Tỉnh dòng Phanxicô Việt Nam

Những người mang quà tặng Phúc Âm

Saturday, May 19th

Last update06:51:19 AM GMT

Nước, sự sống ...

Phép rửa. Nói đến phép rửa, một cách bình thường người ta nghĩ ngay đến NƯỚC. Vì thế, kính thưa anh em, với Chúa nhật kết thúc mùa Giáng sinh này, tôi xin chia sẻ vài ý tưởng liên quan đến nước và phép rửa.

1. Từ nước đến sự sống

Nước là một loại vật chất rất phổ biến, nhưng cũng hết sức đặc biệt. Nhìn xung quanh địa cầu, ta chỉ thấy đất và nước. Con người sống trên cạn, tưởng đất là nhiều, nhưng kỳ thực, nước tự do chiếm ¾ bề mặt trái đất với gần 1,4 tỉ m3. Con số đáng gây ngạc nhiên, nhưng lượng nước thấm trong lòng đất còn nhiều hơn: 200 tỉ km3, tức gấp 150 lần lượng nước trên bề mặt! Thậm chí trong đá cũng có nước. Như vậy, tính theo tỉ lệ đất-nước, trái đất phải được gọi là "trái nước" mới đúng. Phải chăng vì thế mà lúc khởi đầu Thần Khí bay là là trên mặt nước (x. St 1,2)?

Sự sống bắt nguồn từ trong lòng nước: ban đầu là việc xuất hiện những giọt abumin, rồi đến các loại tảo, các loài cá nguyên thuỷ... Khi cá bò lên cạn đi tìm nguồn nước khác thì vây của chúng biến thành chân, cánh... tạo nên các loài thú đi trên đất và chim bay trên trời. Để ghi nhớ quá trình từ nước đi ra này, con người và một số loài động vật khác đã "tái hiện" nó trong giai đoạn bào thai 9 tháng 10 ngày nằm ở túi nước ối trong lòng mẹ.

Con người và động vật không ăn đất nhưng uống nước. Con người có thể nhịn ăn trong nhiều ngày, nhưng không thể làm như thế đối với uống nước. Trong cơ thể người và động vật, nước chiếm 95% trọng lượng huyết tương. Nếu xét theo tỉ lệ nước, có lẽ con người xứng đáng là một loài "thuỷ vật". Thực vật cũng thế, không ăn đất mà hút nước từ đất... Như vậy, sự sống đã đi ra từ nước.

2. Từ nước đến văn hoá

Sự sống đã đi ra từ nước. Con người là biểu hiện cao cấp nhất của sự sống với đặc trưng văn hoá khu biệt loài.

Sự có mặt của nước là điều kiện đầu tiên để xác định sự tồn tại của sự sống. Trên sao Hoả hầu như không có nước, nên cũng không thể có sự sống. Đã không có sự sống thì không có con người, và vì vậy cũng không thể có văn hoá.

Bốn trên năm nền văn hoá cổ đại của nhân loại hình thành ở lưu vực các con sông: văn hoá Ai Cập ở lưu vực sông Nile, văn hoá Lưỡng Hà ở lưu vực 2 con sông Tigris và Euphrates, văn hoá Ấn Độ ở lưu vực sông Indus và văn hoá Trung Hoa ở lưu vực sông Hoàng hà. Rõ ràng thiếu nước thì không thể có văn hoá.

Nước là một hiện tượng tự nhiên điển hình, còn văn hoá là một hiện tượng xã hội điển hình. Với người Việt Nam, nước lại càng hết sức quan trọng. Thức ăn chính của dân ta được làm từ cây lúa nước (không phải lúa cạn, lúa mì, kê mạch hay khoai tây...). Từ hạt gạo, người Việt làm ra nhiều thứ: cơm, xôi, cháo, cốm, miến, cơm đồ, cơm lam, cơm tấm, bánh tráng, bánh cuốn, bánh chưng, bánh dày, bánh ít... Bữa ăn người Việt, cơm gạo chiếm 70-80%, vì vậy mà ta gọi là bữa cơm. Còn các loại nước chấm thì vô cùng phong phú: mắm nhỉ, mắm ruốc, mắm  tôm, mắm tôm chua, mắm nêm, mắm cái, mắm rươi, mắm bò hóc, mắm cáy, mắm kho, mắm tép, mắm chao, mắm cá lóc, mắm cá sặc, mắm cá đối, mắm cá chẻm, mắm cá kiếm, mắm cá mề gà v.v.... nói chung rất nhiều nước! thì nhà thuyền, nhà bè, làng chài từ xưa đã rất phổ biến, nhưng nay cũng không hiếm. Đi lại cũng toàn trên sông nước: chủ yếu bằng thuyền. Từ ngữ để gọi phương tiện này rất phong phú: thuyền, đò, ghe, xuồng, bè, máng, phà, tàu... Đến nỗi, khi phương tiện giao thông đã hiện đại thì dấu ấn thuyền bè vẫn không phai: người ta gọi xe khách là xe đò, đi nhờ là quá giang... Người Việt lưu luyến thuyền đò đến mức xây nhà ở của mình mái cong cong như mũi thuyền. Trong lãnh vực tinh thần đời sống Việt, sông nước cũng chiếm vị trí hết sức quan trọng: những hiện tượng liên quan đến nước đều được tôn thờ: như hệ thống Tứ pháp (mây, mưa, sấm, chớp), Tam phủ (Mẫu Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thoải)... Và khi chết thì nói là đi về nơi chín suối.

