Tỉnh dòng Phanxicô Việt Nam

Những người mang quà tặng Phúc Âm

Saturday, May 19th

Last update06:51:19 AM GMT

Một số từ ngữ liên hệ tới Phan Sinh

Xin giới thiệu một số từ ngữ liên hệ tới Phan sinh được dịch từ Modern Catholic Dictionary, © Eternal Life, của Linh mục người Mỹ John A. Hardon SJ (1914-2000), và mạng Vietcatholic chuyển thành tự điển trực tuyến (http://vietcatholic.net/NewsDictionary/)

Assisi

Átxidi. Thành phố của thánh Phanxicô ở miền trung nước Ý. Là một trong các trung tâm nhiệt thành nhất về đường thiêng liêng của Kitô giáo. Tại đó, có một nhà thờ nhỏ trong một nhà thờ lớn, đó là nguyện đường Porziuncula được dòng Biển Đức tặng lại cho dòng Phanxicô và được thánh Phanxicô (1181-1226) đích thân trùng tu. Chính nơi đây, thánh nhân nhận được lời mời gọi của Chúa Kitô, và thành lập Dòng Anh Em Hèn Mọn. Cũng tại nơi đây thánh nữ Clara (1194-1253) nhận áo dòng và dòng nữ Clara khó nghèo thành hình. Cũng tại đây vào năm 1216, trong một thị kiến thánh Phanxicô tiếp nhận từ Chúa Kitô "Đại xá Átxidi," vốn trao đại xá cho bất cứ người hành hương nào đủ điều kiện nhận lãnh. Năm 1569 thánh Đức Giáo hoàng Piô V ra lệnh xây cất một nhà thờ lớn tại đó, và Porziuncula trở thành một đền thánh nhỏ mà thôi. Nhà thờ đổi tên thành nhà thờ Đức Mẹ các Thiên thần, và đến năm 1909 được Đức Giáo hoàng Puis X nâng lên hàng vương cung thánh đường với một nhà nguyện giáo hoàng. Trận động đất năm 1832 phá hủy phần lớn phần bên trong nhà thờ, chỉ có mái vòm và nhà nguyện Porziuncula còn nguyên vẹn. Nhà thờ được trùng tu năm 1840. Nhà thờ thánh Đamianô, nơi các bà Clara đầu tiên trú ngụ cho tới năm 1260, được xây dựng một phần từ thế kỷ thứ tám. Nơi đây có phòng hát kinh và nhà ngủ nhỏ, nơi Đức Giáo hoàng đã đến thăm thánh nữ Clara trước khi bà qua đời. Trên bàn thờ trong ngôi nhà nguyện dài bằng đá thô, có bản sao của cây thánh giá mà từ đó Chúa Kitô nói với thánh Phanxicô "Hãy đi sửa lại nhà Ta." Cây thánh giá gốc đã được đem đến vương cung thánh đường mới kính thánh Clara, khi nhà thờ cũ bị bỏ đi. Nhiều thánh tích Phan sinh được để trong vương cung thánh đường này, trong đó có mộ của thánh nữ Clara ở tầng hầm. Còn vương cung thánh đường dâng kính thánh Phanxicô nằm chồng lên một nhà thờ lớn khác, nơi có hầm mộ của "Il Poverello" (Tiểu tử thanh bần, một tên gọi của thánh Phanxicô.) Phần trên của nhà thờ có nhiều bức họa trên tường của danh họa Cimabue. Vương cung thánh đường phía dưới có nhiều ngôi nhà thờ nhỏ kính nhiều vị thánh, được trang trí với nhiều bức họa của các họa sĩ Giotto (1266-1337), Cimabue (1240-1302), và Lorenzetti (thế kỷ 14). Trong gian ngang của nhà thờ là bức họa nổi tiếng có nền mạ vàng, vẽ Đức Mẹ, Chúa Hài nhi, với thánh Phanxicô và thánh Gioan, Đức Trinh nữ đang chỉ tay, nói với Con dấu ái của Ngài về vị tu sĩ thánh thiện. Áo dòng, mũ trùm đầu, và đôi dép cũ của thánh nhân, bộ luật dòng đầu tiên, và lá thư viết tay để chúc lành cho thầy Lêô còn được lưu giữ tại đây.

