Monday, Apr 24th

Last update01:08:48 PM GMT

15 ngày cùng với thánh Clara Assisi cầu nguyện

claraphanxicoLời người dịch

Trong Di chúc của thánh Clara, Bà nhận mình là cây nhỏ của thánh Phanxicô. Bà viết: “Vậy tôi là Clara, tôi tớ của Chúa Kitô và của các chị em nghèo khó thuộc đan viện San Đamianô, dù bất xứng và là cây bé nhỏ cha thánh vun trồng, tôi cùng chị em tôi nghĩ đến lời khấn rất cao trọng của chúng tôi…” (c. 37). Sau đó, Bà coi cả tập thể chị em là cây nhỏ của thánh Phanxicô, Bà viết: “Khi còn sống, ngài hằng quan tâm dùng lời nói và việc làm để vun trồng và khuyến khích chúng tôi là cây nhỏ của ngài” (c. 49).

Anh Xêlanô, tác giả đầu tiên viết Tiểu sử thánh Phanxicô theo lệnh Đức Giáo hoàng Grêgôriô IX, cũng là tác giả đầu tiên viết Tiểu sử thánh Clara theo lệnh Đức Giáo hoàng Alêxanđê IV. Trong cuốn Đời sống thánh Phanxicô quyển thứ nhất, Anh ca tụng thánh Clara như sau: “ Khoảng sáu năm sau ngày thánh Phanxicô trở lại, nơi thánh ấy (nhà thờ San Đamianô) chứng kiến sự khai sinh một Hội Dòng vinh quang và đáng khâm phục, qui tụ những thiếu nữ đồng trinh thánh thiện mang tên là “Các Nữ Đan sĩ Nghèo Khó”. Chính tại đây Bà Clara, gốc người thành Assisi, sẽ trở nên tảng đá quí giá và vững chắc nhất, làm nền tảng cho các viên đá khác kết hợp thành cả tòa kiến trúc… Bà cao quí bởi dòng tộc, nhưng lại cao quí hơn nhờ ân sủng, trinh khiết trong thân thể, và rất trinh khiết trong tâm hồn, tuổi đời còn trẻ nhưng tinh thần chín chắn, kiên vững trong ý định và hết lòng tha thiết ao ước tình yêu của Thiên Chúa, đầy tràn khôn ngoan và khiêm hạ vô song. Bà có tên gọi sáng láng, đời sống còn sáng láng hơn và hết sức sáng láng trong cách ăn nết ở” (1Xêl VIII,18). Anh liệt kê bảy nhân đức sáng chói của Cộng đoàn chị em: Sự hiệp nhất, đức khiêm hạ, đức khiết tịnh, đức nghèo khó, chay tịnh và thinh lặng, đức kiên nhẫn, cầu nguyện chiêm niệm. Về cầu nguyện, Anh viết: “Các Bà xứng đáng lên tới đỉnh cao của chiêm ngưỡng. Trên tầm cao ấy, họ được dạy cho biết mọi điều phải làm, mọi điều phải tránh. Họ vui mừng biết đưa tâm trí vươn lên đến Thiên Chúa, kiên trì ngày đêm ca tụng và nguyện cầu” (nt 20). Trong cuốn Đời sống thánh Clara, Anh Xêlanô mở đầu bằng những lời ngỏ với Đức Giáo hoàng, trong đó Anh viết như sau: “… Vậy Đức Thánh Cha đã truyền lệnh cho con, cho dù thô thiển, soạn ra bản văn để đọc về đời sống của thánh Clara, sau khi đã nghiên cứu các bản văn: quả thật đây là một công việc hẳn đã làm cho con phải run sợ với khả năng viết văn kém cỏi của con, nếu Đức Thánh Cha không đích thân nhiều lần lập lại lệnh truyền” (Xêl, Thư mở đầu).

Có lẽ ở đây, chúng ta nên lắng nghe nhiều hơn những lời Tác giả Xêlanô viết về đời sống cầu nguyện của thánh Clara: “Cũng như tuy còn sống trong xác thịt, Bà đã chết cho những đòi hỏi của xác thịt, cũng thế, Bà hoàn toàn xa lạ với thế gian, linh hồn thường xuyên chăm lo cầu nguyện lành thánh và dâng lời ca ngợi Thiên Chúa. Từ nay, cái nhìn cháy bỏng của khát vọng nội tâm đã đăm đăm hướng về Ánh sáng, và không bận tâm đến vùng thế sự thăng trầm, Bà mở rộng tối đa cánh đồng tinh thần ra đón lấy trận mưa ân sủng.

