho các môn đệ, những người đã đi theo Người và bỏ lại mọi sự, người ta đạt tới đỉnh cao thứ hai.

Câu hỏi đầu tiên của chàng thanh niên thuộc dạng tranh luận kiểu trường học các kinh sư: điều gì tốt phải làm. Đó là tìm cách tuân giữ lề luật (Đnl 12,28; Tv 34,15). Đề tài về sự sống đời đời rất thường được đề cập đến trong các cuộc tranh luận của các kinh sư. Đức Giê-su trả lời vấn đề này theo từng bước và thay đổi các hạn từ của các câu hỏi khi đến cuối: “Nếu anh muốn nên hoàn thiện”. Trước hết, Đức Giê-su đã trả lời bằng cách nhắc lại gương mặt của Thiên Chúa, Đấng duy nhất tốt lành. Chính là trong ánh sáng của Đấng tốt lành này, Đấng đã được biểu lộ trong Bài Giảng trên Núi như là đầy lòng thương xót (5,45) và hoàn thiện (5,48), mà những lời của Luật và còn hơn thế nữa, yêu cầu triệt để của Đức Giê-su mới đạt được ý nghĩa. Thoạt tiên, Đức Giê-su đã trả lời đúng theo kiểu cách của các cuộc tranh luận thuộc giới kinh sư: hãy làm việc lành và tuân giữ lề luật. Tuy nhiên, Người chỉ trích ra những điều răn liên quan tới những mối tương quan với người lân cận và kết thúc bằng bản văn của Sách Lê-vi (Lv 19,18) là  bản văn tóm tắt và cho thấy rõ tinh thần: “Hãy yêu thương người lân cận …”. Cùng một câu kết luận này đã được Tác giả Phúc âm thứ nhất đặt trong phân đoạn phản đề của “Bài Giảng trên Núi” (5,43) và sẽ được nêu ra lại trong cuộc tranh luận về giới răn lớn nhất (22,39).

Trong thực tế, câu trả lời này chỉ có một giai đoạn. Người thanh niên đã không nắm được chiều hướng mới mang tính Phúc âm của các điều răn và do đó, đã có thể nói rằng anh luôn luôn tuân giữ Lề Luật. Đức Giê-su đã tiếp tục cuộc đối thoại với một đề nghị rõ ràng và thực thụ bằng cách nhắc tới để tài sống hoàn thiện, đây cũng là điều được đề nghị trong Bài Giảng trên Núi. Sự hoàn thiện thì vượt quá các điều răn, hoặc đúng hơn, nó thực hiện các điều răn theo một cách thức mới phù hợp với cách hiểu mới về Thiên Chúa, Đấng mà Đức Giê-su mạc khải: đây là một vấn đề chia sẻ của cải cho người nghèo và đi theo Đức Giê-su (= chia sẻ nếp sống và thân phận phục vụ của Người bằng cách cho đi chính mình trong một tương quan riêng tư với Người). Sự hoàn thiện không phải là một con đường ưu tiên dành cho một thành phần ưu tuyển nào, nhưng là điều kiện đề ra cho người môn đệ đích thực muốn đi vào trong sự sống, muốn được cứu độ. Tuy nhiên, người thanh niên đã không thấy được việc sở hữu vương quốc trong lời Đức Giê-su hứa (“anh sẽ có một kho tàng trên trời”), thật ra đã được hứa ban cho người nghèo, hoặc thấy được sự sống toàn vẹn cho người biết đặt trái tim nơi Chúa (6,21), điều có thể đạt được nhờ việc loan báo và sự hiệp thông đời sống với Đức Giê-su (đời môn đệ).

Cuộc đối thoại với các môn đệ, được dẫn nhập bằng lời Đức Giêsu bình luận về kết cục đáng buồn cho cuộc trò chuyện của Người với chàng thanh niên, cho thấy rõ lý do khiến anh ta chối bỏ. Mối liên hệ với của cải, đã được loan báo ở câu 6 trong “Bài Giảng trên Núi”, có tính quyết định đối với việc cứu độ, là một dấu chỉ cho thấy có chấp nhận hay không chấp nhận đề nghị của Đức Giê-su: thật vậy, qua cách ứng xử và những thái độ đối với của cải, đây là chuyện biết được ai hoặc điều gì chúng ta đặt làm nền tảng và nguồn trợ lực cho đời sống chúng ta (= Thiên Chúa hoặc tiền bạc, 6,24). Việc người giàu không thể đi vào Nước Trời, được diễn tả qua hình thức nghịch lý là chuyện con lạc đà chui qua lỗ kim, và được xác nhận qua câu nói tiếp theo của Đức Giêsu, sẽ còn tiếp diễn bao lâu người ta vẫn còn giàu có, nghĩa là, bao lâu đời sống còn cậy dựa vào những của cải đang có.

Khi các môn đệ tỏ ra ngỡ ngàng vì bất lực của con người (19,25), thì phần tiếp theo của cuộc đối thoại soi sáng cho thấy rằng sống đời đời và thậm chí từ khước của cải và đi theo Đức Giê-su, đều là một ân ban của Thiên Chúa (19,26).

Thật vậy, cho các môn đệ là những người chọn lựa như thế, Đức Giê-su hứa/ xác nhận họ sẽ được thông dự vào vinh quang cánh chung của Vị thẩm phán. Hơn nữa, sự sống đời đời và chuyện được gấp trăm còn được hứa ban cho tất cả các môn đệ, những kẻ tới sau gia nhập vào Nhóm Mười Hai lịch sử, đã từ bỏ của cải và những ràng buộc gia đình để đi theo Đức Giê-su. Tuy nhiên, đây không phải là vấn đề một phần thưởng cho những gì đã thực hiện được (việc từ chối của cải), nhưng là một ân ban vượt quá mọi tỷ lệ. Đây là chuyện một lời hứa cánh chung, nay cộng đoàn Kitô hữu đã sống trước, và là một dấu chỉ sẽ được hoàn tất khi sống lại.

Ở đây, lô-gích về công trạng bị loại trừ, như lời phán quyết cuối cùng về sự triệt tiêu của trật tự lô-gích kiểu loài người dường như cho thấy. Lời ấy chắc chắn nhắm tới các môn đệ lịch sử, trong tương quan với những kẻ có quyền trên trái đất và những người Pharisêu hoàn thiện, nhưng cũng là một lời cảnh giác gửi đến các nhà lãnh đạo của cộng đoàn, giúp họ sống đúng vai trò của họ theo một cung cách Phúc âm.

 

Từ đoạn văn này và những đoạn song song, Phanxicô rút ra hai trích dẫn mà đặt ở đầu Bản Luật của ngài, như thế ngài thu thập vào những câu Tin Mừng này, ý nghĩa và căn tính cốt yếu của một người Anh Em Hèn Mọn. Đối với ngài, dường như sống đời người Anh Em Hèn Mọn chỉ có nghĩa là làm môn đệ của Đức Giê-su.

Cũng đối với ngài, chắc chắn là tương quan với của cải được đặt, một cách có ý nghĩa, vào trong tương quan với sự trung tín với căn tính người môn đệ (G. Patton, Schede FoPe Matteo/5/ http://www.ofmtn.pcn.net/).

 

Những đòi hỏi đối với người môn đệ: Lc 9,57-62

 

57 Đang khi Thầy trò đi đường thì có kẻ thưa Người rằng: "Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo."58 Người trả lời: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu." 59 Đức Giê-su nói với một người khác: "Anh hãy theo tôi! " Người ấy thưa: "Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã."60 Đức Giê-su bảo: "Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa." 61 Một người khác nữa lại nói: "Thưa Thầy, tôi xin theo Thầy, nhưng xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã."62 Đức Giê-su bảo: "Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa."

 

Trong khi các ngài đi đường… (và chúng ta biết điểm tới), một người kia, có lẽ là một môn đệ (Mt 8,19 bảo là một luật sĩ), đã đang đi theo Người, nói với Người: “Tôi sẽ đi theo Thầy bất cứ nơi đâu”. Đức Giê-su, Đấng đã chỉ cho biết một số điều kiện để trở nên môn đệ, đã làm cho bất cứ ai thực sự muốn đi theo Người, chạm một cách cụ thể vào hoàn cảnh trong đó Người đang sống: “Con chồn có hang và chim có tổ, nhưng Con Người không có chỗ gối đầu”. Thật ra Đức Giê-su không phải là một người huấn luyện các môn đệ bằng cách che giấu sự thật. Người không chỉ nói rằng Giêrusalem là chặng cuối của cuộc hành trình, với tất cả những đau khổ, sự chết và sự sống, mà thậm chí Người còn nói rằng cũng cuộc hành trình này còn đầy dẫy những khó khăn. Sự từ khước vừa chứng kiến cho thấy điều này và Tin Mừng Thánh Luca sẽ tiếp tục giới thiệu Đức Giê-su như một người sống lang thang, không có một nơi ở nhất định. Cuộc đời của Người có một mục tiêu: loan báo tin vui cho các thành khác nữa (4,43), và do đó Người luôn luôn sẵn sàng ra đi đến nơi khác. Nhiệm vụ này làm cho người Tông đồ phải sống trong tình trạng bấp bênh về ngày mai, không cho phép người ấy làm tổ trên trái đất. Người ấy phải lìa bỏ trọn vẹn của cải trần thế này và điều này quan trọng đến độ Người đã nói trước rồi (9,3) và có lẽ sẽ tiếp tục làm như thế, ngay vào giai đoạn khó khăn nhất, như ta thấy vọng lại ở 14,33.

Chúng ta không biết kẻ đã hỏi Đức Giê-su có chấp nhận lời mời gọi và có đi theo Người hoặc tiếp tục đi theo Người không. Thánh Luca để cho mỗi độc giả tự  quyết định lấy cho mình. Trong bản văn của ngài, ngài chỉ nói tới những điều kiện Đức Giê-su đã đặt ra, và chuyện này cũng xảy ra trong trường hợp thứ hai. Ở đây không phải là một chuyện một ai đó hiến mình cho Đức Giê-su (Mt 8,21-22 thì hơi khác một chút), nhưng là chuyện một người nào đó được Đức Giê-su bảo: “Hãy theo tôi!”. Người ấy không từ chối, nhưng đưa ra một điều kiện: “Hãy để tôi về chôn cất cha tôi trước đã”. Điều chắc chắn là vào lúc này ông ấy chưa chết; anh ta xin được hoãn lại quyết định cho tới khi anh ta đã làm xong mọi bổn phận đối với cha mẹ anh, như Luật đòi buộc. Đức Giê-su không phủ nhận tầm quan trọng của bổn phận này, thậm chí Người còn khiển trách những ai không biết hoặc coi thường điều răn của Thiên Chúa: hãy tôn kính cha mẹ ngươi (Mc 7,10-13; Mt 15,3-6). Nhưng ở đây,  Người đang nói về những điều Nước Trời đòi hỏi; những điều này vượt trên mọi bổn phận khác của con người, mà chính họ không được cản trở. Người chỉ giúp hiểu biết rằng việc loan báo Nước Trời là cấp bách; không được hoãn lại; công việc cần tới những người thợ, không phải chỉ  khi cha mẹ đã chết rồi. Vậy, nếu Nước Trời không được đón nhận, nếu chúng ta không hoán cải, vào thời điểm được kêu gọi, hoặc không đi vào đời sống mới của Nước Trời, và nếu chúng ta không chấp nhận mệnh lệnh: “Hãy đi và loan báo Nước Thiên Chúa”, chúng ta sẽ phải tiếp tục thuộc về thế giới này của kẻ chết (= những kẻ đã không chấp nhận đời sống mới), họ tiếp tục chôn cất người chết của họ. Quyết định đi theo Đức Giê-su phải mau lẹ, ngay khi được gọi. Không được để mất thời gian.

Còn có một trường hợp thứ ba. Đó là một người, giống như người thứ nhất, hiến thân cho Đức Giê-su và nói là muốn đi theo Người. Nhưng trước tiên, anh muốn đi chào cha mẹ anh, như Lê-vi đã làm với bạn bè (5,27-32) hoặc như Ê-li-a đã cho phép Ê-li-sa (1 V 19,19-21). Dường như Đức Giê-su không nói ngược lại hoặc phản đối kẻ xin Người. Ở đây, Đức Giê-su đã tự giới hạn vào việc trích một thứ ngạn ngữ: “Một khi đã tra tay cầm cày, kẻ nào còn ngoái lại đàng sau thì không phù hợp với nước Thiên Chúa”. Vậy cứ đi mà chào người thân của anh, nhưng khi anh đã quyết định, hãy nhớ rằng anh không thể quay lui. Người môn đệ là kẻ không bao giờ nhìn lại đàng sau, hoặc là để luyến tiếc nhìn thấy điều đã từ bỏ, hoặc để lấy làm vui thú với điều người ấy đã thực hiện được nhờ đi theo Đức Giê-su. Môn đệ là người không bao giờ nhìn lại đàng sau, nhìn về quá khứ, nhưng quên quá khứ đi, giống như thánh Phaolô: “Tôi quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước” (Pl 3,13t). Đó là cách Đức Giê-su đang thực hiện và chúng ta, hướng nhìn về phía trước, phải đăm đăm nhìn Người là Đấng đi trước chúng ta để tiến về Giêrusalem (Mc 10,32; Dt 12,1-2).