Basilica

Vương cung thánh đường. Là một nhà thờ lớn, dài, có hình dáng chữ nhật và một hậu cung ở cuối. Lúc đầu tên Vương cung thánh đường được trao cho một số nhà thờ ở Rome, Thánh Địa, và ở những nơi mà đền thờ ngoại giáo được biến thành nhà thờ công giáo. Chiều rộng của Vương cung thánh đường thì không bao giờ lớn hơn một nửa của chiều dài. Thánh đường được các hàng cột chia ra thành một lòng nhà thờ và gian hông chạy chung quanh. Phần trên của lòng nhà thờ được soi sáng bằng các cửa sổ trên mái của gian bên. Các cửa sổ thấp hơn cũng soi sáng cho phần cánh nhà thờ. Bàn thờ được đặt trong hoặc trước hậu cung nối vòm từ lòng nhà thờ và mở ra trong cánh ngang của nhà thờ. Ở cửa chính của vương cung thánh đường là tiền đường, và các tân tòng không được phép vào quá tiền đường này. Vương cung thánh đường thánh Gioan Lateran, Nhà thờ mẹ, là đại vương cung thánh đường của thượng phụ phương Tây, tức Đức Giáo hoàng; vương cung thánh đường thánh Phêrô là dành cho thượng phụ Constantinople; vương cung thánh đường thánh Phaolô ngoại thành là dành cho thượng phụ Alexandria; vương cung thánh đường Đức Bà Cả là dành cho thượng phụ Antioch; vương cung thánh đường thánh Lôrensô ngoại thành là dành cho thượng phụ Jerusalem. Mỗi đại vương cung thánh đường này đều có một bàn thờ dành riêng cho Đức Giáo hoàng sử dụng, và cho các chức sắc được Đức Giáo hoàng cho phép. Bên cạnh vương cung thánh đường là dinh thự cổ dành cho các thượng phụ khi các ngài về Rome. Nhà thờ thánh Phanxicô Átxidi cũng là một đại vương cung thánh đường, với một bàn thờ và ngai dành cho Đức Giáo hoàng. Mười một nhà thờ ở Rome và nhiều nhà thờ khác trên khắp thế giới được Đức Giáo hoàng đặt tên là tiểu vương cung thánh đường, cụ thể là tại Loreto và Padua ở Ý, Lộ Đức ở Pháp, Lough Derg ở Ireland. Các giáo sĩ phục vụ ở các nhà thờ này được hưởng tước hiệu danh dự để chủ tọa trong một số buổi lễ tại đó. (Từ nguyên Latinh basilicus, hoàng gia.)

Christians In Israel

Kitô hữu ở Israel. Phần lớn Kitô hữu ở quốc gia Israel là công giáo Roma và Chính thống giáo Đông phương. Cộng đoàn lớn nhất là ở Nazareth. Đa số họ nói tiếng Ả rập, và tập tục của họ là giống với tập tục của anh em Ả rập chung quanh. Nhiều Dòng tu, phần lớn là công giáo, có đan viện và tu viện tại các địa điểm được tôn kính theo truyền thống công giáo, đặc biệt tại Nazareth, nơi diễn ra trình thuật Truyền tin; Ein Karem, sinh quán của thánh Gioan Tẩy Giả; sông Jordan; biển Galilee; Núi Bát Phúc và Biến Hình; Cana và Capernaum. Tu sĩ Phanxicô chiếm đa số, và họ có Tỉnh Dòng Phanxicô Quản thủ Thánh địa, được Tòa thánh ủy nhiệm cho họ.

Colettines

Dòng Clara cải cách, Dòng thánh Colette. Là dòng Clara được thánh nữ Colette (1381-1447), người vùng Picardy, cải cách. Mười bảy tu viện đã được thành lập khi ngài còn sống. Hiện nay nữ tu Dòng Clara cải cách chủ yếu sống ở Pháp.

Conventuals

Dòng Anh em Hèn mọn Viện Tu. Là một nhánh của Dòng Phanxicô, cổ vũ giảm nhẹ luật sống nghèo khó. Điều khoản chính của Dòng là tài sản có thể được tích trữ và được cộng đoàn giữ. Đường lối của Dòng Anh em Hèn mọn Viện Tu đã được Đức Giáo hoàng Gioan XXII phê chuẩn năm 1332. Lúc ban đầu nhánh Viện Tu này được nhánh Anh em Hèn Mọn Tuân Thủ ủng hộ mạnh mẽ, nhưng rồi hai bên phân ly hẳn kể từ năm 1517.

Custodia Of The Holy Land

Tỉnh Dòng Phanxicô Quản thủ Thánh Địa. Là một Tỉnh Dòng của Dòng Phanxicô, được Tổng tu nghị đầu tiên thành lập năm 1217, và trong năm 1263 chia thành ba Hạt dòng Quản thủ, đó là các Hạt Dòng Syria, Cyprus, và Tarsus. Năm 1291 tất cả các tu viện Dòng đều bị người Hồi giáo phá hủy và nhiều tu sĩ Phanxicô bị sát hại. Được Đức Giáo hoàng Clement VI tái thành lập trong thế kỷ 14, Tỉnh Dòng Quản thủ hiện nay phục vụ các tín hữu tại Thánh Địa, bảo quản một số nơi thánh được giao phó cho Dòng Phanxicô, và trợ giúp khách hành hương đến thăm Palestine.