Sau Kinh Tối, Bà cầu nguyện với chị em lâu giờ, và các dòng nước mắt của Bà đổ ra chan hòa cũng khiến các chị em khác rơi lệ. Rồi khi tất cả các chị em khác đã về nghỉ lưng trên ván cứng, Bà vẫn còn ở lại, tỉnh thức và vững vàng mà cầu nguyện, để kín đáo nghe tiếng Chúa thì thầm, trong khi các chị em khác đã an giấc. Khi cầu nguyện, Bà rất thường phủ phục, mặt áp xuống đất, nước mắt chan hòa tưới đẫm mặt đất và Bà hôn đất nhiều lần: cứ y như thể lúc nào Bà cũng đang ôm Chúa Giêsu của Bà trong vòng tay, lấy nước mắt tưới ướt chân Người, và không ngừng hôn chân Người…

Biết bao sức mạnh và sự nâng đỡ Bà đã nhận được từ lò lửa cầu nguyện sốt sắng; biết bao ngọt ngào lòng nhân từ của Thiên Chúa Bà cảm nhận được; các bằng chứng đã kiểm nghiệm làm chứng như thế. Thật thế, ra khỏi giờ cầu nguyện, Bà trở lại trong niềm vui, mang theo từ ngọn lửa của bàn thờ Chúa những lời nói nồng nhiệt, có thể đốt cháy tâm hồn chị em. Quả thật, chị em kinh ngạc nhận thấy rằng từ gương mặt Bà tỏ rạng ra một sự dịu ngọt nào đó, và vẻ mặt Bà còn tươi sáng hơn mọi khi. Chắc chắn Chúa nhân hậu với kẻ khó nghèo (Tv 97,11), và sau khi đã tưới đẫm linh hồn Bà trong giờ cầu nguyện bằng ánh sáng thật của Người, Người còn tỏ bày điều này ra bên ngoài rõ ràng. Tuy đang sống giữa cảnh đời hay thay đổi nhưng thánh Clara đã vĩnh viễn kết hợp với Vị Hôn phu cao quí và cảm thấy thỏa thích với những điều siêu nhiên. Nhờ đức độ vững bền, thánh Clara đứng chắc chắn giữa lúc bánh xe thời gian luân chuyển. Và trong chiếc bình mong manh, thánh Clara đựng sẵn một kho tàng vinh hiển. Về phần xác, tuy Bà còn sống dưới thế, nhưng về phần hồn, Bà như đã sống trên trời” (Xêl 19-20).

Anh Xêlanô nhận mình là người thô thiển, khả năng viết văn kém cỏi, e ngại viết về thánh Clara, nhưng qua những điều Anh viết, chúng ta phải công nhận khả năng văn chương của Anh. Đọc các tác phẩm của Anh, chúng ta có dịp biết rõ hơn về con người thánh Clara.

Giờ đây, chúng ta đi vào cầu nguyện tĩnh tâm dưới sự hướng dẫn và đồng hành của thánh Clara qua những bản văn Bà viết hay đôi khi qua những đoạn văn được viết về Bà. Nữ Đan sĩ Marie-France Berker chọn lọc cho chúng ta các bản văn đó. 

GIỚI THIỆU TÓM TẮT CÁC TÀI LIỆU NGUỒN LIÊN QUAN ĐẾN THÁNH CLARA ASSISI 

Các Thư gửi chị Agnès

Là con của vua xứ Bôhêm, Agnès Praha thiết lập trong thành phố của chị một đan viện CÁC CHỊ EM NGHÈO KHÓ, và chị gia nhập vào đó. Trong mối liên lạc thư từ giữa chị với thánh Clara, chúng ta còn lưu giữ được bốn lá thư của thánh Clara. Trong bốn lá thư ấy, thánh Clara, trong khi động viên Agnès đi trên con đường thiêng liêng của mình, đã bộc lộ cho chúng ta thấy kinh nghiệm riêng của thánh nữ. Một tình bạn mật thiết keo sơn với Đức Kitô nghèo khó và chịu đóng đinh liên kết hai người thiếu nữ chưa bao giờ gặp nhau này.