Đã nghe những gì Đức Giê-su yêu cầu, hẳn ta đã được chuẩn bị chút ít để thi hành sứ mạng (Galizzi, Vangelo secondo Luca, 234-235).

 

3. Nội tâm hóa và hấp thụ Lời Thiên Chúa

 

Làm vọng lại và ghi nhớ một câu chìa khóa

Sau khi đã nghe trích đoạn Tin Mừng xong, nên có một lúc thinh lặng để mỗi người đọc lại đoạn trích và để cho một lời vang vọng lại trong tâm hồn, lời được khắc ghi trong trí nhớ và được mang đi theo suốt ngày.

Nếu việc “lectio” được thực hiện trong khung cảnh một cuộc tĩnh tâm nửa ngày, thì đến lúc này, những người tham dự nên rút vào nơi thanh vắng để suy nghĩ riêng và nội tâm hóa.

 

Một cách đọc Phan sinh để nghiên cứu sâu hơn

Việc đọc hai bản văn có đề tài nói về “dâng trả”, lấy từ các Bút tích của thánh Phanxicô, được gợi ý cho thời gian mỗi người suy nghĩ riêng, ngõ hầu giải thích Tin Mừng dưới ánh sáng đoàn sủng của thánh Phanxicô.

 

Luật ksd I,1-5

1 Luật và đời sống anh em này là : sống vâng phục, khiết tịnh và không có của riêng, và tuân giữ đạo lý cùng bước theo vết chân Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta.

Chính Chúa đã nói : 2Nếu anh em muốn nên hoàn thiện thì hãy về (Mt 19,21) bán tất cả mọi thứ anh có (x. Lc 18,22), mà bố thí cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời, sau đó hãy đến theo Tôi” (Mt 19,21). 3 Và : “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thánh giá mình mà theo” (Mt 16,24). 4 Người còn nói : “Ai muốn theo Tôi mà không từ bỏ cha mẹ, anh chị em, vợ con, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ Tôi được”(Lc 14,26).  5 Và : “Bất cứ ai bỏ cha mẹ, anh chị em, vợ con, nhà cửa, và ruộng đất vì Tôi sẽ được lợi gấp trăm và được hưởng cuộc sống đời đời” (x. Mt 19,29; Mc 10,29; Lc 18,29).

 

Luật I, 1

 

1 Luật và đời sống Anh Em Hèn Mọn là tuân giữ thánh Phúc âm Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, bằng cách sống vâng phục, không có của riêng và khiết tịnh.

 

 

Để giúp dễ dàng nội tâm hóa và hấp thụ Lời Thiên Chúa:

 

  • Cố gắng đọc trích đoạn Tin Mừng dưới ánh sáng của phương pháp luận Em-mau: Tin Mừng nói điều gì cho đời sống của anh trong tư cách là một Anh Em Hèn Mọn, và cho đời sống của cộng đoàn mà anh góp phần hình thành? Anh có cảm nhận Tin Mừng như một lời an ủi có khả năng làm bừng cháy tâm hồn anh không? Tin Mừng có điều gì khiển trách và thúc bách? Tin Mừng thúc đẩy anh đi tới những chọn lựa nào?

 

Trong thời gian suy nghĩ riêng, nên để cho bản thân anh cũng bị thách đố bởi các lời thỉnh cầu mà chàng trai Phanxicô At-xi-di đã làm, những lời phải định hướng cho chúng ta sống và chọn lựa sau này:

 

  • “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?” “Lạy Thiên Chúa tối cao, vinh hiển, xin chiếu sáng tâm hồn mù tối của con”.

 

4. Dâng trả

 

Các tham dự viên lại họp nhau lại vào khoảng thời gian đã được sắp xếp và bắt đầu lớn tiếng đọc lại từ ngữ hoặc câu Tin Mừng đã đi vào tâm hồn họ. Đoạn, họ có thể bước sang phần chia sẻ những suy nghĩ đã chín mùi trong thinh lặng và trong cầu nguyện cá nhân. Nên kết thúc phần suy tư cá nhân bằng  lời kinh ca ngợi và thỉnh cầu, để giúp cá nhân và cộng đoàn sống cam kết đã nhận ra.

 

Nên kết thúc bằng lời kinh ca ngợi được lấy ra từ : “Bản Luật không sắc dụ”.

 

Ca ngợi và tạ ơn

L ksd XXIII,1-5

 

1 Lạy Thiên Chúa toàn năng, chí thánh, cao cả, là Chúa Cha thánh thiện và công minh, là Đức Vua Chúa tể trời đất, chúng con xin dâng lời cảm tạ, chỉ vì chính Cha mà thôi, và do bởi thánh ý Cha và nhờ Thánh Tử duy nhất cùng với Thánh Thần, Cha đã dựng nên muôn vật hữu hình và vô hình, và đã dựng nên chúng con theo hình ảnh và giống như Cha, rồi cho ở trong vườn địa đàng. 2 Nhưng chúng con đã sa ngã vì đã phạm tội.

3 Chúng con xin dâng lời cảm tạ vì cũng như Cha đã dựng nên chúng con nhờ Con Cha, thì Cha cũng yêu thương chúng con bằng một tình yêu thánh thiện. Cha đã cho Người ra đời: Người là Thiên Chúa thật và là người thật. Người đã sinh ra làm con Đức Trinh Nữ Maria hiển vinh và thánh thiện. Cha đã muốn Người đổ máu đào và chết trên thập giá để cứu chúng con khỏi ách nô lệ.

4 Chúng con xin dâng lời cảm tạ, vì chính Thánh Tử sẽ ngự đến trong vinh quang. Người sẽ xua đuổi vào lửa muôn đời những kẻ bị chúc dữ, xưa kia đã không hoán cải và không tin nhận Cha. Người cũng sẽ nói với tất cả những ai đã nhận biết, tôn thờ và phụng sự Cha trong đời sống hoán cải: “Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng vương quốc mà Cha Ta đã dọn sẵn cho các con từ thuở tạo thành thế giới”.

5 Vì tất cả chúng con đều khốn nạn và tội lỗi, không đáng kêu cầu Danh Cha, nên chúng con tha thiết nài xin Đức Giê-su Kitô, Chúa chúng con, là “Con yêu dấu của Cha, Đấng làm vui lòng Cha hết mực”, để Người cùng với Chúa Thánh Thần, Đấng Bảo trợ, cảm tạ Cha về tất cả mọi sự, hợp theo ý của Cha và của Người. Vì Người hằng làm toại lòng Cha trong mọi sự, và nhờ Người Cha đã làm bao việc cho chúng con. Allêluya.

 

 

 

Mẫu thức thứ hai:

Tâm trí hướng về Chúa để trở nên anh em và đầy tớ của nhau.

 

 

1. Chuẩn bị

Người anh em hướng dẫn việc ‘lectio’ mời mọi người thinh lặng và hồi tâm. Nên nhắc lại ý nghĩa của khoảnh khắc này. Sau khi làm dấu thánh giá, có thể bắt đầu cầu xin Chúa Thánh Thần.

Chúng ta có thể sử dụng một điệp khúc của cộng đoàn Taizè, chẳng hạn ca khúc được đề nghị trong bản đề cương hoặc ca khúc được nhiều người hiện diện biết. Nên hát kéo dài điệp khúc này trong một ít phút, sao cho có thể đạt tới một sự hòa hợp thực sự với Thánh Thần.

 

Lạy Chúa Thánh Thần, xin Người ngự đến

Thổi bùng lên ngọn lửa rực yêu thương

Tự nơi  Người, Thánh Thần của lòng mến

Lạy Thánh Thần, xin đến với con luôn.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin Người ngự đến

 

Cũng nên dành một ít phút để cầu nguyện bột phát với Chúa Thánh Thần, xen kẽ bằng lời hát điệp khúc; dĩ nhiên, những người tham dự có thể diễn tả tâm tình bằng ngôn ngữ quen thuộc nhất.

 

Thí dụ:

Lạy Chúa Thánh Thần, xin Người hãy đến

Mở rộng hồn con đón nhận lời Đức Giê-su

Xin giúp con trong ánh sáng của Ngôn từ

Biết sống và sống trung thành trong ơn gọi …

 

2. Đọc và lắng nghe Lời Thiên Chúa

 

Công bố Tin Mừng

Khi anh hướng dẫn ‘lectio’ cảm thấy đã có một bầu khí sẵn sàng cho việc lắng nghe, anh mời một trong những người tham dự công bố Lời Tin Mừng.

 

Có thể đọc những trích đoạn lấy từ sách Tin Mừng:

 

  • Đức Giê-su rửa chân cho các môn đệ: Ga 13,1-17
  • Sự cao cả của việc phục vụ: Mt 20,17-28
  • Chỉ có một Cha, một Thầy, còn tất cả đều là anh em với nhau: Mt 23,1-12

 

Để giúp hiểu bản văn

 

Đức Giê-su rửa chân cho các môn đệ của Người: Ga 13,1-17

 

1 Trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng. 2 Ma quỷ đã gieo vào lòng Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt, ý định nộp Đức Giê-su.3 Đức Giê-su biết rằng: Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người, Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa,4 nên trong một bữa ăn, Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng.5 Rồi Đức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. 6 Vậy, Người đến chỗ ông Si-môn Phê-rô, ông liền thưa với Người: "Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao? "7 Đức Giê-su trả lời: "Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu."8 Ông Phê-rô lại thưa: "Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu! " Đức Giê-su đáp: "Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy."9 Ông Si-môn Phê-rô liền thưa: "Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa."10 Đức Giê-su bảo ông: "Ai đã tắm rồi, thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu! "11 Thật vậy, Người biết ai sẽ nộp Người, nên mới nói: "Không phải tất cả anh em đều sạch."

12 Khi rửa chân cho các môn đệ xong, Đức Giê-su mặc áo vào, về chỗ và nói: "Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không?13 Anh em gọi Thầy là "Thầy", là "Chúa", điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa.14 Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau.15 Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.16 Thật, Thầy bảo thật anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi.17 Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em!

 

Quyển thứ nhất của Tin Mừng thánh Gioan, được các nhà chú giải gọi là “sách các dấu lạ”, kết thúc ở chương 12. Quyển thứ hai, được gọi là “sách mạc khải” bắt đầu với chương 13. Câu chuyện của chúng ta được dùng như một dây liên kết nhờ một dấu lạ khiêm tốn, dấu lạ khiêm tốn nhất mà Đức Giê-su đã ban, tuy nhiên, là một dấu lạ mạc khải gương mặt của Chúa Cha …

Các câu 6-11 phải được đọc trong ánh sáng của Mc 8,31tt, lúc Đức Giê-su, sau khi nghe lời Phêrô tuyên bố “Thầy là Đấng Kitô”, đã loan báo cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người. Trước những lời nói mạnh mẽ như thế, vị Tông đồ đã trách Đức Giê-su. Có một sự liên kết chặt chẽ giữa câu truyện này với việc Phêrô từ chối để Người rửa chân cho ông. Trong trích đoạn của thánh Mác-cô, ông phản đối vì ông muốn có một Đấng Mê-si-a khác với Đấng mà Đức Giê-su loan báo: Nếu Thiên Chúa là Đấng như chúng ta nghĩ, hẳn là Người sẽ không để cho Đấng Mê-si-a phải chết, hẳn là Người không phải là Đấng Mê-si-a mà chúng ta vẫn kỳ vọng! Ở đây, xen ấy được lặp lại vì Phêrô, do yêu mến Đức Giê-su và muốn Người được vinh quang, đã không chấp nhận việc Người phải đảm nhận cung cách một người tôi tớ, nên đã kêu lên: Thầy không thể rửa chân cho con như một người tôi tớ, tốt hơn là hãy để con rửa chân Thầy, con phục vụ Thầy!

Ở đó, nơi Phêrô, lộ ra hình ảnh của một vì Thiên Chúa thống trị, chiến thắng, yêu cầu được phục vụ, thế mà ông lại đang ở gần một vị Thiên Chúa tự hạ. Thế là Đức Giê-su đã nói với ông: Rồi sau này anh sẽ hiểu điều Thầy đang làm, sau cuộc khổ nạn đau đớn, cái chết và sự ph ục sinh của Thầy. Và Phêrô đã tin tưởng chấp nhận chịu để cho Người rửa chân ông, nhưng ba lần ông chối Thầy sẽ cho thấy rằng ông vẫn còn ở trong thế kháng cự lại một hình ảnh về vị Thiên Chúa phục vụ loài người.