Custos

Tu sĩ đặc ủy, Tu sĩ quản thủ. Là một bề trên trong Dòng Phanxicô với nhiều công tác khác nhau. Có "custos provinciae" (đặc ủy Tỉnh Dòng), đại diện cho Tỉnh Dòng trong Tổng tu nghị, và "custos regiminis" (Quản thủ Tỉnh Dòng), giám tỉnh của một Tỉnh Dòng nhỏ. Danh từ này trước kia còn có nghĩa là kinh sĩ của một nhà thờ chính tòa, lo chăm sóc các linh hồn; cũng có nghĩa là kho tàng của một nhà thờ hiệp đồng. (Từ nguyên Latinh custos, người bảo quản, người chăm sóc.)

Dies Irae

Bài hát Dies Irae, bài hát "Ngày phẫn nộ". Ca tiếp liên bắt đầu với chữ "Ngày phẫn nộ" hát trong thánh lễ cầu hồn. Lời bài hát được viết vào thế kỷ 13 do Thomas Celano, nhà viết tiểu sử của thánh Phanxicô Átxidi; có hàng trăm bản dịch trong nhiều ngôn ngữ. Nhưng chưa có sách ghi nhận tác giả hoặc nguồn gốc của giai điệu bình ca bài hát. Trong số các nhạc sĩ phổ nhạc cho bài thơ này có Cherubini, Verdi, Bruneau, Gounod, Berlioz, và Mozart.

Discalced

Đi chân đất. Là từ ngữ dùng cho tu sĩ các dòng nam và dòng nữ không mang giày, mà đi chân đất, như Dòng Cát Minh Đi Chân đất. Dòng Âu Tinh, và Tu sĩ Dòng Thánh Giá. Tập tục này được thánh Phanxicô Átxidi và thánh nữ Clara đưa vào Tây Phương như một hình thức khổ hạnh. (Từ nguyên Latinh discalceatus, chân đất.)

Fioretti

Fioretti, Sách "Những Bông Hoa Nhỏ", Tiểu Kỳ Hoa. Là cuốn "Nhưng bông hoa nhỏ của thánh Phanxicô", một sưu tập cổ điển các truyện kể và truyền thuyết về thánh Phanxicô Átxidi (1181-1226) và các bạn thời đầu. Sách được viết bằng tiếng Ý vùng Tuscany vào khoảng năm 1322, và có thể được dịch từ các nguồn Latinh trước đó, trong đó có Hạnh thánh Phanxicô và các bạn của ngài.

Fragrant Odors

Hương thơm, danh thơm đức hạnh. Đôi khi được gọi là hương thơm thánh thiện, chúng là mùi thơm như nước hoa, toát ra từ thân thể của các thánh khi các vị còn sống cũng như sau khi qua đời. Chúng được xem là biểu tượng của danh thơm đức hạnh lạ thường. Vì vậy năm dấu thánh của thánh Phanxicô Átxidi được cho là thỉnh thoảng tiết ra hương thơm dìu dịu. Khi thánh nữ Theresa qua đời năm 1582, nước tắm cho thân thể thánh nữ trở thành nước có mùi thơm đáng chú ý. Suốt trong chín tháng, một mùi hương nhiệm mầu tỏa ra từ ngôi mộ của ngài. Cả hai hiện tượng này đã được nghiên cứu cẩn thận trong tiến trình điều tra phong thánh cho ngài. Trong các điều kiện Giáo hội đặt ra để xác minh hiện tượng là liệu có phép lạ thể lý nào liên quan đến việc tỏa mùi hương hay không.

Franciscan Crown

Chuỗi Phanxicô, Chuỗi bảy sự vui Đức Mẹ. Là chuỗi bảy chục tưởng nhớ bảy sự vui của Đức Bà, cụ thể là Truyền tin cho Đức Bà, Đức Bà đi viếng bà Elizabeth, Sinh Chúa Kitô, Ba Đạo sĩ thờ lạy Chúa, Tìm Chúa Giêsu trong Đền thờ, Chúa Kitô Phục sinh hiện ra với Đức Bà, Đức Bà hồn xác lên trời và tôn làm Nữ vương Trời Đất. Được phổ biến trong Dòng Phanxicô vào năm 1422, chuỗi nguyên thủy có bảy Kinh Lạy Cha, 70 Kinh Kính Mừng. Sau đó người ta thêm vào hai Kinh Kính mừng nữa, thành 72 Kinh Kính Mừng, và đây là tuổi được suy đoán của Đức Mẹ khi Ngài về trời.

Fraticelli

Tu sĩ Dòng Hành khất, Nhánh Dòng Phanxicô. Trong cách dùng thông thường, từ ngữ này quy chiếu đến mọi thành viên của các dòng nam, nhất là các dòng hành khất và ẩn sĩ. Nhưng trong lịch sử Giáo hội, nó có nghĩa là các nhánh tách ra khỏi Dòng Phanxicô trong thế kỷ 14 và 15, mà họ cho là đã thỏa hiệp với nhau về tinh thần nghèo khó nguyên thủy của thánh Phanxicô. (Từ nguyên Ý fraticelli, anh em nhỏ, tiểu đệ.)