Di Chúc và Lời Chúc lành

Vào cuối đời, thánh Clara diễn tả trong Di Chúc của Bà lòng trung thành hai mặt: trung thành với thánh Phanxicô và với Đức Nghèo hoàng vương. Bà đưa vào trong bản văn này những kỳ công Thiên Chúa thực hiện trong cuộc đời Bà, tiếp đó Bà ban cho các Chị em một lời chúc lành.

Luật Dòng thánh Clara

Thánh Clara tranh đấu cả đời mình để được có một bản luật phù hợp với ý định của Bà. Hai ngày trước khi ngài tắt thở, ngài đã nhận được nó do sự phê chuẩn của Đức giáo hoàng. Đây là bản luật đầu tiên do một người phụ nữ viết cho các chị em phụ nữ, bản văn này gây ngạc nhiên do nó sát với thực tế, ý thức dân chủ và sự tự do đối với các tài liệu nguồn.

Thư gửi Chị Ermentrude

Chúng ta biết thánh Clara đã viết hai lá thư cho một Chị Ermentrude nào đó ở thành Bruges. Chị này đã thiết lập nhiều đan viện ở Flandre và ước mong được sống theo lối sống của các CÁC CHỊ EM NGHÈO KHÓ ở đan viện San Đamianô. Bản văn chúng ta lưu giữ có thể là một tóm lược của hai sứ điệp ấy.

Án phong thánh

Bản văn Án phong thánh là bản báo cáo cuộc điều tra về cuộc đời của thánh Clara. Nó cho thấy thánh nữ đã sống Tin Mừng thật cụ thể như thế nào trong suốt cuộc đời của Bà. Bốn nữ tu đã sống với thánh Clara, bốn người đã quen biết Bà cũng như gia đình Bà, họ đã khai sau khi tuyên thệ và làm chứng về đời sống thánh thiện của Bà.

Đời sống thánh Clara của Tôma Xêlanô

Theo yêu cầu của Đức Giáo hoàng, tu sĩ Tôma Xêlanô viết một cuốn sách về Đời sống thánh Clara. Để làm việc đó, tác giả đã sử dụng các chứng từ của Án phong thánh và hỏi han các nam nữ tu sĩ đã quen biết thánh Clara. 

MỘT NGUỒN ÁNH SÁNG

Các đường phố Assisi đang xôn xao bàn tán về những chuyện ngông cuồng của chàng thanh niên Phanxicô, con ông Phêrô Bernađônê: Anh ta đi phục vụ những người phung, tận tình săn sóc họ và đi khất thực cho họ. Cô tiểu thư Clara Offreducciô, khoảng chừng 16 hay 17 xuân xanh, chăm chú lắng nghe những lời kể của Rufinô là một người họ hàng: Phanxicô được những lời Phúc Âm mời gọi bước theo Đức Kitô thúc đẩy, chàng bán hết của cải và đem phân phát cho những người nghèo, đi loan báo sự bình an, chàng reo lên: “Đây là điều tôi mong mỏi, đây là điều tôi tìm kiếm, đây là điều tôi hết sức muốn thực hiện!” (1Xêl 22).

Giai cấp xã hội, văn hóa, tất cả đều phân cách cô Clara với cậu con người thương gia ấy. Cô là “lệnh bà”, con của nhà hiệp sĩ Offreducciô Favarônê, nhà quí tộc của thành phố và bà Hortôlana.

Cô sinh năm 1193, đã nhận tên riêng là “Clara” – đó là một điều mới thời bấy giờ. Bởi vì khi mang thai và gần đến ngày sinh, một hôm thân mẫu cô cầu nguyện trong nhà thờ trước tượng Thánh giá và bà xin ơn được sinh nở mẹ tròn con vuông, bỗng bà nghe một tiếng nói với bà: Này bà, đừng sợ, vì bà sẽ hạ sinh bình an một ánh sáng còn chói lọi hơn chính ánh sáng (Xêl 2).