 

1. Họ phải rửa chân cho nhau: điều này có ý nghĩa gì đối với mỗi Kitô hữu?

Rõ ràng Giáo Hội đã giải thích ngay mệnh lệnh của Đức Giê-su theo chiều hướng này, nên chẳng hạn, vào ngày Thứ Năm Tuần thánh, đức Giám mục rửa chân cho một nhóm tín hữu. Đây là một sự tuân phục khá dễ dàng, vì các tín hữu đã tắm rửa trước khi nghi thức được cử hành, trong khi trong thực tế, việc rửa chân có nghĩa là tiếp xúc với một cái gì dơ bẩn. Do đó, đây là một cử chỉ có tính biểu tượng mà Giáo Hội sơ khai nhắm đến nhiều hơn. Trong Thư I gởi cho Ti-mô-thê, nơi liệt kê những đặc điểm cần có nơi các phụ nữ muốn đăng ký vào sổ các bà goá, ta thấy có chứng nhận về các việc tốt, trong số đó là việc đã “rửa chân cho các thánh” (5,10) … Như vậy, có một ý nghĩa rõ ràng trong mệnh lệnh của Đức Giê-su, đó là sự tôn trọng, tôn kính và phục vụ.

Rõ ràng việc này có ý nghĩa rộng hơn nhiều. Theo nghĩa ẩn dụ, rửa chân ám chỉ mọi việc phục vụ nghèo hèn và khiêm tốn làm cho anh chị em, và do đó bao gồm toàn thể các công việc trợ giúp: trợ giúp bằng đôi tay, khi người ta phục vụ bằng tay; trợ giúp bằng môi miệng, khi người ta nói lời an ủi, trấn an và nâng đỡ; trợ giúp bằng trái tim, khi người ta đón nhận, cám ơn, trân trọng, đánh giá đúng và yêu thương; trợ giúp bằng sự tha thứ. Rõ ràng việc “rửa chân cho nhau” có nghĩa là “yêu thương, đón nhận, phục vụ nhau bằng nhiều cách, thậm chí kiên làm những việc phục dịch khó chịu”; chẳng hạn, đón nhận những người bị gạt ra bên lề, những người đau khổ vì bệnh aids, những người nghèo, không đóng cửa lại với bất cứ ai xin điều gì. Tất cả những điều này đều là những lối ứng xử khó khăn mà ta phải sống!

Nhưng bản văn còn đi sâu hơn, và chúng ta suy diễn điều này từ lời đoạn dẫn nhập rất long trọng (1-3), từ tám trường hợp mang tính lịch sử và thần học của việc rửa chân. Ý thức trọn vẹn nhiệm vụ của Người, về việc Người vượt qua thế gian này mà về cùng Chúa Cha, Đức Giê-su đã yêu mến các môn đệ của Người đến cùng. Qua cử chỉ tiên tri này, tương tự các dấu lạ các vị ngôn sứ lớn đã làm, Người chịu liên lụy với nhân loại bằng cách đảm nhận cung cách của một tôi tớ, và bày tỏ cho thấy Người hoàn toàn sẵn sàng với chúng ta cho tới chết. Đức Giê-su hy sinh mạng sống, như Người đã cởi bỏ y phục cách biểu tượng, Người hy sinh mạng sống rồi lấy lại vì  chúng ta.

Rửa chân chính là việc Người ban mạng sống của Người cho chúng ta, là việc  Đức Giêsu chết và sống lại vì chúng ta, là trọn vẹn cuộc hiện hữu của Người vì chúng ta. Một vị Thiên Chúa phục vụ nhân loại vì yêu thương đã được mạc khải ra cho chúng ta nơi Đức Giê-su qua bản văn này. Hành động Người đã làm tiên báo cuộc khổ nạn, có nghĩa là Con Người đi xuống chỗ thấp nhất để phục vụ nhân loại cho tới chết và do đó, đã tạo nên một hình ảnh hết sức mới mẻ về Thiên Chúa: hình ảnh của một Thiên Chúa vui lòng đặt mình vào chỗ cuối rốt và phục vụ nhân loại. “Rửa chân cho nhau” là một lệnh truyền mang một tầm quan trọng đầy ý nghĩa: Nếu Thiên Chúa phục vụ nhân loại vì yêu thương, điều đó có nghĩa là sự viên thành của nhân loại nằm ở chỗ phục vụ anh chị em vì yêu thương, thậm chí hy sinh mạng sống vì họ. Ý nghĩa tối hậu của cuộc sống chúng ta là sự sẵn sàng phục vụ anh chị em chúng ta.

Đây là một sứ điệp lớn lao, sứ điệp này sẽ tiếp tục vang dội trong lịch sử Giáo Hội, vì lẽ chúng ta còn xa nó lắm. Đây là sứ điệp về bí tích Thánh Thể, vì nhờ Thánh Thể, ngày này qua ngày khác, chúng ta trở nên tốt hơn để có thể mặc lấy một thái độ phục vụ, trao tặng nhưng-khộng và đầy yêu thương, nhờ dần dà học được cách hiện hữu và cách sống của Đức Giê-su.

 

2. Đâu là hệ luận đối với vị Giám mục và đối với tất cả những người có quyền bính trong Giáo Hội?

Việc rửa chân nhắc vị Giám mục và những người có quyền bính nhớ rằng phục vụ là vinh quang đích thực; chúng ta đừng sợ phải hạ mình, vì nhờ thực thi mệnh lệnh của Đức Giê-su, chúng ta sẽ được chúc phúc. Đây là hình ảnh một Giáo Hội phát xuất ra từ hình ảnh mới về Thiên Chúa, đó là dung mạo của quyền bính thể theo Tin Mừng, của quyền bính như là việc phục vụ vì yêu thương. Vì in hình ảnh này vào trong tim tôi, và ít ra luôn luôn có hình ảnh này trước mắt tôi là một việc khó khăn, nên tôi cần có cảnh tượng Đức Giê-su rửa chân cho các môn đệ được ghi khắc trong hoạt động mục vụ của tôi.

 

3. Sứ điệp thứ ba liên hệ tới từng cuộc cử hành Thánh Thể

Đức Giê-su tự đặt mình cho chúng ta sử dụng trong mỗi cuộc cử hành, Người tự đặt mình vào tay chúng ta như lương thực, để Người là Thiên Chúa ở giữa chúng ta, ở với chúng ta và như thế Thánh Thể là khởi đầu của việc cho đi chính mình, của việc  chúng ta làm điều gì đó vì tha nhân. Qua việc rửa chân, Người được mạc khải ra như là Con Thiên Chúa, Đấng trọn vẹn nhận lấy cung cách của một người tôi tớ, không lùi bước, và ý nghĩa của Thánh Thể đúng là làm cho chúng ta có khả năng diễn tả chúng ta ra gần gũi hơn, ân cần và thường xuyên tha thứ trong việc phục vụ.

 

4. Có một sứ điệp cuối cùng tôi rút ra được từ trích đoạn Tin Mừng và sứ điệp này liên hệ tới cuộc hành trình của con người trên trái đất, cuộc hành trình của mỗi người nam người nữ

Tôi đã nhấn mạnh sự kiện là cử chỉ của Đức Giê-su, với mệnh lệnh kèm theo, dạy chúng ta cách thức sống thế nào để đạt tới sự tròn đầy trong việc tự trao ban chính mình. Công Đồng Vatican II đã nhấn mạnh nhiều tới điều đó: con người “không thể tìm gặp lại được chính mình một cách đầy đủ trừ ra nhờ việc thành thực hiến thân” (MV 24).

Trong một thời đại của cá nhân chủ nghĩa, tính ích kỷ, tìm kiếm lợi lộc của cá nhân và của nhóm, Đức Giê-su mạc khải cho chúng ta biết rằng con người trở nên giống như Người, giống như Thiên Chúa, chỉ nhờ sự hiến thân. Thật vậy, Người nói ở c. 15: “Anh em hãy làm như Thầy đã làm cho anh em”; câu này liên hệ với câu thường được lặp đi lặp lại trong Tin Mừng IV: như Chúa Cha thế nào, thì Thầy cũng vậy. Vì thế, Thầy đã để cho anh em thấy Chúa Cha bằng cách rửa chân anh em và anh em, nhờ việc phục vụ những người khác, hãy để cho gương mặt của Thiên Chúa được người ta nhìn thấy, anh em có trách nhiệm về gương mặt của Người.

Nhưng nói chung, bản văn có ý nghĩa gì đối với cuộc hành trình của con người trên trái đất, một cuộc hành trình phải đi thật sâu vào như một cuộc trở về với Chúa Cha?

“Khi biết đã đến giờ phải vượt qua thế gian mà về với Chúa Cha … Biết rằng Người bởi Thiên Chúa mà đến và sắp trở về cùng Thiên Chúa”; toàn bộ mạc khải về mầu nhiệm Đức Giê-su, mầu nhiệm nhân loại, mầu nhiệm Giáo Hội, mầu nhiệm Thánh Thể đều nằm dưới dấu chỉ chuyến đi trọng đại của Đức Giê-su mà trở về cùng Chúa Cha, mạc khải này cho thấy cách Người đã sống những ngày tháng đời Người trong niềm mong ước được trở về với Chúa Cha, trong một hành trình tiến về Thiên Chúa.

Đây là một sứ điệp rất đẹp, tràn đầy hy vọng: cuộc sống của con người là một cuộc hành trình trở về với Chúa Cha, trong đó mọi cử chỉ, thậm chí là tầm thường nhất, thường ngày nhất, vẫn có thể được soi sáng bởi ý thức như thế về một cuộc hành trình. Nhân loại không sống để chết, để đi vào ngõ cụt; nhân loại sống để đi tới một kết thúc được liên kết với một người Cha đang chờ đợi mình, tới gặp gỡ mình như trong dụ ngôn đứa con hoang đàng, bảo đảm tương lai như một giao ước với Người.

Khi nhân loại có thể nắm chặt lấy sự thật này, nó sẽ có thể bỏ lại đàng sau nỗi sợ hãi của mình, sự âu lo, tính ích kỷ và các cuộc chiến tranh bằng cách tăng thêm những cuộc gặp gỡ hòa bình, hòa giải và cuộc đối thoại trước đó đã không thể nào diễn ra.

Khuôn mặt của nhân loại sẽ khác đi biết mấy; tình trạng các cuộc xung đột mà ngày nay vẫn còn bi thảm sẽ khác đi biết bao, nếu bỏ sang một bên những lợi lộc nhất thời, tất cả mọi người nam người nữ coi mình như đang ở trong chuyến đi vĩ đại trở về cùng Chúa Cha! (CM Martini, La pratica del testo biblico, 266-271).

 

Sự vĩ đại của việc phục vụ: Mt 20,17-28

 

17 Lúc sắp lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su đưa Nhóm Mười Hai đi riêng với mình, và dọc đường, Người nói với các ông:18 "Này chúng ta lên Giê-ru-sa-lem, và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ kết án xử tử Người,19 sẽ nộp Người cho dân ngoại nhạo báng, đánh đòn và đóng đinh vào thập giá và, ngày thứ ba, Người sẽ trỗi dậy." 20 Bấy giờ bà mẹ của các con ông Dê-bê-đê đến gặp Đức Giê-su, có các con bà đi theo; bà bái lạy và kêu xin Người một điều.21 Người hỏi bà: "Bà muốn gì? " Bà thưa: "Xin Thầy truyền cho hai con tôi đây, một người ngồi bên hữu, một người bên tả Thầy trong Nước Thầy."22 Đức Giê-su bảo: "Các người không biết các người xin gì! Các người có uống nổi chén Thầy sắp uống không? " Họ đáp: "Thưa uống nổi."23 Đức Giê-su bảo: "Chén của Thầy, các người sẽ uống; còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Cha Thầy đã chuẩn bị cho ai, thì kẻ ấy mới được." 24 Nghe vậy, mười môn đệ kia tức tối với hai anh em đó.25 Nhưng Đức Giê-su gọi các ông lại và nói: "Anh em biết: thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân.26 Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em.27 Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em.28 Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người."