Friar

Sư huynh, thầy, đệ, tu sĩ, anh, tu huynh. Nguyên thủy là hình thức thưa gửi nói chung giữa các tín hữu Kitô giáo, như được thấy rõ ràng trong các chữ "anh, em" và "anh em" trong Tân Ước. Sau đó từ ngữ được dành riêng cho các thành viên Dòng tu, và sau cùng, kể từ thế kỷ 13, nó quy chiếu đến thành viên các Dòng Hành khất, chủ yếu là Dòng Phanxicô và Dòng Đaminh, mặc dầu còn mở rộng cho các Dòng chiêm niệm. Tuy nhiên, nói một cách chặt chẽ hơn, một tu sĩ khác với một đan sĩ ở chỗ tu sĩ làm tác vụ ngoài tu viện, trong khi theo truyền thống, cầu nguyện và lao động của một đan sĩ được thực hiện bên trong đan viện mà đan sĩ ấy đang ở. (Từ nguyên Pháp cổ frère, freire, anh, em; Latin frater, anh, em.)

Friars Minor

Dòng Anh Em Hèn Mọn (OFM). Là một nhánh Dòng Nhất của thánh Phanxicô, thường được gọi là Dòng Phanxicô, được thánh Phanxicô Átxidi (1181-1226) thành lập và chính thức được Tòa thánh phê chuẩn năm 1209. Năm 1517 tất cả các nhóm Cải cách ban đầu, như nhóm Clareni và nhóm Coletani, hiệp nhất với nhau thành một nhánh, và từ đó được gọi là Dòng Anh Em Hèn Mọn của thánh Phanxicô, hoặc Dòng Anh Em Hèn Mọn Nhánh Tuân Thủ. Năm 1897, Đức Giáo hoàng Lêô XIII chấp thuận cho một số nhóm khác, như nhóm Reformati (Cải cách), nhóm Recollect (Cải tổ), và nhóm Đi Chân Đất gia nhập vào Dòng Anh Em Hèn Mọn.

Friary

Huynh đoàn, tu viện. Là một cộng đoàn các tu sĩ; cũng là tu viện mà họ sinh sống. Từ ngữ được áp dụng đặc biệt cho Dòng Phanxicô, Dòng Đaminh, Dòng Cát Minh, Dòng Âu Tinh và Dòng Tôi Tớ Đức Mẹ.

Guardian

Giám hộ, Thủ viện, Bề trên nhà. Trong luật Giáo hội, là một người chính thức chịu trách nhiệm chăm sóc một người không thể điều khiển công việc của mình được, chẳng hạn một trẻ nhỏ trong thời vị thành niên hoặc một người khuyết tật tâm thần hay tình cảm. Hiện nay Giáo hội cho phép các giáo sĩ hay tu sĩ, trong trường hợp đặc biệt, có thể làm giám hộ. Bề trên một tu viện dòng Phanxicô cũng được gọi là thủ viện.

Hermitage

Ẩn viện. Là nơi ở của một thầy ẩn tu, cho phép thầy hoàn toàn được sống riêng tư để cầu nguyện, và trong trường hợp thầy là linh mục, được cử hành Thánh lễ. Trong một số trường hợp, các ẩn viện quy tụ chung quanh một nhà thờ trung tâm, hay một tu viện trung tâm, nơi các ẩn sĩ gặp nhau theo định kỳ, để cử hành việc phụng vụ và sinh hoạt cộng đoàn. Thánh Phanxicô Átxidi đã viết một Luật sống trong ẩn viện. Trong đoạn mở đầu, ngài viết: "Những anh em nào muốn sống đời tu hành trong các ẩn viện, thì hãy ở với nhau thành nhóm ba hay bốn người là nhiều nhất. Trong số đó, hai người sẽ làm mẹ và có hai hay ít nhất một người làm con. Hai người mẹ hãy sống như chị Mátta; hai người con hãy sống như chị Maria (x. Lc 10: 38-42)."

Joys Of The Blessed Virgin Mary

Thất hỷ Thánh Mẫu, Bảy niềm vui của Đức Trinh nữ Maria. Là việc đạo đức để ghi nhớ các niềm vui đặc biệt trong cuộc đời Đức Mẹ Maria. Số niềm vui là năm hoặc bảy, đôi khi là mười hai, nhưng các niềm vui được kỷ niệm nhiều nhất thời nay là việc Truyền tin cho Đức Mẹ, Đức Mẹ đi viếng, Đức Mẹ sinh Chúa Giêsu, Chúa Giêsu tỏ mình, tìm được Chúa Giêsu trong Đền thánh, Chúa sống lại và Đức Mẹ Lên Trời. Dòng Phanxicô cử hành các niềm vui của Đức Trinh Nữ với một lễ đặc biệt, và cũng phổ biến việc đạo đức Chuỗi bảy sự vui của Đức Mẹ. Việc đạo đức này là rất phổ biến ở nước Anh Công giáo cổ, và ngày nay một lễ vào ngày thứ Hai sau Chủ nhật thứ nhất sau Phục Sinh cử hành bảy sự vui của Đức Mẹ ở Bồ Đào Nha và Brazil.