Clara được mẹ dạy cho biết những điểm sơ đẳng về đức tin. Cô rộng tay bố thí cho người nghèo và lấy của dư dật của gia đình mà giúp đỡ những người đang lâm cảnh túng thiếu (Xêl 3). Trong nhà thân phụ, việc giáo dục thích hợp với bậc sống của cô đã làm phát triển các đức tính tự nhiên của cô, đó là óc tế nhị, lòng tốt và tính mạnh mẽ. Nhưng đồng thời cô cũng lớn lên trong bầu khí nặng nề và tàn bạo của một thành phố làm mồi cho chiến tranh và những mối thù hận đủ loại. Công xã Assisi đang tìm cách để thoát khỏi quyền bính của các lãnh chúa phong kiến và Clara đã phải bỏ Assisi chạy trốn sang Pêrudia mấy năm.

Clara trở về thành của mình. Cô vẫn chỉ cứ sống theo lối sống của xã hội phong kiến. Một danh xưng duy nhất cô ấp ủ trong lòng: danh Chúa Giêsu. Một ước vọng duy nhất nung đốt cô: sống Phúc Âm theo gương Phanxicô. Sau khi nghe các bài giảng của Phanxicô trong Nhà thờ Chánh tòa Thánh Rufinô, cô cảm thấy bừng lên một sự đồng cảm giữa cô và người điên mới ấy của Thiên Chúa. Những lời của chàng đã đánh động tận đáy lòng cô và cô khao khát gặp chàng. Giống như Phanxicô, cô ước mong dâng cuộc đời mình cho Chúa Giêsu, hiến cho Người trọn thân xác và linh hồn. Dù cha mẹ cô mơ ước cho cô được một người chồng tương xứng, cô vẫn không thay đổi quyết định. Qua những cuộc đàm đạo với Phanxicô, cô càng này càng được thêm khích lệ trong sự chọn lựa của mình. Trọng tâm của mối tình bạn lần lần liên kết hai người, họ chia sẻ cho nhau ngọn lửa nung nấu trong lòng họ: lòng yêu mến Vị Thiên Chúa ấy, Đấng đã đến chôn vùi cuộc đời mình trong lịch sử của nhân loại.

Đêm lễ Lá năm 1212, mặc trên người những bộ y phục đẹp đẽ nhất, cô bỏ trốn khỏi nhà, qua cửa nhà xác, theo kiểu nói của nhà chép tiểu sử cô, điều đó nói lên ý nghĩa cô muốn biết bao bước theo Đức Giêsu trên con đường Thương khó và lấy tình yêu đáp lại tình yêu đối với Đấng đã yêu cô đến thế (x. Xêl 30-32). Có sự tự do liều lĩnh nào mà cô đã không chứng tỏ khi đang đêm bỏ nhà cha mẹ để đi gặp lại Phanxicô và các anh em chàng trên cách đồng Assisi. Họ là những người có một lối sống kỳ quặc làm trò cười cho những lời đàm tiếu trong thành phố! Không gì có thể làm suy giảm quyết định và lòng can đảm khiến cô thắng được mọi sự chống đối. Con tim của người nữ nơi cô không có khát vọng nào khác ngoài được đập vì lòng mến đối với Thiên Chúa, Đấng đã nằm nghèo khó trong máng cỏ, sống nghèo khó ở trần gian, và chịu treo trần truồng trên thập giá (DC Cl 45). Suốt đời cô, lòng cương quyết của cô dựa trên lời kêu gọi sâu xa này: người trinh nữ nghèo khó, hãy ôm ấp Chúa Kitô nghèo khó (2T Ag 18).

Phanxicô dâng hiến cô cho Chúa khi trao cho cô chiếc áo của đức nghèo và cắt tóc cho cô. Cô lưu lại khoảng 15 ngày nơi Các nữ tu Biển đức Thánh Phaolô tại Bastia. Nhưng dù họ tiếp đón thân tình, lối sống của họ không làm cô hài lòng. Cô tưởng nhớ đến cuộc sống nghèo khó Đức Giêsu đã trải qua và Phanxicô và các anh em chàng cho cô thấy gương sống ấy. Cô từ giã các nữ tu Biển đức để đến với những phụ nữ sống thành cộng đoàn trong chay tịnh và cầu nguyện ở Saint Ange Panzô, trên sườn núi Subasiô.