 

Lời loan báo thứ ba về cuộc khổ nạn thì chi tiết hơn hai lần trước: đây là một bản tóm lược thực thụ và chính xác câu chuyện khổ nạn, liệt kê tất cả mọi chặng và các nhân vật. Ngay lập tức sau đó (và đây chắc chắn là một sự trái ngược muốn có) các con Dê-bê-đê đưa ra câu hỏi. Đây là một câu hỏi cho thấy rõ ràng là diễn từ về thập giá đã không được đón nhận. Trước hết, câu trả lời của Đức Giê-su chỉ ngỏ với Giacôbê và Gioan (Đức Giê-su không trực tiếp trả lời cho người mẹ, nhưng là cho hai con bà), cho họ thấy họ phải thực sự lo lắng về chuyện gì: không phải “ việc ngồi bên tả hoặc bên hữu Người”, nhưng là uống “chén” của Người, cùng thông dự vào “phép rửa” của Người. Mối bận tâm thực sự của người môn đệ phải là đi theo Người chứ không là gì khác. Nhưng rồi Đức Giê-su đã đưa mắt nhìn nhóm các môn đệ, để chỉ cho biết cách  cư xử, nếu họ thực sự ước muốn bước theo Người. Ở đây, rất có thể Tác giả Phúc âm có ý ngỏ lời với những người nắm quyền trong cộng đoàn rằng: quyền bính phải được hiểu như một việc phục vụ. Để làm cho người ta hiểu tư tưởng quan trọng này, Đức Giê-su đã vận dụng hai so sánh, một tiêu cực và một tích cực. Khi được hành xử, quyền bính nơi người môn đệ phải khác xa quyền bính thế gian (“Giữa anh em thì không được như vậy”) và phải giống như cách ứng xử của Con Người (c. 28).

Câu cuối cùng này đáng được phân tích cẩn thận. Cách diễn tả nhằm làm nổi bật lên một sự đối nghịch (có một từ “nhưng”), một sự tương phản rõ ràng giữa điều  mọi người chờ đợi (được phục vụ) với điều, ngược lại, Con Người đến để làm (phục vụ). Thế rồi từ “phục vụ” được giải thích trong phần thứ hai của công thức; theo thiển ý, ta phải hiểu là như một song đối để cắt nghĩa. “Hiến dâng mạng sống” không chỉ và đặc biệt có nghĩa là chết đi, nhưng còn là bố trí toàn bộ cuộc sống mình theo kiểu quà tặng. “Làm giá chuộc” phải được hiểu như là “một ân huệ”, “sống liên đới với”. Nói cách khác, Con Người không đến để được phục vụ, nhưng là để phục vụ (như thế gian chờ đợi và hẳn là được coi là đúng đắn, bởi vì các giá trị bị đảo ngược so với các giá trị của Tin Mừng), nhưng để phục vụ, và điều này có nghĩa là sống cuộc sống mình bằng cách chịu trách nhiệm về nhiều người (cho tới những hệ lụy cuối cùng) (B. Maggioni, Il racconto di Matteo, 260-261).

 

Chỉ có một Cha, một Thầy, còn tất cả đều là anh em với nhau: Mt 23,1-12

 

1 Bấy giờ, Đức Giê-su nói với dân chúng và các môn đệ Người rằng:2 "Các kinh sư và các người Pha-ri-sêu ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy.3 Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm.4 Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào.5 Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài.6 Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường,7 ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là "ráp-bi". 8 "Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là "ráp-bi", vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau.9 Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời.10 Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo, là Đức Ki-tô.11 Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em.12 Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên.

 

Trong phần thứ nhất bài diễn từ (23,1-12), Đức Giê-su kết án những mâu thuẫn của các Luật sĩ và Pharisêu, bằng cách sau đó dùng những tương phản mà mô tả những đặc tính của người môn đệ chân chính. Chúng ta phải đưa ra ngay hai câu hỏi: Khi viết trang này, trong đầu các Tác giả Tin Mừng nghĩ đến điều gì? Và Người đang ngỏ lời với ai? Muốn đọc được toàn bộ trang này, còn tùy thuộc vào câu trả lời cho hai câu hỏi đó, và rõ hơn, tùy thuộc thái độ của chính chúng ta trước trang đó: bài diễn từ được ngỏ với chúng ta hay với người khác? Với Do-thái giáo hay là với cộng đoàn Kitô hữu?

Không còn phải nghi ngờ gì nữa, trang này lui đưa trở lại thời Đức Giê-su: Người thường xuyên đụng chạm dữ dội với giới lãnh đạo tôn giáo trong thời Người. Nhưng cũng đúng là bản văn phản ánh tính chất khó khăn của cuộc xung đột giữa Giáo Hội và Hội đường vào thời thánh Matthêu.Vì thế, vấn đề không chỉ là một hồi niệm lịch sử mà thôi, nhưng là một hồi niệm lịch sử chất chứa hiện tại, theo Tác giả Tin Mừng. Và còn hơn thế nữa. Rõ ràng, Tác giả Tin Mừng không chỉ có ý quy chiếu về  Do-thái giáo thời ngài, bằng cách tố cáo những gốc rễ kín ẩn của thái độ của họ là kháng cự lại Tin Mừng và dữ dội phản kháng Giáo Hội. Tận dụng cuộc bút chiến, Tác giả có ý lột mặt nạ những thái độ có thể có (hoặc thực sự có) nơi chính cộng đoàn Kitô hữu. Điều đó được tỏ rõ trong các câu 8-12, được ngỏ với các môn đệ và làm vọng lại bài diễn từ dành cho cộng đoàn nơi câu 18. Những người chất vấn thì đa dạng: đám đông và các môn đệ, một mình các môn đệ, các Pharisêu và Luật sĩ, Giêrusalem. Nhưng, trong thực tế, bài diễn từ được ngỏ với chúng ta. Và cách áp dụng bài diễn từ như thế cho cộng đoàn mọi thời, tôi chắc chắn, không chỉ là một nghĩa thích ứng, một cách mở rộng ý nghĩa thái quá, nhưng tương ứng với ý hướng của Tác giả Tin Mừng. Chúng ta đã nhấn mạnh tới sự kiện là phần đầu của bài diễn từ kết thúc với hai hình ảnh dối lập nhau: người Pharisêu (được mô tả như một biếm họa về người môn đệ trong cc. 2-7) và người môn đệ chân chính (cc. 8-12). Các ngôn sứ Cựu Ước thường khiển trách các vị thầy xấu … Ta có thể gặp những lời khiển trách tương tự trong thế giới Hy-lạp, nhắm đến các vị thày dạy triết lý và khôn ngoan …

Các Luật sĩ và Pharisêu ngồi trên tòa Mô-sê, nghĩa là họ tự coi họ như là những người tiếp nối giáo huấn của Mô-sê: họ lặp lại, họ bảo vệ, họ giải thích giáo huấn ấy với thẩm quyền, họ cập nhật giáo huấn ấy. Họ có một uy quyền được công nhận (“những gì họ nói thì anh em hãy làm hãy giữ”!).

Nhưng lại chính là dựa trên sự nhìn nhận này mà Đức Giêsu phê phán họ. Đó là chính vì họ không phải là bất cứ ai, nên cách sống của họ mới gây cớ vấp phạm.

Đức Giê-su khiển trách họ hai điểm: sự bất nhất (cc. 2-4) và sự tìm kiếm bản thân (cc. 5-7). Đặc biệt là sự bất nhất của họ: họ sống hai mặt và không ngay thẳng, họ đã thiết lập hai thước đo. Họ nói dối với Thiên Chúa và với chính họ. Họ sống trong một thế chia cách to lớn giữa điều họ nói và việc họ làm (tệ hơn nữa: giữa điều họ dạy và điều họ làm), giữa cái bên ngoài và thực chất của họ, giữa điều họ đòi hỏi nơi  người khác và điều họ đòi hỏi chính bản thân họ (khắt khe với người khác, khoan dung với chính mình).

Họ nói mà không làm: không có Tác giả Tin Mừng nào để ý kỹ bằng Matthêu khi lặp lại rằng không phải là lời nói thì đáng kể, nhưng là việc làm (5,19; 7,15-27), và xem quả thì biết cây (12,33).

Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người khác: và đây là một đối lập hoàn toàn với cái nhìn của Matthêu về quyền bính. Ngài thích giới thiệu Đức Giê-su như vị Thầy dịu dàng và kiên nhẫn, ban lời giáo huấn như một cái ách êm ái và gánh của Người  thì nhẹ nhàng (11, 29).

Rồi đến sự tìm kiếm bản thân: họ nối dài hộp kinh và tìm chỗ ngồi danh dự. Dường như họ khó chịu với Bài Giảng trên Núi (6,1-6.16-18). Những kẻ chiếm chỗ nhất trong hội đường thì quay lưng lại với hòm bia Giao ước và ngồi đối diện với công chúng. Những hộp kinh là những cái hộp nhỏ chứa đựng những mảnh ghi các bản văn Kinh Thánh có tầm quan trọng đặc biệt. Những người Do-thái đạo đức đeo những hộp  này trên cánh tay trái và trên trán họ. Đây là cách diễn giải theo mặt chữ câu Đnl 6,6-8: “Những lời này tôi truyền cho anh em hôm nay, anh em phải ghi tạc vào lòng … phải buộc những lời ấy vào tay làm dấu, mang trên trán làm phù hiệu”. Những sợi dây tua cũng có một chức năng tương tự. Những người Israel đạo đức buộc chúng vào bốn góc áo choàng của họ, như Ds 15,38-39 mô tả: “Đức Chúa phán với ông Mô-sê và bảo: Ngươi hãy nói với con cái Israel và bảo chúng phải làm tua và khâu vào áo của chúng, qua mọi thế hệ, và cột lên tua áo đó một sợi dây đỏ tía. Vậy các ngươi sẽ mang tua áo, và khi nhìn thấy nó, các ngươi sẽ nhớ đến mọi mệnh lệnh của Đức Chúa mà thi hành, chứ không theo con tim và đôi mắt các ngươi mà đi làm điếm”.

Vì thế, các hộp kinh và những tua áo có một ý nghĩa biểu tượng rất hệ trọng: để ghi nhớ Lề Luật Đức Chúa và nhớ ra sức tuân giữ luôn luôn. Nhưng rõ ràng đây là việc mà các Luật sĩ và Pharisêu đã không làm.

Như đã nói, cung giọng của các câu 8-12 rõ ràng mang tính Giáo Hội: dường như đây là sự tiếp nối bài diễn từ cho cộng đoàn ở ch. 18. Điểm nhấn nằm ở thuật ngữ “anh em chỉ có một …”, được nhắc lặp ba lần. Bất cứ quyền bính nào cũng đều được hiểu như là một vị thế để sống mà phục vụ. Không một quyền bính nào được tỏ ra theo những cách khiến che phủ mất sự kiện căn bản, là sự kiện, trái lại, phải luôn luôn rất nổi rõ, đó là  Đức Kitô là Đức Chúa duy nhất, còn mỗi thành viên trong cộng đoàn là một người con của Thiên Chúa, và tất cả mọi người là anh em với nhau. Quyền bính chân chính thì trong suốt. Nó không sử dụng những lời của riêng nó hoặc tìm kiếm chính nó. Quyền tối thượng của Thiên Chúa, tư cách con cái Thiên Chúa và tình huynh đệ là những phạm trù nền tảng của cộng đoàn (và của Tin Mừng): quyền bính là để phục vụ ba phạm trù này, phải vén mở cho thấy chúng, bảo vệ chúng, nêu bật chúng, chứ không bao giờ được che khuất chúng đi. Điều cho thấy rõ Tin Mừng và làm cho Tin Mừng trở nên độc đáo và mới mẻ không phải là việc khẳng định quyền bính. Sự khẳng định này ở đâu cũng có. Trái lại, điều độc đáo là quan niệm về quyền bính như là một lối cư xử trong suốt (B. Maggioni, I Quattro Vangeli, 197-199).

 

3. Nội tâm hóa và hấp thụ Lời Thiên Chúa

 

Làm vọng lại và ghi nhớ một câu chìa khóa

Sau khi đã nghe trích đoạn Tin Mừng xong, nên có một lúc thinh lặng để mỗi người đọc lại đoạn trích và để cho một lời vang vọng lại trong tâm hồn, lời được khắc ghi trong trí nhớ và được mang đi theo suốt ngày.

Nếu việc “lectio” được thực hiện trong khung cảnh một cuộc tĩnh tâm nửa ngày, thì đến lúc này, những người tham dự nên rút vào nơi thanh vắng để suy nghĩ riêng và nội tâm hóa.

 

Một cách đọc Phan sinh để nghiên cứu sâu hơn

Việc đọc hai bản văn có đề tài nói về “dâng trả”, lấy từ các Bút tích của thánh Phanxicô, được gợi ý cho thời gian mỗi người suy nghĩ riêng, ngõ hầu giải thích Tin Mừng dưới ánh sáng đoàn sủng của thánh Phanxicô.

 

Luật ksd VI,3-4

3Không ai được mang danh là “bề trên”, nhưng tất cả hãy cùng mang danh là anh em hèn mọn. 4Và anh em hãy rửa chân cho nhau (Ga 13,14).