Las Lajas, Our Lady Of

Đền thánh Đức Mẹ Las Lajas. Là đền thánh dâng kính Đức Mẹ ở Colombia, trong đó có một tượng ảnh lớn của Đức Trinh Nữ và Chúa Hài Nhi được vẽ trên một thanh sa thạch, được tìm thấy trong một hang động trên dãy núi Andes. Địa điểm được phát hiện như là nơi chữa lành bệnh cho nhiều người dân Da đỏ sống gần đó; thậm chí con cái họ bị chết cũng được cho sống lại nữa. Trên cánh tay phải của Đức Mẹ có treo một chuỗi Mân Côi, trong khi hai bên Đức Mẹ có hai người đứng, mà người ta nghĩ rằng đó là thánh Phanxicô và thánh Đa Minh. Vô số phép lạ được chứng thực đã thu hút khoảng 150.000 người mỗi năm đến ngôi nhà thờ nằm trên đỉnh cao nhất của dãy núi gần đó, và việc lên tới nhà thờ là thật khó khăn vất vả.

Little Flowers Of St. Francis, The

Sách Tiểu Kỳ Hoa, còn gọi là Fioretti. Là một sưu tập các truyện kể về cuộc đời thánh Phanxicô Átxidi và các bạn của ngài. Sách này không phải là của một tác giả duy nhất, nhưng ít nhất một phần được gán cho tác giả là một linh mục Giám tỉnh Dòng Anh Em Hèn Mọn, đó là tu sĩ Ugolino Brunforte. Thủ bản đầu tiên ghi năm 1390 hiện được lưu giữ ở Berlin, Đức. Xuất bản lần đầu năm 1476 tại Vicenza, bản dịch tiếng Ý được phổ biến rộng rãi và được xem là một kiệt tác của văn chương Ý. Sách này có nhiều bản dịch tiếng Anh.

Maastricht

Đền thánh Maastricht. Là đền thánh dâng kính "Đức Mẹ Sao Biển," gần biên giới nước Bỉ ở miền đông nam Hà Lan, gần sông Meuse. Đền thánh có tượng gỗ cao 1,2m là tượng Đức Mẹ bồng ẵm Chúa Hài Nhi bên tay trái. Chúa nghiêng người vào vai trái Đức Mẹ khi Ngài cố vươn tới cánh hoa, mà Đức Mẹ đang giữ trong lọ hoa. Cả hai đều đội vương miện vàng. Lịch sử của đền thánh là vào năm 1400 khi một tập sinh đem tượng như là gia sản của mình vào Dòng Phanxicô ở Maastricht. Kể từ đó, đền thánh đáng quý mến nhất ở Hà Lan trở thành đối tượng cho mọi thứ chống đối. Nó tượng trưng cho các cuộc đấu tranh tôn giáo của người dân Hà Lan, khi họ đến đền thánh hàng ngàn người mỗi ngày đêm để tỏ lòng tôn kính "Maris Stella" (Sao Biển.)

Major Basilica

Vương cung thánh đường Cả. Là một tước hiệu vinh dự mà Tòa Thánh ban cho một số các nhà thờ nổi tiếng trên thế giới, cụ thể là các vương cung thánh đường có tòa thượng phụ ở Roma. Trong số các vương cung thánh đường Cả bên ngoài Roma, nổi tiếng nhất là Vương cung thánh đường Đức Bà Thiên thần ở Átxidi, Ý.

Mendicant Friars

Tu sĩ Dòng Hành Khất. Là thành viên của các Hội Dòng cấm có tài sản riêng trong cộng đoàn, do đó họ cần lao động hoặc đi xin ăn để sống, và không bị ràng buộc vào một cộng đoàn bởi lời khấn sống cố định một chỗ lâu dài. Thuở đầu tên gọi này là dành cho Dòng Phanxicô và Dòng Đaminh. Sau đó tên và quyền lợi được mở rộng cho Dòng Cát Minh (năm 1245), các thầy ẩn tu của thánh Âu Tinh (năm 1256), và Dòng Tôi tớ Đức Mẹ (năm 1424). Một thời gian sau, các Dòng khác cũng nhận danh hiệu này. Theo luật Giáo hội, tu sĩ Dòng Hành khất được phép đi khất thực trong khu vực có tu viện của mình, khi được phép của bề trên Dòng. Ở các nơi khác, họ phải xin phép của Giám mục địa phương. (Từ nguyên Latinh mendicus, ăn mày; và người tàn tật, người đáng thương.)