Cả ở đó nữa, Clara cũng cảm thấy được thôi thúc mời gọi sống cách khác và không thấy bình an trong tâm hồn. Theo lời Phanxicô khuyên, Bà đi đến San Đamianô, ngôi nhà nguyện nhỏ thuộc quyền Đức Giám mục Assisi và Phanxicô đã tự tay sửa chữa lại. Nơi ấy Bà vĩnh viễn thả neo và khai sinh Dòng Chị em nghèo khó, được biết đến nhiều hơn qua danh xưng Dòng thánh Clara. Chúa ban cho Bà những chị em để tất cả cùng với nhau, họ trung thành yêu mến và phụng thờ Người (Sắc phong Cl 6). Phanxicô viết cho họ một Thể Thức Sống ngắn, nhấn mạnh đến đức nghèo khó theo Phúc Âm và sự trực thuộc của Chị em vào Dòng Anh em.

Trong niềm hạnh phúc bao la không có sở hữu, Clara và các Chị em sống một cuộc đời đáng kinh ngạc và cần cù lao động. Trước tượng Chúa chịu đóng đinh đã nói với Phanxicô và kêu gọi chàng đi sửa Nhà Chúa, họ dâng lên Thiên Chúa những tâm hồn ca tụng và họ quì gối thờ phượng Người. Họ làm những công việc khiêm tốn, những việc vặt vãnh, qua đó họ hiệp thông với lòng khiêm hạ của Thiên Chúa, Đấng họ muốn bước theo dấu nghèo khó, đơn sơ và yêu mến.

Để tôn vinh Chúa Cha trong Hội Thánh của Người, Clara gặp nhiều rào cản. Năm 1215, Công đồng Latêranô cấm ra bất cứ Luật Dòng mới nào trong đời sống tu trì. Do đó Clara phải chấp nhận Luật Dòng thánh Biển đức, và Phanxicô tận dụng quyền bính mình để ép Clara nhận tước hiệu Đan viện mẫu. Thế là Clara bắt đầu một cuộc đấu tranh lâu dài để nhận cho được từ Giáo Hội quyền được sống nghèo, không có thu nhập. Thật là liều lĩnh, trong một xã hội phong kiến đang biến chuyển, mà lại sống một cuộc đời tu trì hoàn toàn tin tưởng phó thác cho Cha đầy lòng thương xót. Họ vẫn được phép có một sự bảo đảm tối thiểu để một nhóm chị em phụ nữ có thể sống cách thích đáng, và các đan viện được hưởng những chứng thư và những đặc ân để sống còn. Cái độc đáo của Clara, đó là bảo đảm cho gia đình tu trì của mình bằng cái “không có gì của đức nghèo khó”. Để được như thế, Bà mạnh mẽ từ khước mọi đặc ân, ngoài một đặc ân mà Bà kiên quyết táo bạo xin với chính Đức Giáo hoàng: Đặc ân sống nghèo, đặc ân không sở hữu gì hết. Lời thỉnh nguyện tha thiết và nhất là chưa từng có này gây kinh ngạc cho Đức Giáo hoàng Innôxentê III và lịch sử ghi lại là Đức Giáo hoàng bật cười vì điều đó. Đáp lại lời thỉnh cầu đặc biệt ấy, đích thân Đức Giáo hoàng hân hoan đặt bút châu phê đặc ân Bà xin (Xêl 14).

Chẳng bao lâu sau, có những đan viện khác đón nhận lối sống được áp dụng ở San Đamianô, và Đức Giáo hoàng đặt Đức Hồng y Hugôlinô làm Hồng y Bảo trợ cho những cộng đoàn mới này. Đức Hồng y bắt các nữ tu tuân giữ một Luật sống: nhiều điều mới phải tuân giữ, rất nghiêm nhặt trong lãnh vực nội vi, sự thinh lặng, việc chay tịnh và các việc khổ chế. Nhưng cả Clara lẫn Phanxicô đều không được tham gia vào việc soạn thảo bản văn này. Nó hoàn toàn không đả động gì đến đức nghèo khó và tính thuộc về gia đình Anh em hèn mọn cả. Theo sự ân cần ngài dành cho Clara và các Chị em, Đức Hồng y Hugôlinô, sau làm Giáo hoàng với danh hiệu Grêgôriô IX, cố gắng làm cho Clara thay đổi ý định sống nghèo của Bà. Nhưng trước nỗi lo lắng của ngài vì thấy những phương tiện bảo đảm cuộc sống quá bấp bênh, Clara không ngớt chống lại bằng nguyện ước của Bà là bước theo Đức Kitô.

