Tất cả những người đang khao khát trở về với thiên nhiên hoặc đang băn khoăn lo lắng cho sự toàn vẹn của vũ trụ này thì không thể không nhìn ngắm thánh Phanxicô như một khuôn mẫu hay như một gợi hứng cho việc bảo vệ môi sinh.
Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II đã chẳng tuyên bố thánh Phanxicô là vị bổn mạng của các nhà môi sinh vào đầu triều đại của ngài ngày 29.11.1979 đó sao? Và khi tổ chức cuộc gặp gỡ các nhà lãnh đạo các tôn giáo vào ngày 27.10.1986 tại Assisi, quê hương của thánh Phanxicô, Đức Giáo hoàng lại một lần nữa nêu bật thánh Phanxicô như là con người của hòa bình và tình huynh đệ phổ quát.
Chúng ta hãy lướt qua một vài đoạn quan trọng trong các truyện ký tiên khởi để nhìn xem mối tương quan giữa Phanxicô với các tạo vật và sau đó cố gắng tìm hiểu chiều sâu của mối tương quan ấy.
- MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA PHANXICÔ VỚI TẠO VẬT
Với sự trợ giúp của các sử liệu tiên khởi, chúng ta cố gắng khám phá cách thức thánh Phanxicô gặp gỡ và liên hệ với thế giới tạo thành.
1. Phanxicô yêu mến tạo vật
- Ngài xem mọi tạo vật như anh em của ngài. Trong Bài ca Anh Mặt Trời, ngài gọi tất cả các tạo vật là “anh” là “chị”: anh Mặt trời, chị Trăng, chị Sao, anh Gió, anh Không khí, anh Mây, chị Nước, anh Lửa. Trái đất thường được gọi là mẹ trong ngôn ngữ bình dân, ngài cũng gọi là chị: “Ngợi khen Chúa, lạy Chúa tôi, vì chị chúng tôi là Mẹ Đất” (BcMt 9). Khi ngài ôm hôn cái chết và kêu bằng chị chết, khi ngài kêu con chó sói, con vật hung dữ và làm hại người ta bằng anh Sói, ngài muốn diễn đạt một điều gì rất căn bản: ngay cả những sự vật thường chống đối lẫn nhau hay bị loại trừ, đều được đem vào một thế giới mới, một thế giới hoàn toàn giao hòa với Thiên Chúa. Nơi đó không còn thái độ thù nghịch nữa.
- Ngài đã nói chuyện với tạo vật như những hữu thể có trí khôn. Ngài đã giảng cho đám chim trời tại Bêvagna. Tại làng Albianô, ngài đã kêu mời đàn chim én líu lo chung quanh im tiếng để ngài giảng cho dân chúng và bầy chim đã vâng lời ngài: “Thật lạ lùng, những tạo vật không lý trí ấy đã đoán biết lòng dịu hiền yêu dấu của ngài đối với chúng” (1 Cel 59).
- Ngài đã kêu mời toàn thể tạo vật cùng ngài ca ngợi tình yêu Thiên Chúa: “Hỡi mọi loài thụ tạo, trên trời và dưới đất, trong lòng đất và ngoài biển khơi, hỡi muôn loài hết thảy: chúng ta hãy ca tụng và suy tôn Người đến muôn đời” (K Th 8).
- Ngài đã bày tỏ lòng kính trọng với các tạo vật: Bất cứ khi nào rửa tay, ngài cũng thu xếp để đứng chỗ nào mà không dẫm đạp lên nước, “vì chị Nước thật lợi ích và khiêm nhu, quí hóa và trinh trong” (BcMt 8 ; Tk Per. 88). Ngài bước đi cách nhẹ nhàng trên đá vì lòng yêu mến Đức Giêsu, Đấng được gọi là “Đá tảng” (2 Cel 165). Khi giảng cho bầy chim, “ngài khiêm tốn yêu cầu chim chóc lắng nghe” (1 Cel 58).
- Ngài đã quan tâm săn sóc, nuôi dưỡng các tạo vật: “Trên đường đi, hễ thấy côn trùng là ngài lượm lên kẻo chúng bị người qua lại dẫm nát. Mùa đông, vì thương xót đàn ong dễ bị chết đói, ngài sai đem mật và rượu ngon cho chúng” (2 Cel 165).