Observantines

Anh em Tuân thủ. Là các tu sĩ Phanxicô tuyên hứa trung thành giữ Luật Dòng của thánh Phanxicô, đã được Đức Giáo hoàng Honorius III phê chuẩn năm 1223. Phong trào Tuân thủ khởi đầu tại Ý năm 1368 và làm phát sinh nhiều nhánh bán tự trị, chẳng hạn nhánh Tu sĩ cải tổ và nhánh Alcantarine, nhưng vẫn tùng phục Vị Tổng Phục vụ của Dòng Anh Em Hèn Mọn. Năm 1898, Đức Giáo hoàng Lêô XIII trong văn kiện Felicitate Quadam đã xóa bỏ mọi sự phân biệt, kể cả tên gọi Anh em Tuân thủ, và trao cho Dòng Phanxicô tên gọi nguyên thủy là Dòng Anh Em Hèn Mọn.

Pillar, The Holy

Cột Thánh. Là chiếc cột nơi Chúa chúng ta bị đánh roi nhiều trong cuộc Khổ nạn. Một phần của chiếc cột bằng đá porphia nguyên thủy được bảo tồn tại nhà thờ thánh Praxedes ở Roma, sau khi chiếc cột được đưa từ Jerusalem về khoảng năm 1223. Phần còn lại của thánh tích lớn này được gìn giữ ở nhà nguyện Phanxicô trong Nhà thờ Thánh Mộ ở Jerusalem.

Pointe Aux Trembles

Đền thánh Pointe Aux Trembles. Là đền thánh quốc gia Canada dâng kính Thánh Tâm được thành lập năm 1866, một chi nhánh của Đền thánh Thánh Tâm tại Montmartre ở Paris. Các tu sĩ quản lý đền thánh lần lượt là tu sĩ Phanxicô, Đaminh và Dòng Thánh Thể, và linh mục Gioan của Dòng này khởi xướng và tích cực hoạt động cho Cuộc Thập tự chinh Chuộc tội, vốn đem lại cho đền thánh tên gọi phụ hiện nay là "Nhà nguyện Chuộc Tội." Năm 1921 tu sĩ Dòng Phanxicô Lúp Vuông được yêu cầu chăm sóc Đền thánh; họ xây dựng một tu viện bên cạnh và tiếp tục Cuộc Thập tự chinh. Số lượng người hành hương không ngừng gia tăng đến nỗi hiện nay hàng ngàn người tham gia vào công tác nổi bật của đền thánh, đó là đi Đường Thánh giá công cộng, như một cách thức thích hợp nhất để chuộc tội với Thánh Tâm bị thương tích của Chúa Kitô. Tổng phụng hội Cầu nguyện và Sám hối có trụ sở chính tại Pointe aux Trembles, và tuần Cửu nhật chuẩn bị cho Lễ Thánh Tâm Chúa được trực tiếp truyền thanh từ đây đi khắp Canada và Mỹ.

Poor Clares

Nữ tu Dòng thánh Clara nghèo khó. Là một cộng đoàn nữ đan tu do thánh nữ Clara (1194-1253) thành lập theo cảm hứng lối sống của thánh Phanxicô Átxidi (Assisi). Lúc đầu thánh nhân đưa Clara đến sống ở một tu viện Biển Đức, nhưng sau đó, khi có nhiều người nữ đi theo lối sống của Clara, hai vị thành lập một cộng đoàn theo đường hướng Phan sinh. Clara trở thành nữ bề trên đầu tiên (năm 1215) và ngài giữ chức vụ này cho đến chết. Nhiều nhà con được thành lập khi Clara còn sống, tại Ý, Pháp và Đức. Duy trì tinh thần thánh Phanxicô, sự khắc khổ của các Chị Clara Nghèo khó là nghiêm ngặt nhất trong số các Dòng nữ cho đến thời ấy. Một số nhà nhánh được miễn khỏi luật nguyên thủy về nghèo khó tuyệt đối, không chỉ cho các cá nhân, mà còn cho cả cộng đoàn. Nhưng cộng đoàn San Damiano tại Átxidi, cùng các cộng đoàn ở Perugia và Florence, được Đức Giáo hoàng Gregory IX ban cho "đặc ân nghèo khó", giúp họ sống tinh thần nguyên thủy của Dòng. Trong những năm kế tiếp, các sửa đổi và cải cách đã phân chia Dòng Clara Nghèo khó thành nhiều tu hội khác nhau, trong đó có Dòng Urbano và Dòng thánh Colette. Dòng nhấn mạnh vào sự hãm mình, chầu Thánh thể, và hát Thần tụng.

Porziuncula

Nhà thờ Porziuncula. Ban đầu đây là một nhà thờ rất nhỏ tại Átxidi (Assisi, Ý), nơi thánh Phanxicô nhận được ơn gọi từ Chúa ngày 24-2-1208. Phanxicô biến nơi đây thành trụ sở của Dòng ngài cho đến hết đời mình. Thị trấn được lấy tên đặt cho Đại xá Porziuncula, và hiện nay người ta có thể hưởng đại xá này bằng cách đến viếng một số nhà thờ (nhất là nhà thờ Dòng Phanxicô) ngày 2-8, hoặc ngày Chủ nhật sau đó.