 

Luật VI,1-9

1Anh em không được chiếm hữu gì hết, nhà cửa, đất đai hoặc bất cứ của gì. 2Như những kẻ lữ hành và khách lạ ở đời này, phụng sự Chúa trong nghèo khó và khiêm nhường, anh em hãy đi xin của bố thí với lòng tin tưởng, 3không được hổ thẹn, vì Chúa đã làm người nghèo khó ở thế gian này vì chúng ta. 4Đó chính là điều kỳ diệu của đức nghèo cao trọng; đức ấy đã đặt anh em, những anh em rất than mến của tôi, làm những người thừa tự và hoàng tử của Nước Trời, nghèo khó về vật chất nhưng cao sang về nhân đức. 5Chớ gì đó là phần gia nghiệp sẽ dẫn đưa anh em tới cõi đất dành cho kẻ sống. 6Anh em rất yêu dấu, hãy hết lòng gắn bó với phần phúc ấy, vì danh Đức Giê-su Kitô, anh em đừng muốn có của cải gì khác nữa dưới bầu trời.

7Dù ở nơi nào hay gặp nhau ở đâu, anh em hãy tỏ ra là anh em một nhà. 8Người này hãy tin tưởng nói cho người kia biết nhu cầu của mình. Nếu một người mẹ nuôi dưỡng và yêu thương đứa con huyết nhục của mình, thì mỗi người lại phải yêu thương và dưỡng nuôi anh em thiêng liêng mình ân cần hơn là dường nào? 9Nếu ai trong anh em ngã bệnh, các anh em khác phải phục vụ người ấy như mình muốn được phục vụ.

 

Để giúp dễ dàng nội tâm hóa và hấp thụ Lời Thiên Chúa:

 

  • Cố gắng đọc trích đoạn Tin Mừng dưới ánh sáng của phương pháp luận Em-mau: Tin Mừng nói điều gì cho đời sống của anh trong tư cách là một Anh Em Hèn Mọn, và cho đời sống của cộng đoàn mà anh góp phần hình thành? Anh có cảm nhận Tin Mừng như một lời an ủi có khả năng làm bừng cháy tâm hồn anh không? Tin Mừng có điều gì khiển trách và thúc bách? Tin Mừng thúc đẩy anh đi tới những chọn lựa nào?

 

Trong thời gian suy nghĩ riêng, nên để cho bản thân anh cũng bị thách đố bởi các lời thỉnh cầu mà chàng trai Phanxicô At-xi-di đã làm, những lời phải định hướng cho chúng ta sống và chọn lựa sau này:

 

  • “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?” “Lạy Thiên Chúa tối cao, vinh hiển, xin chiếu sáng tâm hồn mù tối của con”.

 

4. Dâng trả

 

Các tham dự viên lại họp nhau lại vào khoảng thời gian đã được sắp xếp và bắt đầu lớn tiếng đọc lại từ ngữ hoặc câu Tin Mừng đã đi vào tâm hồn họ. Đoạn, họ có thể bước sang phần chia sẻ những suy nghĩ đã chín mùi trong thinh lặng và trong cầu nguyện cá nhân. Nên kết thúc phần suy tư cá nhân bằng  lời kinh ca ngợi và thỉnh cầu, để giúp cá nhân và cộng đoàn sống cam kết đã nhận ra.

 

Nên kết thúc bằng lời kinh ca ngợi được lấy ra từ : “Bản Luật không sắc dụ”.

 

 

Ca ngợi và tạ ơn

L ksd XXIII,8-11

 

8Hết thảy chúng ta hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết nghị lực, hết sức khỏe, hết ý nghĩ, hết mọi sức lực, với tất cả cố gắng, tất cả tình cảm, tất cả tâm can, tất cả lòng muốn và ý chí. Chính Người đã ban và đang ban cho tất cả chúng ta toàn thân xác, linh hồn và sự sống. Chính Người đã dựng nên, cứu chuộc và sẽ cứu độ chúng ta, chỉ vì Người là Đấng từ bi nhân hậu. Chúng ta là những kẻ bần cùng khốn nạn, thối tha và hư hỏng, vô ơn và xấu xa, thế mà Người đã và vẫn còn ban cho chúng ta mọi điều tốt lành.

9Vậy chúng ta đừng ước ao, đừng ham muốn, cũng đừng vui thích hay yêu quý điều gì ngoài Đấng Tạo hóa, Cứu chuộc và Cứu độ chúng ta; chỉ mình Người là Thiên Chúa thật, là sự thiện viên mãn, tất cả sự thiện, sự thiện vẹn toàn, sự thiện chân thật và tối thiện; chỉ mình Người là Đấng tốt lành, khoan nhân, khả ái, ngọt ngào và dịu hiền; chỉ mình Người là thánh thiện, công chính, chân thật, thánh thiện và ngay thẳng; chỉ mình Người là nhân từ, vô tội, trong trắng; do Người, nhờ Người và trong Người, mà mọi ơn tha thứ, mọi phúc lành, mọi vinh quang được ban xuống cho tất cả những ai sống đời hoán cải và công chính, cho tất cả các thánh đang hưởng hoan lạc trên trời.

10Vậy, chúng ta đừng để điều gì ngăn cản, tách biệt và chia lìa chúng ta với Chúa. 11Khắp mọi nơi, mọi lúc và mọi thời buổi, hằng ngày chẳng lúc nào ngơi, tất cả chúng ta hãy thực sự và khiêm tốn tin kính, ghi nhớ trong lòng, yêu mến, tôn kính, thờ phượng, phụng sự, ca ngợi, chúc tụng, tôn vinh, tán dương, dâng lời ngợi khen và cảm tạ Thiên Chúa vĩnh cửu, chí thánh, chí tôn, một Chúa và là Ba ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, Đấng đã dựng nên muôn loài và cứu độ tất cả những ai tin kính, trông cậy và yêu mến Người; Người là Đấng vô thủy vô chung, thường hằng bất biến, người ta không thể thấy được, không thể nói ra được, không thể diễn tả được, không thể hiểu được, không thể truy tầm được. Người đáng chúc tụng, ca ngợi, tôn vinh, tán dương; Người sâu thẳm, cao vời, ngọt ngào, khả ái, chan chứa hoan lạc, đáng khát khao trên hết mọi sự cho đến muôn đời. Amen.

 

 

 

 

Mẫu thức thứ ba:

Tâm trí hướng về Chúa đem những lời là ThầnKhí và là Sự sống đến cho thế giới

 

 

1. Chuẩn bị

Người anh em hướng dẫn việc ‘lectio’ mời mọi người thinh lặng và hồi tâm. Nên nhắc lại ý nghĩa của khoảnh khắc này. Sau khi làm dấu thánh giá, có thể bắt đầu cầu xin Chúa Thánh Thần.

Chúng ta có thể sử dụng một điệp khúc của cộng đoàn Taizè, chẳng hạn ca khúc được đề nghị trong bản đề cương hoặc ca khúc được nhiều người hiện diện biết. Nên hát kéo dài điệp khúc này trong một ít phút, sao cho có thể đạt tới một sự hòa hợp thực sự với Thánh Thần.

 

Lạy Chúa Thánh Thần, xin Người ngự đến

Thổi bùng lên ngọn lửa rực yêu thương

Tự nơi  Người, Thánh Thần của lòng mến

Lạy Thánh Thần, xin đến với con luôn.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin Người ngự đến

 

Cũng nên dành một ít phút để cầu nguyện bột phát với Chúa Thánh Thần, xen kẽ bằng lời hát điệp khúc; dĩ nhiên, những người tham dự có thể diễn tả tâm tình bằng ngôn ngữ quen thuộc nhất.

 

Thí dụ:

Lạy Chúa Thánh Thần, xin Người hãy đến

Mở rộng hồn con đón nhận lời Đức Giê-su

Xin giúp con trong ánh sáng của Ngôn từ

Biết sống và sống trung thành trong ơn gọi …

 

2. Đọc và lắng nghe Lời Thiên Chúa

 

Công bố Tin Mừng

Khi anh hướng dẫn ‘lectio’ cảm thấy đã có một bầu khí sẵn sàng cho việc lắng nghe, anh mời một trong những người tham dự công bố Lời Tin Mừng.

 

Có thể đọc những trích đoạn lấy từ sách Tin Mừng:

 

  • Sứ vụ của 72 môn đệ: Lc 10,1-20
  • Sứ vụ vượt qua: Ga 20,19-29
  • Được đầy Thánh Thần để ra đi truyền giáo: Cv 2,1-18

 

Để giúp hiểu bản văn

 

Sứ vụ của 72 môn đệ: Lc 10,1-20

 

1 Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến.2 Người bảo các ông:

3 Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói.4 Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường.5 Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: "Bình an cho nhà này! "6 Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em.7 Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia.8 Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em.9 Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: "Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông."10 Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói:11 "Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên các ông phải biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần."12 Thầy nói cho anh em hay: trong ngày ấy, thành Xơ-đôm còn được xử khoan hồng hơn thành đó." 13 "Khốn cho ngươi, hỡi Kho-ra-din! Khốn cho ngươi, hỡi Bết-xai-đa! Vì nếu các phép lạ đã làm nơi các ngươi mà được làm tại Tia và Xi-đôn, thì từ lâu họ đã mặc áo vải thô, ngồi trên tro tỏ lòng sám hối rồi.14 Vì thế, trong cuộc Phán Xét, Tia và Xi-đôn sẽ được xử khoan hồng hơn các ngươi.15 Còn ngươi nữa, hỡi Ca-phác-na-um, ngươi tưởng sẽ được nâng lên đến tận trời ư? Không, ngươi sẽ phải nhào xuống tận âm phủ! 16"Ai nghe anh em là nghe Thầy; và ai khước từ anh em là khước từ Thầy; mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy."

17 Nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói: "Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con."18 Đức Giê-su bảo các ông: "Thầy đã thấy Xa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống.19 Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em.20 Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời."       

 

Các câu 1-7

Lời Đức Giê-su kêu gọi có giọng long trọng; Người sai các môn đệ được tuyển chọn ra đi như những Sứ giả đi trước Người. Vào lúc này, nhiệm vụ của họ không phải là chuẩn bị một chỗ để cư ngụ, nhưng là việc Chúa đến, trùng hợp với việc Nước Chúa đã gần tới.

Việc ra đi từng hai người một cho phép họ bảo vệ nhau tốt hơn khỏi bất cứ mối nguy hiểm nào, nhưng đặc biệt, việc đó còn làm cho những lời họ nói có giá trị của một lời chứng (cf. Đnl 19,15).

Đức Giê-su dùng hình ảnh mùa gặt, cho thấy cánh đồng rộng lớn của việc truyền giáo khắp thế giới: những người mà các ông phải mang Tin Mừng tới thì đông, tương phản với con số quá ít các nhà loan báo Tin Mừng. Nhưng trên hết, việc truyền giáo là một công việc của Thiên Chúa. Các môn đệ đi vào trong quan điểm của Ngài bằng việc cầu nguyện.

Việc sai đi minh nhiên được diễn tả ra bằng công thức : “Hãy đi!”. Ngay sau đó, có lời loan báo một số phận đầy những hiểm nguy cho các sứ giả. Các nhà truyền giáo không phương tự vệ giống như những con chiên ở giữa sói dữ.

Rồi có một số chỉ thị rất triệt để, đã từng được ban cho Nhóm Mười Hai, được nhắc đến: anh em đừng mang theo ngay cả những cái cần thiết cho cuộc hành trình. Tại nền của một thái độ như thế, là sự hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa, Đấng biết cách giúp đỡ và che chở những kẻ nghèo khó vì Nước Trời. Những người được sai đi thực thi lý tưởng hòa bình, là điều họ muốn biểu lộ và mang theo, được cụ thể hóa qua cách ăn mặc, cách cư xử và qua thái độ sống nghèo khó tự nguyện, qua sự yếu đuối và không được bảo vệ.

Lệnh cấm chào hỏi có thể gây ngạc nhiên, nhưng có lẽ làm như thế để khỏi mất thời gian. Cần thiết là không ai được để mình lơ đễnh quên bổn phận truyền giáo. Chỉ thị này chắc chắn không thể áp dụng theo mặt chữ, và Luca biết điều đó; nhưng nếu ngài ám chỉ tới chúng, thì không chỉ là để ghi giữ một hồi niệm lịch sử, nhưng vì các đòi hỏi triệt để này vẫn còn là một lời mời gọi thường trực đừng đi xuống những thoả hiệp khi thực hiện các bổn phận đã được ký thác.

Ngôi nhà đóng một vai trò quan trọng vào thời đầu truyền giáo. Nó chính là nơi chốn mà nhà truyền giáo sẽ làm việc. Quà tặng hòa bình cánh chung, một dấu chỉ việc Nước Thiên Chúa ngự đến, được thực hiện qua việc ban tặng hòa bình cho nhà Israel.