- Không những ngài không hủy hoại các tạo vật mà còn tìm cách giải thoát chúng: “Những chuyến anh em vào rừng đốn củi, ngài cấm họ đốn các thân cây, để chúng còn trổ sinh cành nhánh mới. Người làm vườn phải bỏ hoang một dải đất xung quanh vườn ra để tới mùa xuân, cành lá xum xuê, hoa khoe muôn sức, công bố cho mọi người biết rằng, nơi Đấng sinh thành muôn loài, sự toàn mỹ rực rỡ biết bao” (2 Cel 165). Hồi ngài ở Greccio, một anh đem cho ngài một con thỏ rừng còn nhỏ, vừa mới bẫy được. Cha thánh âu yếm vuốt ve một lúc rồi cho phép nó tự do về rừng (1 Cel 60). “Ngài cũng yêu mến loài cá, và hễ có dịp là thả những con cá mới bắt được xuống nước, mà căn dặn chúng đừng để người ta bắt lại” (1 Cel 61).
2. Phanxicô mời gọi mọi người thay đổi não trạng
Tại Máckia Ancônia, “ngài gặp một người gánh đi chợ bán một đôi chiên con trói chặt vào nhau. Thấy chúng kêu be be, ngài thương tâm đến gần, âu yếm vuốt ve chúng như một bà mẹ vỗ về đứa con đang khóc. Ngài hỏi:
- “Sao anh hành hạ hai anh chiên của tôi, trói lại và treo chúng như thế này?
- Thưa cha, con đem ra chợ bán vì cần tiền.
- Rồi việc gì sẽ xảy đến cho chúng?
- Dạ, người mua sẽ giết để ăn thịt.
- Không, không thể như vậy được. Anh cầm lấy áo choàng tôi mặc đây, rồi giao chúng cho tôi”.
… Nhận chiên rồi, ngài không biết phải làm gì. Sau khi hỏi ý kiến người bạn đồng hành, ngài trả chiên lại cho người chủ, với điều kiện ông phải nuôi nấng chăm nom chúng, không bao giờ được hành hạ hoặc đem bán chúng” (1 Cel 79).
3. Các tạo vật yêu mến và vâng lời Phanxicô
“Hết thảy mọi tạo vật tìm cách yêu thương đền đáp, tỏ lòng biết ơn ngài. Ngài vuốt ve thì chúng mỉm cười, chăm chú làm hài lòng ngài, ngoan ngoãn vâng lời ngài” (2 Cel 166).
- “Khi thấy bệnh đau mắt của mình tới giai đoạn trầm trọng, ngài phải để người ta mời một nhà phẫu thuật đến chữa trị, mang theo một y cụ để nung đỏ trong lò lửa. Thấy vậy toàn thân ngài run sợ hãi hùng. Để phục hồi dũng cảm, ngài kêu gọi lửa: “Anh lửa ơi, Đấng Tối cao đã ban cho anh một vẻ huy hoàng mà mọi tạo vật đều thèm muốn. Người đã dựng nên anh là vật hữu ích, hùng mạnh và đẹp đẽ. Xin anh hãy đối xử tốt và nhã nhặn đối với tôi, bởi lẽ cho tới nay tôi hằng yêu mến anh trong Chúa. Nguyện xin Đức Chúa uy phong, là Thiên Chúa tạo ra anh, đoái thương làm dịu bớt nhiệt tính của anh, hầu tôi đủ sức chịu đựng cái vuốt ve nóng bỏng của anh”. Cầu nguyện xong, thánh Phanxicô làm dấu thánh giá chúc lành cho ngọn lửa và dũng cảm chờ đợi, không run sợ nữa. Nhà giải phẫu cầm lấy y cụ đỏ rực. Anh em bỏ chạy không dám đứng xem (…) Ngài mỉm cười bảo: “Sao anh em nhát gan, khiếp nhược thế ! Tôi bảo thật các anh, tôi không cảm thấy bị bỏng, da thịt tôi không đau đớn !” Ngài quay lại phía y sĩ bảo: “Nếu chưa đủ chín thì anh có thể làm nữa !” (2 Cel 166)
- Khi ngài ở ẩn tại Alverna, “một con chim ưng vốn làm tổ ở đó đã ký kết với ngài một hiệp ước hữu nghị: ban đêm, tới giờ ngài quen trở dậy đọc kinh nhật tụng thì nó báo thức bằng nhiều tiếng hót. Đấng thánh của Thiên Chúa rất biết ơn, bởi chưng, nhờ sự quan tâm của nó, ít lâu sau ngài tránh được sự ngái ngủ. Nhưng vào thời gian bệnh ngài trầm trọng thì chim ưng ý tứ báo thức muộn hơn, tới rạng đông mới lên tiếng, như thể nhận được chỉ thị của Thiên Chúa” (2 Cel 168).