Praises Of God

Kinh ngợi khen Thiên Chúa Tối cao của thánh Phanxicô Átxidi. Là trang giấy gốc ghi các lời ngợi khen Thiên Chúa được lưu giữ hiện nay trong một hòm thánh tích ở Vương cung thánh đường thánh Phanxicô tại Átxidi (Assisi, Ý) Các lời ngợi khen này minh họa đỉnh cao thần nghiệm mà thánh Phanxicô đã đạt được, vào lúc Ngài được ghi Năm dấu thánh của Chúa. Kinh này đọc: "Ngài là Thiên Chúa thánh thiện, duy mình Ngài làm nên những kỳ công (Tv 76,15)./ Ngài mạnh mẽ, Ngài vĩ đại (x. Tv 85,10), Ngài cao cả, Ngài là Vua toàn năng, lạy Cha chí thánh (Ga 17,11), Ngài là Vua thống trị trời đất (x. Mt 11,25)./ Ngài là Ba Ngôi và là Một Thiên Chúa, là Thần trên mọi chư thần (x. Tv 135,2). Ngài là sự thiện, làm phát sinh mọi sự thiện, là sự thiện tuyệt đỉnh, là Thiên Chúa hằng sống và chân thật (x. 1Tx 1,9)./ Ngài là tình yêu, là bác ái; Ngài là hiện thân của sự khôn ngoan, của đức khiêm nhường và của  lòng nhẫn nại (Tv 70,5). Ngài tuyệt đẹp, Ngài nhân từ, Ngài là nơi nương tựa an toàn, Ngài là chốn nghỉ ngơi, Ngài là niềm vui, Ngài là niềm hy vọng và hân hoan, Ngài là sự công chính và tiết độ. Ngài là tất cả kho tàng sung mãn của chúng con./ Ngài tuyệt đẹp, Ngài nhân từ, Ngài là Đấng che chở (Tv 30,5), gìn giữ và bảo vệ chúng con, Ngài là sức mạnh, Ngài là sự mát mẻ. Chúng con trông cậy Ngài./ Chúng con tin tưởng Ngài, Chúng con yêu mến Ngài. Ngài là tất cả sự dịu ngọt và là sự sống đời đời của chúng con, Ngài là Đức Chúa lớn lao và kỳ diệu là Thiên Chúa toàn năng, là Đấng Cứu tinh nhân hậu."

Preacher Apostolic

Nhà thuyết giáo phủ Giáo hoàng. Là một giám chức của Văn phòng Quản gia Giáo hoàng, có nhiệm vụ là giảng Lời Chúa cho Đức Giáo hoàng và giáo triều, bốn lần trong mùa Vọng và mỗi tuần một lần trong mùa Chay. Một giáo sĩ thuộc Dòng Phanxicô Lúp Dài đã giữ chức vụ này từ năm 1753, khi Đức Giáo hoàng Biển Đức XIV ban chức vụ này cho Dòng.

Quest

Xin bố thí, khất thực. Là việc đi xin bố thí để sinh sống theo luật Dòng, của tu sĩ Dòng Anh Em Hèn Mọn, Dòng Anh Em Hèn Mọn Lúp Vuông, Nữ tu Dòng thánh Clara Nghèo Khó; và tu sĩ một số Dòng như Dòng Tiểu Muội Bần Cùng, họ đi xin lương thực và quần áo cho những người được họ chăm sóc.

Psalter Of Mary

Psalterium Marianum, Sách Thánh vịnh Đức Maria, Thánh ca về Đức Mẹ Maria. Là một tuyển tập các Thánh vịnh và Thánh ca về Đức Trinh Nữ Maria. Tuyển tập này do thánh Bonaventure (1221-74) thực hiện. Kinh chuỗi Mân côi, do 150 kinh Kính Mừng của chuỗi là thích đáng với 150 Thánh vịnh, đôi khi được gọi là sách Thánh vịnh Đức Maria.

Seraphic Blessing

Lời chúc lành cho Anh Lêô. Là lời chúc lành do thánh Phanxicô Átxidi viết ra theo lời xin của Tu sĩ Leo ở Núi Alverna năm 1224. Lời chúc lành là như sau: "Xin Chúa chúc lành và gìn giữ con. Xin Người tỏ lộ dung nhan Người cho con và thương xót con. Xin Người ngoảnh mặt lại nhìn con và ban cho con được bình an (Ds 6,24-26). Xin Chúa chúc lành cho con, hỡi Lêô yêu quý." Lời chúc này dựa vào lời của Đức Chúa nói với ông Moses (Mô-sê, Ds 6:22-27), và hiện nay là một trong các chúc lành trọng thể trong Mùa Thường niên, mà linh mục có thể ban vào cuối Thánh lễ.