Đúng là đối với thánh Luca, viễn ảnh đã thay đổi. Ngôi nhà đã trở thành nơi nhà truyền giáo cư ngụ, khi người ấy đi loan báo cho các thị thành. Vậy, việc đón nhận lời chào cho thấy sự sẵn sàng của những người hiếu khách, mở đầu cho việc đón nhận chính Tin Mừng.

Đức Giê-su yêu cầu lập một bàn tròn hiệp thông với bất cứ ai tỏ ra ân cần, không sợ hãi (những lương thực bị cấm vì không thanh sạch) và không đòi hỏi, bằng cách bằng lòng với những gì đã được tặng ban.

 

Các câu 8-12

Thế rồi sự chú ý lại hướng về thành phố như một nơi truyền giáo. Sự tiếp nhận có thể là tích cực hoặc tiêu cực. Trong trường hợp thứ nhất, cần phải thiết lập bàn hiệp thông, chữa lành và rao giảng. Trọng tâm lời rao giảng của Đức Giê-su được diễn ra là: Nước Thiên Chúa đã gần. Đối với Luca, Nước Thiên Chúa đã gần đến vì Đức Giê-su Phục Sinh đã gần. Sự gần kề của Chúa và sự gần kề của Nước Thiên Chúa như là ơn cứu độ được đồng hóa với nhau trong lời loan báo của các nhà truyền giáo. Khi công bố sự gần kề của Nước Thiên Chúa, các sứ giả không loan báo tận thế đã sắp tới, nhưng là quyền năng cứu độ của Nước Thiên Chúa và quyền năng của tình yêu Thiên Chúa đang hiện diện trong hoạt động của các ngài chính là quyền năng của Đấng Phục Sinh.

Trong trường hợp bị từ chối, sẽ có dấu chỉ là sự đổ vỡ và mối đe đọa bị xét xử: những cử chỉ và lời nói ở giữa thành và không bị che giấu hoặc ở ngoài thành: mọi người phải có thể nghe được … và hoán cải.

 

Các câu 13-16

Mố đe dọa bị xét xử còn được tiếp tục qua một lời Đức Giê-su nói với những thành ở quanh biển hồ không chịu hối cải. Đức Giê-su phải đối diện với sự từ chối nhìn nhận Nước Thiên Chúa đã tới, được diễn tả ra trong các việc làm đầy quyền lực của Người. Những thành này tự loại mình ra khỏi biến cố cứu độ chung cuộc bằng sự từ chối của họ. Đây là một lời mời sau hết kêu gọi hoán cải, chứ không phải là một phản ứng trả thù vì sự thất bại trong sứ mạng truyền giáo. Nếu Tyrô và Xiđôn, tiêu biểu cho các thành tội lỗi, đã chứng kiến những phép lạ được thực hiện tại Bếtxaiđa, Khoradin và Caphácnaum, có lẽ chúng đã làm việc sám hối. Nếu Đức Giê-su nhấn mạnh trên giá trị của chứng tá của các phép lạ, là bởi vì chúng là những dấu chỉ được ban cho người Do-thái, để họ nhận ra những hành động cuối cùng của Thiên Chúa nơi hoạt của Đức Giê-su, chứ không phải chỉ là lý do để kinh ngạc hoặc thán phục bản chất lạ lùng của các phép lạ.

Câu cuối cùng (c. 16) lại được nhắc lại, và kết luận, chỉ thị cho các môn đệ. Qua lời công bố của các sứ giả, chính Đức Giê-su tiếp tục nói với nhân loại, và Đức Giê-su là Đấng được Chúa Cha sai đến.

 

Các câu 17-20

Các môn đệ trở về chan hòa niềm vui: ngay cả ma quỷ cũng phải khuất phục các ông. Việc truyền giáo đã được coi chủ yếu như là một cuộc đối đầu với các quyền lực sự dữ của Satan, một cuộc giải phóng nhân loại đang bị nằm dưới thứ quyền lực như thế.

Để đáp lại, Đức Giê-su nhắc tới một trong những viễn ảnh của Người: Người đã nhìn thấy Satan từ trời sa xuống và do đó, quyền lực của nó đã sắp chấm dứt và một thế giới mới đã sắp khai mạc. Satan, mà có lẽ Tác giả Tin Mừng xem như tên cầm đầu ma quỷ, đã mất quyền thống trị. Sức mạnh ban sự sống của Nước Thiên Chúa nhằm chinh phục thế giới đã lan rộng qua lời các sứ giả loan báo và qua uy quyền của các ông trên ma quỷ và các bệnh tật. Kẻ “mạnh hơn” đã chiến thắng kẻ “mạnh”.

Sau đó, Đức Giê-su đã nói tới sự che chở của Thiên Chúa mà các môn đệ được hưởng trong khi đi làm việc tông đồ. Rắn và bò cạp, do sự đau đớn và sự dữ chúng gây ra, có thể tượng trưng cho ma quỷ. Chính là nghĩa này mà phần cuối của câu 19 nhắm tới: quyền năng Thiên Chúa che chở cũng lan tới những biểu hiện gian ác thiên hình vạn trạng mà Satan có thể đổ xuống trên các môn đệ, và các sứ giả phải đương đầu: các ông phải có quyền năng của Thiên Chúa thỉ mới thắng được chúng.

Cuối cùng, Đức Giê-su đáp lại niềm vui của các môn đệ trực tiếp hơn. Quyền lực để xua đuổi ma quỷ và thành công về truyền giáo là những nguồn vui, nhưng chúng không nhất thiết là một bảo đảm cho ơn cứu độ. Có một niềm vui sâu xa hơn và bảo đảm hơn phát xuất từ chỗ ta được Thiên Chúa yêu thương và tuyển chọn (G. Rossé, Vangelo secondo Luca, 112-114).

 

Sứ vụ vượt qua: Ga 20,19-29

 

19 Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em! "20 Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa.21 Người lại nói với các ông: "Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em."22 Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.23 Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ."

24 Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến.25 Các môn đệ khác nói với ông: "Chúng tôi đã được thấy Chúa!" Ông Tô-ma đáp: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin."

26 Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em."27 Rồi Người bảo ông Tô-ma: "Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin."28 Ông Tô-ma thưa Người: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con! "29 Đức Giê-su bảo: "Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin! "

 

Như Giuse Arimathê (19,38), các môn đệ cũng đã để mình bị vây bủa bởi nỗi sợ hãi các nhà lãnh đạo Do-thái. Họ giống như những kẻ tin Đức Giê-su, nhưng lại sợ nói về niềm tin của mình (12,42). Họ còn đang bị dao động bởi những điều đang xảy ra trong những ngày này, nhưng họ đã không bị tản mác để tự lo liệu cho mình, như lời tiên báo của Đức Giê-su (16,32) và như sự kiện bà Mađalêna phải đi gặp Simôn Phêrô và người môn đệ kia dường như muốn gợi ý (20,2). Tin tức về những điều xảy ra vào buổi sáng sớm hôm đó đã lan nhanh giữa các môn đệ và quy tụ họ lại với nhau. Chính vị Mục Tử nhân hậu Phục Sinh đã làm điều đó. Việc Người vượt qua thế gian này về cùng Cha đã cho Người có khả năng hiện diện giữa các môn đệ của Người theo một cách thức mới. Những lần hiện ra chỉ là để khẳng định thực tại đó. Tác giả Tin Mừng đã mô tả các lần hiện ra, ở đây và ở 20,26, như là một biến cố. Thuật ngữ “Đức Giê-su đã đến” muốn nói rằng thưc sự Đức Giê-su đã đi lên cùng Chúa Cha và như vậy, Người đã có thể thực hiện lời Người hứa: “Thầy đi (lên cùng Cha) và Thầy sẽ trở lại” (14,3); “Ít lâu nữa, anh em sẽ không còn trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy” (16,16). Hơn bao giờ hết, Người là “Đấng đang đến”, và hẳn là Người sẽ cứ như thế cho tới ngày tận thế. Người đã đến để hiện diện, như ta có thể đọc trong Mátthêu (18,20), “ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy”. Những gì xảy ra vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần đã cho thấy điều đó.

Đức Giê-su đã đến hiện diện giữa họ. Không hề có mô tả việc Người đi xuyên qua những cánh cửa đóng kín hoặc chuyển động từ cửa tới giữa căn phòng. Bản văn chỉ nói rằng người ta đã thực sự nhìn thấy Người hiện diện: Người đã cho thấy hai bàn tay và cạnh sườn. Là Đấng đã chịu khổ nạn và yêu thương họ đến cùng, nay Người lại đang ở với họ; Người ở giữa họ, cứ như là để cho thấy rằng Người là điểm quy chiếu duy nhất cho cộng đoàn.

Và các môn đệ vui mừng vì được nhìn thấy Chúa. Đây là sự hoàn tất một lời hứa khác: “Thầy sẽ lại gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng” (16,22). Nỗi sợ hãi của họ biến mất; từ nay họ phải biết vui mừng ngay cả khi phải đau khổ vì niềm tin vào Đức Giê-su, Đức Chúa (x. Cv 5,41).

Và thì thứ hai của xen này cũng thế. Đức Giê-su lặp lại lời Người chào, “Bình an cho anh em”, và Người nói thêm: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (20,21). Việc này đã xảy ra đúng như lời cầu nguyện Đức Giê-su đã thưa lên cùng Chúa Cha: “Như Cha đã sai con đến thế gian, Con đã sai họ đến thế gian” (17,18); và như Người đã hứa với các môn đệ: “Thầy đã chọn anh em và cắt cử anh em để anh em ra đi và sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại” (15,16).

Họ đã được sai đi như Người đã được sai đi. Do đó, cùng một mệnh lệnh của Chúa Cha truyền cho Đức Giê-su đè nặng trên vai họ: “để hy sinh mạng sống” (10,18); để yêu thương như Người biết yêu thương cách nào, cho tới cùng (13,1; 15,12-13). Các dấu tích cuộc khổ nạn trên tay và cạnh sườn của Đức Giêsu Phục Sinh hẳn sẽ nhắc các môn đệ nhớ tới điều này ở bất cứ nơi đâu tình yêu tông đồ đi tới.

Tuy nhiên, để có thể làm được nhiệm vụ này, họ phải là những con người mới, được quyền năng Thánh Thần tái tạo. Đức Giê-su đã ban Thánh Thần cho các môn đệ Người rồi trên đồi Sọ, rồi Người đã ban trong tư cách Đấng Phục sinh. Đây là Thần Khí của Người, “hơi thở” của Người. Như Thiên Chúa, vào thuở ban đầu, đã thổi làn hơi sự sống và làm cho con người đầu tiên thành một hữu thể có thể sống, thì Đức Giê-su cũng vậy, Người đã thổi hơi trên họ và làm cho họ trở nên những con người có thể ra đi truyền giáo. Họ được sai đi vào thế giới để quy tụ các con cái Thiên Chúa đang tản mác (11,52), để làm nên một đoàn chiên duy nhất dưới quyền một Chủ chiên duy nhất (10,16). Vậy, họ đón nhận được “quyền tha tội, hoặc kết tội” bất cứ ai không chịu sám hối. Đây là một uy quyền cần thiết cho bất cứ ai phải đi loan báo Tin Mừng và những động từ diễn tả hoạt động này cho thấy sự tiếp nối quyền năng đó, còn thể thụ động cho thấy rằng bất cứ điều gì mà người được uỷ thác đã phê chuẩn, dưới tác động của Thánh Thần, thì cũng sẽ được Thiên Chúa phê chuẩn.

Đấy là một quyền năng nhằm biện phân ra người đã thực sự tách mình khỏi thế giới của tội, để gắn bó với Đức Kitô, với bất cứ kẻ nào đã không muốn gắn bó hoặc đã muốn một lần nữa đứng cách xa Người sau khi đã chấp nhận Người. “Tha tội” có nghĩa là nhìn nhận ai đó như là một môn đệ, phê chuẩn tư cách người đó thuộc về Chúa Kitô, Vị Mục Tử duy nhất. “ Kết tội” nghĩa là tuyên bố bất cứ ai không tiếp nhận Đức Giê-su, Đấng đã sống lại, hoặc ai đã tự mình tách xa Người, nay đang ở lại trong bóng tối. Chân lý rất an ủi là trong thế giới, có việc tha thứ tội lỗi (x. Lc 24,47) và quyền năng tha tội này đã được ban cho loài người (Mt 9,7).

Cuộc gặp gỡ với Tôma xảy ra tám ngày sau đó (20,26), nghĩa là một lần nữa lại xảy ra vào “ngày thứ nhất trong tuần” (20,19), ngày mà Sách Khải huyền (1,10) gọi là “ngày của Chúa”. Cộng đoàn Kitô hữu, cho tới cuối thế kỷ thứ nhất, thường tụ họp vào ngày đó để lắng nghe Lời và cùng nhau bẻ bánh. Gọi là “ngày thứ nhất” vì đó là ngày của sự thành toàn, một sự hưởng nếm trước của ngày chung kết (Thánh Âutinh).