- Một hôm kia, thánh Phanxicô muốn lánh vào ẩn viện để chuyên lo cầu nguyện. Một người nông dân đã cho ngài mượn lừa và dẫn đường lên núi. Bấy giờ là mùa hè, trời nắng chang chang. Chưa tới ẩn viện mà người ấy đã muốn bỏ về vì nỗi đường xa, núi dốc, thấm mệt, cổ họng khát khô. Anh ta hung hăng kêu nài Phanxicô thương xót. Ngài đã xuống lừa, quì gối cầu nguyện. Và lạ lùng thay, nước từ một tảng đá chảy ra đã làm dịu cơn khát của người nông dân (2 Cel 46).

II. CHIỀU SÂU CỦA MỐI TƯƠNG QUAN ẤY
Tương quan giữa Phanxicô và các tạo vật trên phải chăng chỉ là những giai thoại được thi vị hóa hay chỉ là những điều không tưởng của quá khứ? Phải chăng cái nhìn của Phanxicô là một cái nhìn ngây ngô, quá lạc quan về vũ trụ này? Sống huynh đệ với các tạo vật, phải chăng là quên mất rằng thế giới này thì nghiệt ngã, rằng con người thường đối xử hung bạo hơn là thân thiện với người đồng loại? Phải chăng Phanxicô chỉ là một sứ ngôn của một tương lai tươi sáng nhưng không thể thực hiện được? Để có một câu trả lời thích đáng ta phải đi vào chiều sâu của mối tương quan giữa Phanxicô và các tạo vật.
1. Cái nhìn đức tin: Thiên nhiên là tạo vật của Thiên Chúa
Trong Tác phẩm của ngài, Phanxicô không bao giờ dùng từ thiên nhiên nhưng dùng từ tạo vật để chỉ tổng thể nói chung những gì tồn tại chung quanh con người mà không phải do con người tạo ra. Từ “tạo vật” diễn tả một thực tại mà con người nhận được từ Đấng là nguồn gốc của mọi sự, Thiên Chúa Tạo hóa và Cha của muôn loài thọ sinh: Tạo vật từ Thiên Chúa mà đến và sẽ trở về với Thiên Chúa. Mở đầu chương XXIII Bản Luật Không sắc dụ, Phanxicô đã dâng lời cảm tạ: “Lạy Thiên Chúa toàn năng, chí thánh, cao cả, là Chúa Cha thánh thiện và công minh, là Đức Vua Chúa tể trời đất, chúng con xin dâng lời cảm tạ, chỉ vì chính Cha mà thôi, vì do bởi thánh ý Cha và nhờ Thánh tử duy nhất cùng với Thánh Thần, cha đã dựng nên muôn vật hữu hình và vô hình, và đã dựng nên chúng con theo hình ảnh và giống như Cha, rồi cho ở trong vườn địa đàng” (L Ksd 23,1).
Hơn nữa, tạo vật không phải là một thực tại bất động, ù lì, nhưng là một thế giới sống động, luôn nói về Thiên Chúa cho con người. Ngài đã ca ngợi anh Mặt trời: “Anh đẹp và tỏa ánh rạng ngời, anh tượng trưng Ngài, ôi Đấng Tối cao” (BcMt 4). Ngài sẵn sàng vâng phục mọi tạo vật, cho dù dã thú, vì chúng biểu lộ thánh ý Thiên Chúa: “Thánh đức vâng phục đánh bại những ý muốn tự nhiên và vị kỷ, cùng kềm hãm được bản năng thấp hèn, để bắt nó tùng phục tinh thần và vâng lời anh em. Con người ấy sẽ hoàn toàn tùng phục mọi người trên trần gian, và không những tuân phục loài người, mà cả gia súc và dã thú. Với con người ấy, chúng có thể làm gì tùy ý, theo như Chúa từ trên cho phép” (K Nđ 14-18). Trong huấn ngôn 5, ngài học được bài học từ các tạo vật: “Vậy mà mọi tạo vật dưới vòm trời, theo phương cách của chúng, đều phụng sự, nhận biết và tùng phục Đấng Tạo hóa hơn cả chính ngươi” (Hn 5,2).