Spirituals

Nhóm duy tinh thần. Từ ngữ áp dụng cho nhiều nhóm Anh Em Hèn Mọn, chống đối việc sửa đổi bản luật nguyên thủy của thánh Phanxicô, nhất là trong việc tuân giữ đức nghèo ở các thế kỷ 13 và 14. Họ mong muốn giữ luật trong sự nghiêm nhặt thuở đầu, nhưng đã thất bại trong mục tiêu và qua sai lầm của các người lãnh đạo, họ bị dẫn tới lạc giáo và ly giáo. Sự nhiệt tình bị lạc lối của họ, khi cuối cùng họ trở về tuân phục hoàn toàn quyền bính của Đức Giáo hoàng, đã giúp thanh luyện Dòng Phanxicô và hiệp nhất các nhánh Anh Em Hèn Mọn.

Stabat Mater

Stabat Mater, Bài hát "Mẹ sầu bi đứng bên Thánh giá" thường được gán cho tác giả là Jacopone da Todi (1230-1306), thi sĩ Dòng Phanxicô. Bài ca này dần dà được sử dụng trong phụng vụ cuối thời Trung Cổ, và từ năm 1727 là một phần của Phụng vụ Thánh Thể và Thần tụng cho lễ Đức Mẹ Sầu Bi. Lịch sử của bài hát trong âm nhạc là thuộc thời kỳ cận đại. Một bài hát khác, mang tên Stabat Mater Speciosa (Mẹ xinh đẹp đứng đó), dường như mô phỏng theo bài Stabat Mater Dolorosa (Mẹ sầu bi đứng bên Thánh giá), mô tả các sầu bi của Đức Maria tại Bethlehem (Be-lem), nhưng không bao giờ trở nên một phần của phụng vụ.

Tabgha

Tabgha, làng Tabgha. Một địa điểm cách Capernaum (Ca-phác-na-um), Palestine, khoảng hai dặm (3,2km), là nơi hành hương, vì tại đó xưa kia Chúa Kitô đã làm phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều. Một vương cung thánh đường cổ xây dựng gần nơi ấy, trong đó có một tranh khảm lớn vẽ hình hai con cá và ba tấm bánh trong một cái giỏ. Cùng với một tu sĩ Dòng Phanxicô và một linh mục Chính thống giáo, Đức Giáo hoàng Phaolô VI năm 1964, trên đường đến Biển Galilee (Ga-li-lê), đã ghé thăm Tabgha để nhìn xem tranh khảm trên sàn nhà và chúc lành cho đền thánh thiêng liêng.

Thaumaturgus

Thaumaturgus, Người làm phép lạ. Một tước hiệu ban cho một số thánh nhân nổi tiếng, vì đã làm nhiều phép lạ khi còn sống, hoặc sau khi đã qua đời. Trong số các thánh này, có thánh Gregory (213-70), các thánh Cosmas và Damian (thế kỷ thứ ba), thánh Nicholas (thế kỷ thứ tư), và thánh Antôn thành Pađua (1195-1231). (Từ nguyên Latinh thaumaturgus; từ chữ Hi Lạp thaumatourgos: thauma, sự lạ + -ergos, "làm," từ chữ ergon, làm việc.)

Third Orders

Dòng Ba. Là các hội của giáo dân do Dòng tu thành lập. Xuất hiện từ thế kỷ 13, các hội này có thể là tại thế hay tại viện. Nếu là tại thế, họ là các giáo dân, và thường gọi là người Dòng ba. Nếu là tại viện, họ là tu sĩ, bị ràng buộc bởi các lời khấn công khai và sống trong cộng đoàn. Nguyên thủy các Dòng Ba là Dòng Ba Phanxicô hay Dòng Ba Đa Minh, nhưng kể từ đó Tòa Thánh đã chấp thuận nhiều Dòng Ba khác, cả tại thế và tại viện, chẳng hạn Dòng ba Âu Tinh, Dòng Ba Cát Minh, Dòng Ba Tôi Tớ Đức Mẹ và Dòng Ba Dòng Chúa Ba Ngôi.

Visitation, Feast Of The

Lễ Đức Mẹ Đi Viếng. Là lễ kính nhớ Đức Mẹ Maria đi viếng người chị họ, thánh Elizabeth. Lễ này được mừng lần đầu tiên bởi Dòng Phanxicô vào năm 1263 theo sáng kiến của thánh Bonaventure. Trong cuộc Đại ly khai Tây phương, lễ này được mở rộng cho toàn Giáo hội bởi các Đức Giáo hoàng Urban VI (trị vì năm 1378-89) và Boniface IX (trị vì năm 1389-1404) nhằm chấm dứt sự ly khai. Ngày nay lễ này được mừng vào ngày 31-5.

 

Nguyễn Trọng Đa