Vậy, vào ngày thứ tám, khi cộng đoàn, vào lúc bắt đầu, tụ họp lại, thì Tôma, người vẫn chưa được nhìn thấy Chúa Phục Sinh, cũng có mặt. Cộng đoàn đã công bố niềm tin của mình vào Đấng Phục Sinh và đã nói với Tôma: “Chúng tôi đã thấy Chúa”. Tôma đã không chia sẻ niềm tin của cộng đoàn, tương tự như Nathanaen đã không chia sẻ niềm tin của Philípphê, khi ông này nói với ông: “Chúng tôi đã gặp Đấng mà sách Luật Môsê và các ngôn sứ nói tới” (1,45).

Tôma cũng muốn có một kinh nghiệm trực tiếp. Có lẽ ông không sai: ông là một trong Nhóm Mười Hai. Bản văn đã nhấn mạnh điều đó cho chúng ta. Đây là điều cũng được nhấn mạnh đối với Giuđa, kẻ phản bội (6,70-71; 13,21). Tuy nhiên, Tôma yêu mến Đức Giê-su, ông sẵn sàng chết cho Người (11,16), nhưng ông không tin rằng Đức Giê-su đã có thể lấy lại sự sống của Người như Người đã nói. Ông tỏ ra hoài nghi trước một sự kiện đòi hỏi một đức tin triệt để vào Người. Và Đức Giê-su, như Người đã làm tám ngày trước đó, đã hiện diện hữu hình giữa các ông. Người đã ở đó rồi. Người không cần đi qua bất cứ chỗ nào để đi vào. Người đã hiện diện rồi khi các môn đệ Người tụ họp lại với nhau nhân danh Người; và ban bình an của Người cho tất cả các ông. Những người khác thì không cần nhìn thấy Người nữ, nhưng Tôma thì cần. Đức Giê-su đã cho ông được thấy Người và muốn thuyết phục ông rằng Người không phải là ma. Những lời Người nói dường như là một thách đố: “Hãy nhìn xem … Hãy chạm đến Thầy …”, nhưng chan hòa sự tốt lành: “Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”. Đúng như đối với bà Maria, được nghe Đức Giê-su gọi tên là đủ (20,16), những lời nói cuối cùng này đủ để Tôma bày tỏ đức tin của ông: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”.

Đây là một niềm tin đã được lặp đi lặp lại qua các thế kỷ. Đây là một cách diễn tả chan hòa niềm tin cá nhân và cộng đoàn. Nó phát sinh từ những sự kiện cụ thể; nó bén rễ sâu vào các biến cố lịch sử. Việc thánh Gioan nhấn mạnh đến các vết thương của Đức Giê-su, các dấu tích cuộc khổ nạn của Người, bảo chúng ta rằng: niềm tin vào thần tính của Đức Giê-su đến từ kinh nghiệm về những gì họ đã nhìn thấy, đã nghe và đụng chạm tới; từ chỗ họ đã thấy Đức Giê-su thực sự yêu thương họ đến cùng. Tất cả những điều này dẫn đưa họ tới chỗ tin vào lời Đức Giê-su: “Thầy từ Chúa Cha mà đến, và Thầy đã đến thế gian, nay Thầy lại bỏ thế gian mà đến cùng Chúa Cha” (16,28); “Tôi và Chúa Cha là một” (10,30). Cuộc sống lại đã xác nhận sự thật của tất cả những lời Người đã nói cho họ và họ tin rằng Người, ngay từ đầu, “đã ở với Thiên Chúa, và là Thiên Chúa” (1,1). Tin Mừng kết thúc với cùng một động tác tin như đã khởi đầu với đức tin.

Trong Tin Mừng Mác-cô (15,39) và Mát-thêu (27,54), chính là dựa trên căn bản là cái chết của Đức Giê-su trên thập giá, mà các Tin Mừng này đi tới chỗ khẳng định về thần tính của Người; trong Tin Mừng Gio-an, điều này xảy ra dựa trên những dấu tích cuộc khổ nạn của Đức Giê-su Phục Sinh. Đức tin và niềm vinh phúc của chúng ta được đặt trên nền tảng là đức tin và kinh nghiệm của các Tông đồ: “Phúc cho những ai không thấy mà tin”. Đây là một niềm vinh phúc, mà sau những khoảnh khắc đầu tiên, các Tộng đồ cũng phải sống (M. Galizzi, Vangelo sacondo Giovanni, 354-356.358-360).

 

Được đầy Thánh Thần để ra đi truyền giáo: Cv 2, 1-18

 

1 Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi,2 bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp.3 Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một.4 Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho.

5 Lúc đó, tại Giê-ru-sa-lem, có những người Do-thái sùng đạo, từ các dân thiên hạ trở về.6 Nghe tiếng ấy, có nhiều người kéo đến. Họ kinh ngạc vì ai nấy đều nghe các ông nói tiếng bản xứ của mình.7 Họ sửng sốt, thán phục và nói: "Những người đang nói đó không phải là người Ga-li-lê cả ư?8 Thế sao mỗi người chúng ta lại nghe họ nói tiếng mẹ đẻ của chúng ta?9 Chúng ta đây, có người là dân Pác-thi-a, Mê-đi, Ê-lam, Mê-xô-pô-ta-mi-a, Giu-đê, Cáp-pa-đô-ki-a, Pon-tô, và A-xi-a,10 có người là dân Phy-ghi-a, Pam-phy-li-a, Ai-cập, và những vùng Li-by-a giáp giới Ky-rê-nê; nào là những người từ Rô-ma đến đây;11 nào là người Do-thái cũng như người đạo theo; nào là người đảo Cơ-rê-ta hay người Ả-rập, vậy mà chúng ta đều nghe họ dùng tiếng nói của chúng ta mà loan báo những kỳ công của Thiên Chúa! "12 Ai nấy đều sửng sốt và phân vân, họ bảo nhau: "Thế nghĩa là gì? "13 Nhưng người khác lại chế nhạo: "Mấy ông này say bứ rồi! "

14 Bấy giờ, ông Phê-rô đứng chung với Nhóm Mười Một lớn tiếng nói với họ rằng: "Thưa anh em miền Giu-đê và tất cả những người đang cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem, xin biết cho điều này, và lắng nghe những lời tôi nói đây.15 Không, những người này không say rượu như anh em nghĩ, vì bây giờ mới là giờ thứ ba.16 Nhưng đó là điều đã được ngôn sứ Giô-en nói đến:17 Thiên Chúa phán: Trong những ngày cuối cùng, Ta sẽ đổ Thần Khí Ta trên hết thảy người phàm, con trai con gái các ngươi sẽ trở thành ngôn sứ, thanh niên sẽ thấy thị kiến, bô lão sẽ được báo mộng.18 Trong những ngày đó, Ta cũng sẽ đổ Thần Khí Ta cả trên tôi nam tớ nữ của Ta, và chúng sẽ trở thành ngôn sứ.

 

Lễ Ngũ Tuần giữ một vai trò hàng đầu trong cấu trúc của tác phẩm Luca. Biến cố này liên kết với và hoàn tất lời Đức Giê-su hứa (x. Lc 24, 48), và cũng được liên kết với Cựu Ước (td., với lời sấm của Gio-en 3,1-5, mà Phêrô đã trích dẫn trong diễn từ của ông), và hoàn tất những chờ đợi. Đồng thời, Lễ Ngũ Tuần cũng là một khởi đầu, là sinh nhật của Giáo Hội và bước đầu trong sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội.

 

Từ một nhóm đến một cộng đoàn cứu độ

Thánh Thần đã biến đổi một nhóm người giam mình trong phòng tiệc ly, để trú ẩn (Cv 1,13), thành những chứng nhân ý thức và can đảm. Nhóm các môn đệ được biến thành một cộng đoàn cứu độ, ý thức rằng Nước Thiên Chúa đã ở giữa họ, ý thức về trách nhiệm của họ trước mặt thế giới. Đây là hai điều căn bản mà dân Thiên Chúa ý thức.

Đối với Thiên Chúa, dường như những tiền đề để Người ban dồi dào Thánh Thần của Người đã là hai điều: cầu nguyệnở với nhau. “Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện” (1,14), “mọi người đều tề tựu ở một nơi” (2,1).

Thánh Thần không được ban cho riêng một số người nào, nhưng là ban cho toàn thể cộng đoàn, đây là ý tưởng mà thánh Phêrô đã diễn tả minh nhiên trong bài diễn từ của ông (2,17), bằng cách dẫn chứng ngôn sứ Gio-en (3,1-5): “Ta sẽ đổ Thần Khí Ta trên hết thảy người phàm”.

Thánh Thần đã mở bung nhóm nhỏ ra và sai họ đi ra. Nhưng luôn luôn là trong một hành trình của sự thông hiệp, chứ không bao giờ là của sự phân tán. Thật vậy, Thánh Thần luôn luôn chỉ theo hướng hiệp thông. Và như thế, nhóm nhỏ rời bỏ phòng tiệc ly để đi vào thế giới mà xây dựng một cộng đoàn to lớn hơn: sau bài diễn từ của Phêrô, Luca nói với chúng ta: “Và hôm ấy đã có thêm khoảng ba ngàn người theo đạo” (2,41).

 

Loan báo ơn cứu độ

Thánh Thần mở các môn đệ ra với thế giới, ban cho họ can đảm đứng vững trước công chúng và tường thuật “những kỳ công của Thiên Chúa” trước mặt mọi người (2,11). Bổn phận tiên quyết của Giáo Hội là công khai và can đảm loan báo, việc loan báo này có một vài đặc điểm.

Đây là một việc loan báo của cộng đoàn. Toàn thể cộng đoàn tự đặt mình trước công chúng và loan báo, chứ không phải là những tiếng nói biệt lập. Khi Phêrô công bố Lời, ông sẽ làm việc đó nhân danh mọi người, chung quanh ông là Nhóm Mười Một (“Phêrô đứng chung với mười một Tông Đồ”: 2, 14).

Đây là một loan báo về câu chuyện Đấng đã chịu đóng đinh và đã trỗi dậy, về con người, những lời nói và những cử chỉ của Đức Giê-su như trung tâm của lời loan báo. Diễn từ của Phêrô trong ngày Lễ Ngũ Tuần cho thấy điều đó rõ ràng: “Thưa đồng bào Israel, xin nghe những lời sau đây. Đức Giêsu Nadarét …” (2,22).

Đây là một lời loan báo đã có sự đồng thuận và cả sự bất đồng, đã gây nên những phản ứng đối lập nhau. Thánh Thần làm cho lời loan báo mang lại hiệu quả, nhưng không cất đi những tranh luận: “Một số người sửng sốt và phân vân … người khác lại cười nhạo” (2,12-13). Những dấu chỉ của Thánh Thần cần có sự mở lòng ra với đức tin thì mới chấp nhận được.

 

Niềm say mê đối với tính phổ quát

Nhưng trên mọi sự việc loan báo phải mang tính phổ quát. Để khắc sâu ý tưởng này, Luca đã nhấn mạnh ba chi tiết khác.

Trước hết, Luca mô tả việc Thánh Thần đến bằng cách sử dụng những biểu tượng cổ điển mà cho đi kèm với các hoạt động của Thiên Chúa: gió, động đất và lửa. Nhưng có một biểu tượng thêm vào: những lưỡi lửa phân tán và đậu lại trên mỗi người hiện diện, đến nỗi họ “bắt đầu nói những tiếng lạ” (2,4). Truyền thống Do-thái đã gợi ý rằng, trên Núi Xion, tiếng nói của Thiên Chúa đã diễn ra bằng nhiều thứ ngôn ngữ, nói chính xác là bảy mươi, sao cho tất cả các dân nước đều hiểu được. Luca đã sử dụng biểu tượng này để nêu bật công việc hợp nhất và tính phổ quát mà Giáo Hội được kêu gọi thực hiện. Tính phổ quát và đại kết là những dấu chỉ tiên quyết cho thấy sự hiện diện của Thần Khí Thiên Chúa.

Tiếp đó, để gợi lên những ý tưởng tương tự, Luca nói dài dòng về đám đông tụ họp lại gồm những người thuộc các quốc tịch khác nhau (2,9-11): những người “từ mọi quốc gia dưới gầm trời” (2,5) đã quy tụ lại.

Cuối cùng, một điểm thứ ba: mỗi người đều nghe họ nói ngôn ngữ của mình (x. 2,8). Điều này là để nói rằng Thánh Thần không có ngôn ngữ riêng, và không bị trói buộc vào ngôn ngữ hoặc nền văn hóa nào, nhưng đón nhận tất cả, Người tỏ mình ra qua mọi sự và làm cho người ta hiểu được Người qua mọi sự. Người ta không cần phải từ bỏ ngôn ngữ của họ, hoặc truyền thống của họ, để trở thành Kitô hữu: sự hợp nhất do Thánh Thần thì sâu xa hơn, và không ép buộc người ta từ bỏ thế gian, trong đó họ đã lớn lên.