Cuối cùng tạo vật bao hàm một thực tại rộng lớn hơn “thiên nhiên”, bởi vì chính con người cũng là thành phần của tạo thành. Con người là một tạo vật giữa các tạo vật khác, tuy nắm giữ một vai trò ưu đãi là cộng tác vào công cuộc tạo dựng, tiếp nối công trình mà Thiên Chúa đã khởi sự. Chính vì thế mà Phanxicô đã gọi mọi tạo vật khác là anh, là chị. Trong thư gởi Toàn Dòng, Phanxicô đã nói: “Tôi là Phanxicô, con người vô dụng, một tạo vật bất xứng của Thiên Chúa” ( T TD 47).
2. Tạo vật diễn tả lòng nhân lành của Thiên Chúa
Điều mà Phanxicô tìm kiếm trong các tạo vật, trước tiên không phải là sự thoải mái về phương diện thể lý, cũng không phải là phương diện kinh tế của các tài nguyên thiên nhiên, nhưng là mối hiệp thông với những hữu thể mạc khải cho ngài sự tốt lành của một người Cha rộng lượng. “Trong bất luận công trình nào, ngài tán thưởng Đấng Hóa công, qui hướng về các đức tính phát hiện trong mỗi tạo vật. Hân hoan về mọi công trình xuất phát từ bàn tay Thiên Chúa, ngắm nhìn sáng tạo hài hòa, ngài ngược lên cội nguồn, tới Đấng là nguyên lý và là sức sống vũ trụ” (2 Cel 165).
Cách đối xử của Phanxicô đối với vũ trụ đã gây ấn tượng trên những người đồng thời với ngài đến nỗi các người viết truyện ký đều thốt lên: “Ai có thể mô tả cho ta sự êm ái tràn ngập tâm hồn ngài khi thánh nhân tìm thấy trong các tạo vật sự khôn ngoan, quyền năng và lòng nhân hậu của Đấng Hóa công? Ngắm mặt trời, mặt trăng và bầu trời lấp lánh tinh tú, ngài cảm thấy một niềm vui khôn tả dâng cao trong trái tim” (1 Cel 80). Phanxicô đã bị đánh động bởi lời khẳng quyết trong Phúc âm: “Chỉ mình Thiên Chúa là tốt lành”. Ngài luôn nhắc đi nhắc lại điều đó trong Di cảo (L Ksd 17,18 ; 23,8 ; K LC 2). Đối với Phanxicô, tất cả đều là ân huệ, tất cả đều là quà tặng của Thiên Chúa bởi vì, “dầu bất xứng hay xứng đáng, mọi vật đều lệ thuộc lòng nhân từ hào hiệp của vị An nhân cao cả của chúng ta” (2 Cel 77).
Phanxicô xem các tạo vật như là những ân huệ mà Thiên Chúa ban cho con người để giúp con người hướng tâm hồn về với Thiên Chúa. Chính vì thế mà lời cầu nguyện của ngài trước tiên là một lời hiến dâng, ca ngợi, một sự dâng trả về lại cho Đấng là nguyên thủy: “Chúng ta hãy dâng trả mọi sự tốt lành về cho Chúa là Thiên Chúa tối cao và chí tôn. Chúng ta hãy biết rằng mọi sự tốt lành là của Chúa và hãy tạ ơn Người về tất cả mọi sự ; Người là nguồn mạch mọi sự tốt lành” (L Ksd 17,17). Trong các kinh mà ngài sáng tác, ngài không ngớt mời gọi các tạo vật cũng như hiệp ý với mọi tạo vật ca ngợi Chúa: “Hỡi muôn loài tạo vật, hãy chúc tụng Chúa. Hết mọi giống chim trời, hãy ca ngợi Chúa. Hỡi các em bé, nào ca ngợi Chúa đi. Hỡi nam thanh nữ tú, nào ca ngợi Chúa đi” (K Mg 11-14).