Điều thú vị hơn cả: người Việt gọi mảnh đất mình ở là đất nước. Nếu cần, chỉ một từ "nước" cũng đủ: nước Việt Nam.

3. Từ nước đến thanh tẩy và phép rửa

Trước thời Đức Giêsu (ĐGS), phép rửa bằng nước rất phổ biến tại Ai Cập, Babilon, Ấn Độ và trong một số tôn giáo gốc Hy Lạp. Phép rửa loại này từng được thực hiện tại bờ sông Nile, sông Euphrates, sông Indus của Ấn Độ... nhằm mục đích thanh tẩy con người khỏi những bất xứng về luân lý hoặc về nghi lễ, đôi khi để tăng sinh lực và mang lại sự bất tử.

Còn tại Ítraen, dìm mình trong nước là cách thức thanh tẩy theo luật dạy đối với người phong hủi (x. Lv 14,8), người ô uế về giới tính (x. Lv 15,16-18), và các đồ vật phải được rửa trước khi dùng (x. Lv 11,32-40). Ngoài những bó buộc theo Luật, các thầy thông luật còn đưa ra một số điều buộc khác như rửa tay, rửa chén bát, rảy nước trên những đồ mua ở chợ về v.v...(x. Mc 7,1-5).

Thời Gioan Tẩy giả, việc thanh tẩy bằng nước tiếp tục được duy trì. Phép rửa ông Gioan làm ở sông Giođan cho những người nghe ông giảng nhằm kêu gọi thống hối ăn năn và xưng thú các tội của mình. Phép rửa này ăn khớp với bối cảnh Do Thái đã có sẵn những cuộc thanh tẩy được thực hiện cộng với những đặc sắc riêng của Gioan.

Nhưng phép rửa của ông Gioan chỉ mới loan báo Nước Thiên Chúa đang đến, còn phép rửa của ĐGS cho thấy Nước đó đã được khai trương nhờ Chúa Thánh Thần (x. Cv 19,1-6). Các sách TM và sách Cv phân biệt phép rửa của Gioan là phép rửa trong nước, còn phép rửa Kitô giáo là phép rửa trong Thánh Thần (x. Mt 3,11; //; Ga 1,33; Cv 1,5; 11,16).

Như thế, phép rửa mà ĐGS muốn Gioan làm cho mình không hề xa lạ trong bối cảnh văn hoá Do Thái giáo lúc bấy giờ. ĐGS đã thực sự nhận bối cảnh văn hoá ấy làm của mình.

4. Từ phép rửa đến sự sống thần linh

Phép rửa Kitô giáo bắt đầu từ ĐGS, Ðấng đã khiêm nhường để ông Gioan Tẩy giả làm phép rửa cho mình tại sông Giođan. Cả ba tác giả Tin Mừng Nhất lãm đều thuật lại biến cố này. Hôm nay, Mc nhấn mạnh về lời chứng của Gioan Tẩy giả và sự lạ xảy ra sau phép rửa: tầng trời xé ra với tiếng từ trời: "Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con."

Thật sự, biến cố này là một cuộc hiển linh thần diệu! Có lẽ vì thế mà Phụng vụ đặt Lễ này trong mùa Hiển linh và để kết thúc mùa Hiển Linh. Đây là một "lễ Hiển linh" đặc biệt: Con Thiên Chúa đã bắt đầu tỏ mình cho Ðức Maria trong lời sứ thần truyền tin, trong điềm mộng báo cho Giuse, rồi sau đó là các mục đồng, các nhà chiêm tinh, ông Simêôn và bà Anna; sau nữa là lúc cậu bé Giêsu lên 12 tuổi đi lễ Ðền thờ ngồi tranh luận giữa nhiều bậc thầy khôn ngoan... Tuy nhiên, "khán giả" của những cuộc hiển linh ấy vẫn còn rất hạn chế. Chính hôm nay đây mới là ngày hiển linh trọng đại nhất: ĐGS đã tỏ mình ra trước đông đảo bàn dân thiên hạ, nơi dòng thác người đổ về sông Giođan xin Gioan làm phép rửa.

Chính nơi phép rửa của ĐGS, ta có mẫu gốc của bí tích rửa tội theo nghĩa là người chịu bí tích này sẽ trở nên con Thiên Chúa và cũng nhận được Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa đã muốn đến với con người một cách rất nhân loại và hữu hình. Chúng ta cảm nghiệm được Ngài qua nhân tính của ĐGS và qua Hội thánh là dấu chỉ của ĐGS. Nhờ đó, Ngài thông ban Thánh Thần là tình yêu và sức mạnh của Thiên Chúa cho ta. Ðó là ý nghĩa của các bí tích: ta gặp gỡ Chúa Kitô và có thể nói rằng ta đụng chạm tới Người.

Nhờ Đức Kitô, Lời Thiên Chúa vang lên trong Hội Thánh và mời gọi con người tin. Lời đó mạc khải cho các tín hữu một kế hoạch cứu độ. Toàn thể tạo thành bao gồm mọi thọ tạo và loài người, cùng với lịch sử quá khứ, hiện tại và tương lai, đều được đưa vào kế hoạch này, để đưa tới sự hoàn thành của chúng ta. Vậy Nước Thiên Chúa được Lời Chúa loan báo, được tiếp nhận trong đức tin, trở nên hiện diện cách hữu hình, cụ thể qua các bí tích.

Như vậy, Phép rửa là bước gia nhập đời sống Kitô hữu, là bí tích thứ nhất của Tân Ước. Nhờ nước của bí tích này, chúng ta đi từ nước thế gian vào Nước Thiên Chúa.

Stephen Nguyễn Xuân Dinh