Dường như phép lạ ngôn ngữ được Luca nhìn theo hai cách khác nhau: ở 2,4, các Tông Đồ nói những thứ ngôn ngữ khác nhau; ngược lại, ở 2,8, mỗi người nghe họ nói bằng ngôn ngữ của mình.

 

Babel và Lễ Ngũ Tuần

Với việc Thánh Thần đến và cộng đoàn chào đời, một lịch sử mới đã bắt đầu trong lòng nhân loại, một nhân loại đã từng bị tàn phá bởi lịch sử bắt đầu tại Babel. Thật vậy, biểu tượng các ngôn ngữ bị chia rẽ dường như ám chỉ câu truyện Babel.

Trong câu chuyện Tháp Babel (St 11,1-9), ta đọc thấy rằng: con người muốn đạt tới Thiên Chúa bằng những thành tựu của chính họ, chứ không như một quà tặng: “Nào, ta hãy xây cho mình một thành phố và một tháp có đỉnh cao chọc trời. Ta phải làm cho danh ta lẫy lừng, để khỏi bị phân tán khắp mặt đất” (11,4). Đây là cám dỗ muôn đời lôi kéo bất cứ ai muốn xây một thành không cần Thiên Chúa, và tìm kiếm ơn cứu độ dựa vào chính mình, từ dưới đáy, bằng sức riêng, hơn là bằng cách đón nhận một quà tặng từ trên cao ban xuống.

Đây là một mối tương quan méo mó đưa tới chia rẽ: bài tường thuật của Kinh Thánh không chỉ nói tới sự lộn xộn trong ngôn ngữ, nhưng cũng nói tới sự phân tán các dân tộc: “Nào, Ta xuống và làm cho tiếng nói của chúng phải xáo trộn, khiến chúng không ai hiểu được ai nữa. Thế là Đức Chúa phân tán họ từ chỗ đó ra khắp nơi trên mặt đất, và họ phải thôi không xây thành phố nữa” (11,7-8). Đàng sau sự khác biệt về ngôn ngữ, ta có thể thoáng thấy sự đổ vỡ của sự hợp nhất gia đình nhân loại, sự tan rã của nó, mỗi dân tộc đi theo con đường riêng của mình, dân này chống lại dân kia. Khi họ lìa xa Thiên Chúa, các ngẫu tượng xuất hiện và các ngẫu tượng thì chia rẽ và phân hủy họ. Đó là sự phân tán và phân hủy của nhân loại, mỗi người tìm kiếm chính mình và những lợi lộc của riêng mình. Không còn một sự quy chiếu chung về Thiên Chúa hoặc các giá trị được mọi người chấp nhận, nhưng mỗi người điên cuồng tìm kiếm ơn cứu độ riêng cho mình. Kinh Thánh thực rõ ràng và biết rằng sự chia rẽ không chỉ là một vấn đề ngôn ngữ, nhưng là vấn đề các giá trị. Họ không còn hiểu nhau, không phải vì ngôn ngữ khác biệt, nhưng vì các giá trị không còn là của chung nữa.

Những người cùng một ngôn ngữ không còn hiểu được nhau nữa tại Babel. Trái lại, trong ngày Lễ Ngũ Tuần, những người thuộc các ngôn ngữ khác nhau đã gặp nhau và hiểu được nhau: “Thế sao mỗi người chúng ta lại nghe họ nói tiếng mẹ đẻ của chúng ta?”.

Sự hiệp thông lại có thể có được, nhưng đó chỉ là do có Thánh Thần là tác nhân chính. Ở đây, chúng ta gặp một dẫn thiết yếu cho Giáo Hội mọi thời: công việc Thánh Thần đã ký thác cho Giáo Hội là in ấn một chuyển động tái hợp nhất vào trong lịch sử nhân loại bằng cách giúp con người, bằng mọi cách, tìm lại chính họ.

Nhưng vấn đề phải là một sự hợp nhất trong Thánh Thần; không chỉ theo nghĩa Thánh Thần là tác nhân chính (và do đó sự hợp nhất là một quà tặng), nhưng cũng còn theo nghĩa đó là một sự hợp nhất trong tự do và xoay quanh Thiên Chúa. Sự hợp nhất trong Thánh Thần đòi hỏi sự đồng thuận, sự tán thành bên trong. Nó diễn ra trong tự do, chứ không do áp đặt. Và đó là một sự hợp nhất xoay quanh Thiên Chúa, Lời của Người, chứ không xoay quanh bản thân và các ý tưởng riêng của một người nào: “Chúng ta đều nghe họ dùng tiếng nói của chúng ta mà loan báo những kỳ công của Thiên Chúa” (2, 11). Sự hợp nhất là một trong những biểu tượng lớn lao của ơn cứu độ: con người, bị phân tán, thường xuyên chia rẽ nhau, đang mơ ước được tái hợp nhất trong một đại gia đình, gia đình này cuối cùng ngăn chặn được mọi thứ rào cản và những lập trường đối lập. Nhưng có hai cách để tìm đạt được sự hợp nhất này. Cách nóng vội của mọi giấc mộng bá chủ, từ những giấc mộng xa xưa của đế quốc Assiri-Babilon tới những giấc mộng của chủ nghĩa đế quốc hiện đại, những giấc mơ mong quy tụ mọi dân tộc dưới một quyền lực duy nhất bằng sức mạnh và giam hãm họ trong một ý thức hệ duy nhất. Đó là cố gắng của Babel, một thứ ngẫu tượng manh nha, chắc chắn sẽ đi tới thất bại và thậm chí còn sản sinh ra những mâu thuẫn và những chia rẽ trầm trọng hơn. Hoặc cách của Thánh Thần, quy tụ con người lại với nhau bằng cách làm cho họ trở nên anh em trong sự nhận biết Thiên Chúa, trong tự do và tình yêu. Đó là một cộng đoàn huynh đệ được sinh ra bởi lương tâm.

Ơn gọi của Kitô hữu, được Thánh Thần linh hoạt, là hợp nhất những kẻ bị phân tán; không đơn giản chỉ là cố gắng hợp nhất mọi người trong cùng một đức tin (chắc chắn đây là một bổn phận không thể chối cãi và tiên quyết), nhưng cũng còn là giúp cho con người thấy có thể lại tìm đến với nhau, bất kể sự khác biệt về niềm tin, ý thức hệ và văn hóa.

 

Bài diễn từ của Phêrô

“Phêrô đứng dậy … và lớn tiếng nói với họ …”: vị Tông đồ nói lớn tiếng, công khai, và kêu gọi mọi người chú ý. Ta không nói về Thiên Chúa nhỏ giọng, nhưng rõ ràng và lớn tiếng. Không thiếu những cuộc xung đột về văn hóa, xã hội và chính trị trong xã hội Palestine thời đó và nhiều chuyện khác nữa, về tôn giáo lẫn chính trị, có thể thay đổi và phải thay đổi. Tuy nhiên, dường như Phêrô tập trung vào một điểm, điểm chính yếu, gốc rễ của tất cả mọi cách lấy lập trường khác: Nói về Chúa Kitô, về cái chết và sự phục sinh của Người, và chương trình sống mà Người đã chỉ. Vì thế, tức khắc ông đã nói về Đức Giê-su và sứ diệp của Người: phần còn lại sẽ đến sau (B. Maggioni – A. Bagni, Atti degli Apostoli, 53-57).

 

3. Nội tâm hóa và hấp thụ Lời Thiên Chúa

 

Làm vọng lại và ghi nhớ một câu chìa khóa

Sau khi đã nghe trích đoạn Tin Mừng xong, nên có một lúc thinh lặng để mỗi người đọc lại đoạn trích và để cho một lời vang vọng lại trong tâm hồn, lời được khắc ghi trong trí nhớ và được mang đi theo suốt ngày.

Nếu việc “lectio” được thực hiện trong khung cảnh một cuộc tĩnh tâm nửa ngày, thì đến lúc này, những người tham dự nên rút vào nơi thanh vắng để suy nghĩ riêng và nội tâm hóa.

 

Một cách đọc Phan sinh để nghiên cứu sâu hơn

Việc đọc hai bản văn có đề tài nói về “dâng trả”, lấy từ các Bút tích của thánh Phanxicô, được gợi ý cho thời gian mỗi người suy nghĩ riêng, ngõ hầu giải thích Tin Mừng dưới ánh sáng đoàn sủng của thánh Phanxicô.

 

Luật III,10-14

10Tôi khuyên bảo, lưu ý và khuyến khích anh em trong Đức Giê-su Kitô, khi anh em đi ra giữa đời, thì đừng gây sự và cãi cọ, cũng đừng xét đoán ai (x. 2 Tm 2,14; Tt 3,2); 11nhưng hãy tỏ ra dịu dàng, hiền hòa và từ tốn, khả ái và khiêm nhường, nói năng tử tế với hết mọi người sao cho thích hợp. 12Anh em không được đi ngựa, trừ trường hợp rõ ràng cần thiết hoặc bệnh tật. 13Khi vào nhà nào, trước tiên anh em hãy chào: “Chúc nhà này được bình an” (Lc 10,5). 14Và theo thánh Phúc âm, anh em được phép dùng những thức ăn người ta dọn cho (Lc 10,8).

 

Thư gởi các tín hữu 2-3

2Vì tôi là tôi tớ của mọi người, tôi cảm thấy có bổn phận phục vụ mọi người và phân phát những lời thơm tho của Chúa. 3Do đó, trong thâm tâm, tôi nghĩ rằng: vì tôi bệnh tật và hèn yếu, không đích thân đến thăm từng người được, nền tôi dùng lá thư này làm sứ điệp chuyển đến anh chị em những lời của Đức Giê-su Kitô, Ngôi Lời của Chúa Cha, đồng thời là những lời của Chúa Thánh Thần: những lời ấy là “Thánh khí và là sự sống” (Ga 6,64).

 

 

Để giúp dễ dàng nội tâm hóa và hấp thụ Lời Thiên Chúa:

 

  • Cố gắng đọc trích đoạn Tin Mừng dưới ánh sáng của phương pháp luận Em-mau: Tin Mừng nói điều gì cho đời sống của anh trong tư cách là một Anh Em Hèn Mọn, và cho đời sống của cộng đoàn mà anh góp phần hình thành? Anh có cảm nhận Tin Mừng như một lời an ủi có khả năng làm bừng cháy tâm hồn anh không? Tin Mừng có điều gì khiển trách và thúc bách? Tin Mừng thúc đẩy anh đi tới những chọn lựa nào?

 

Trong thời gian suy nghĩ riêng, nên để cho bản thân anh cũng bị thách đố bởi các lời thỉnh cầu mà chàng trai Phanxicô At-xi-di đã làm, những lời phải định hướng cho chúng ta sống và chọn lựa sau này:

 

  • “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?” “Lạy Thiên Chúa tối cao, vinh hiển, xin chiếu sáng tâm hồn mù tối của con”.

 

4. Dâng trả

Các tham dự viên lại họp nhau lại vào khoảng thời gian đã được sắp xếp và bắt đầu lớn tiếng đọc lại từ ngữ hoặc câu Tin Mừng đã đi vào tâm hồn họ. Đoạn, họ có thể bước sang phần chia sẻ những suy nghĩ đã chín mùi trong thinh lặng và trong cầu nguyện cá nhân. Nên kết thúc phần suy tư cá nhân bằng  lời kinh ca ngợi và thỉnh cầu, để giúp cá nhân và cộng đoàn sống cam kết đã nhận ra.

 

Nên kết thúc bằng lời kinh ca ngợi được lấy ra từ : “Bản Luật không sắc dụ”.

 

 

Kinh “Lạy Thiên Chúa toàn năng, vĩnh cửu, công chính và từ bi”

Thư gởi toàn Dòng 50-52

 

Lạy Thiên Chúa toàn năng, vĩnh cửu, công chính và từ bi,

vì vinh quang của Chúa, xin ban cho chúng con là những kẻ khốn nạn,

thực hiện được những điều chúng con biết là Chúa muốn,

và luôn luôn muốn những điều đẹp lòng Chúa,

để nhờ ngọn lửa Thánh linh thanh luyện,

soi sáng và nung nấu tận tâm can,

chúng con có thể bước theo vết chân Con Yêu dấu Chúa,

là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con,

và chỉ nhờ ơn Chúa trợ giúp,

chúng con đến được với Chúa là Thiên Chúa tối cao,

trong Ba Ngôi trọn hảo và trong mối hiệp nhất tuyệt đối,

Chúa là Thiên Chúa toàn năng,

Đấng hằng sống hằng trị,

và hằng được tôn vinh đến muôn thuở muôn đời. Amen.