3. Một cái nhìn kinh ngạc thán phục noi gương Đức Kitô
Cái nhìn của con người hiện đại đã trở thành u ám bởi vì họ chỉ thấy những sự vật cần được khai thác hay để tiêu dùng. Các sự vật đã đánh mất chiều kích dấu chỉ, linh thánh của chúng. Chỉ còn lại các “sự vật” mà thôi. Người ta đã đánh mất cái nhìn kinh ngạc thán phục. Trời xanh không còn tường thuật vinh quang Thiên Chúa ; nó chỉ còn là một nơi để khai thác, không hơn không kém. Phanxicô đã học biết có cái nhìn kinh ngạc thán phục từ nơi Đức Giêsu. Thần khí của Đức Kitô đã biến đổi cái nhìn của ngài, bởi vì Đức Kitô là Đấng đầu tiên mời gọi mọi người biết nhìn thấy qua vũ trụ tạo thành một thế giới còn đẹp hơn, đó là Nước Trời. Từ hình ảnh cây sậy lung lay trước gió, con đường đá sỏi nơi người gieo giống đánh mất những hạt giống, cảnh sắc bầu trời, cho đến hình ảnh con gà mẹ chở che con mình dưới cánh, Đức Giêsu đã rung động trước vẻ đẹp của thế giới tạo thành. Và chính Người đã nêu lên ý nghĩa dấu chỉ của chúng.
Phanxicô đã học được nơi Chúa cái nhìn kinh ngạc thán phục đó. Và lòng yêu mến đặc biệt của ngài đối với những tạo vật hèn kém nhất cũng phát xuất từ cái nhìn qui Kitô đó. Ngài thấy được dấu chỉ sự khiêm hạ và hạ mình của Đức Kitô: “Ngài thích bày tỏ lòng âu yếm và sự dịu hiền hơn với các tạo vật mà do dáng điệu tự nhiên hoặc do giáo huấn của Kinh Thánh, gợi lên tình yêu và sự dịu hiền của Đức Kitô. Ngài thường chuộc lại những con chiên người ta đem đi làm thịt vì nhớ tới con chiên rất hiền lành đã tự hiến mình chịu chết thay cho kẻ tội lỗi” (ĐT 8,6). “Ngài yêu thương cả đến giống sâu bọ vì ngài đã học trong Kinh Thánh lời nói về Chúa rằng: “Còn tôi thân sâu bọ, chứ đâu phải là người”. Vì thế ngài lượm sâu bọ, đặt ra xa, để chúng khỏi bị người qua lại dẫm nát” (1 Cel 80).
“Tâm hồn ngài ngây ngất khi quan sát vẻ đẹp và thưởng thức hương thơm của muôn hoa ! Lúc đó ngài quay về chiêm ngắm một đóa hoa xuân khác, lộng lẫy phát xuất từ ngành Yessé, tỏa hương đưa hàng ngàn người từ cõi chết trở lại cuộc sống” (1 Cel 81).
“Ngài sung sướng và âu yếm ngắm nhìn tất cả những gì có hình nét biểu tượng Con Thiên Chúa” (1 Cel 77).
*
* *
Ngày hôm nay, vấn đề bảo vệ môi sinh được đặt ra cấp bách hơn bao giờ hết. Là con cái của thánh Phanxicô, chúng ta cần thay đổi não trạng của chính chúng ta cũng như gây ý thức cho mọi người biết rằng:
- Việc bảo vệ sự sống phải bắt đầu bằng lòng kính trọng đối với tạo vật.
- Ta cần đối xử lịch thiệp đối với mọi sinh vật, mọi loài. Tôn trọng tính duy nhất, sự hiện hữu của chúng và chỗ đứng của chúng trong dàn nhạc của tạo thành.
- Con người cần sống khiêm hạ, hèn mọn để có thể trở nên anh em của tạo vật. Phải đặt mình giữa mọi sinh vật chứ không bao giờ đặt mình lên trên chúng.
- Thái độ thống trị, khai thác phải được thay thế bằng một thái độ chia sẻ, bảo vệ, kính trọng và huynh đệ với mọi tạo vật.
- Tìm cách trở nên một với tạo vật trong việc ngợi khen Thiên Chúa.
Gioan TC. NGUYỄN PHƯỚC Ofm.
- 29.04.2011 Cái khôn của một người nghèo 02
- 25.04.2011 Phanxicô Assisi và Têrêxa Lisieux: Hai Hồn Thơ Thánh Hóa
- 22.04.2011 Cái khôn của một người nghèo 01
- 22.04.2011 Thánh Phanxicô Assisi và tình yêu Thập Giá
- 20.04.2011 Thánh Phanxicô và phương thuốc đem lại hòa bình và niềm vui
- 15.04.2011 Cái khôn của một người nghèo - Lời nói đầu
- 22.05.2010 Giải pháp thiêng liêng cho mọi vấn đề
- 17.05.2010 Thánh Phanxicô tuân phục Giáo Hội
- 21.11.2009 15 ngày cùng với thánh Phanxicô Assisi cầu nguyện
- 11.07.2009 Con đường Phúc Âm