Ngày 06-08-1247, Đức Giáo hoàng Innôxentê IV ban cho các Chị em nghèo khó một bản Luật mới, lấy bản Luật thánh Phanxicô làm nền tảng theo pháp lý, nhưng nó không hề nhắc đến Đặc ân sống nghèo. Clara vẫn tỏ ra không hài lòng và quyết định viết ra bản Luật riêng của mình. Sau kinh nghiệm trên bốn mươi năm sống tại San Đamianô, Bà soạn lại bản Luật đó, dựa theo cấu trúc và nội dung bản Luật của thánh Phanxicô, và Bà khéo léo đưa vào trong đó những yếu tố lấy từ các bản Luật của thánh Biển đức, của Đức Hồng y Hugôlinô, của Đức Giáo hoàng Innôxentê. Gần ngày qua đời, Clara nhận được Tự sắc phê chuẩn bản Luật này.

Với lòng biết ơn Đấng đã hướng dẫn và làm cho Bà nên thánh, ngày 11-08-1253, Bà bước vào đất những kẻ sống sau khi đã sống như “lữ hành và khách lạ” trên trái đất này, chiến đấu cho đến cùng cuộc chiến vì đức nghèo, với lòng cương quyết dũng cảm và niềm tin tưởng vui tươi. Ngày 15-08-1255, Đức Giáo hoàng Alêxanđê IV phong thánh cho Bà, tôn vinh Bà là nguồn suối trong và dòng nước sự sống mới, người đã trồng và chăm sóc vườn nho đức nghèo, trên cánh đồng đức tin (Sắc phong 8). 

HÃY TRỞ NÊN ĐIỀU CHỊ CHIÊM NGẮM

Cuốn sách này muốn vạch ra, hoặc ít ra là phác họa một đường lối cầu nguyện. Một con đường như thế có thể được hình dung ra theo nhiều cách thức. Chúng ta có thể cố gắng cắm mốc cho một hành trình đi đến với Chúa. Việc phải làm là xác định những đoạn đường của một chuyến đi, một chuyến đi đơn giản, giữa một khởi điểm đã quá rõ và một mục tiêu theo dự kiến. Có lời kêu gọi chúng ta rời khỏi chỗ chúng ta đang đứng và cố gắng đi đến một chỗ khác, trong 15 ngày.

Nhưng chúng ta muốn sống 15 ngày này cùng với thánh Clara Assisi. Đúng là Bà lôi kéo chúng ta trong một cuộc tìm kiếm Chúa. Đi bên cạnh Bà, đó là lên đường. Và còn hơn là lên đường nữa! Việc tìm kiếm Chúa thường mang dáng dấp một cuộc chạy nhẹ nhàng. Thế nhưng, cùng một lúc, người đồng hành với chúng ta là một người vĩnh cư (ở yên một chỗ). Trong thời gian trên bốn mươi năm, Bà đã sống trong cùng một đan viện tại San Đamianô, miệt mài làm các công việc bình thường, không trổi trang gì. Bởi vậy, với một người phụ nữ như thế, đường lối cầu nguyện này giống như một cuộc đi dạo trên đồng quê, nó dẫn trở lại nơi phát xuất, nhưng nó dẫn chúng ta về đó mà chúng ta khác hơn, phong phú hơn. Vấn đề không phải là rời bỏ cái thường ngày để đi tìm kiếm Chúa, nhưng là mang cái thường ngày vào trong cầu nguyện, nhìn nhận rằng Chúa sai chúng ta đến đó và Người tự do hành động theo ý Người.

Một cuộc đi dạo như thế, để có kết quả, giả thiết phải có tính hiếu kỳ. Vài ngày trước khi qua đời, Clara mời các Anh Phan sinh đến bên giường bệnh của Bà và đọc cho Bà nghe những đoạn Kinh Thánh. Và khi anh Giuniphêrô, nổi tiếng vì biết hát lên những ca vãn nhiệt tình dâng lên Chúa, bằng những lời lẽ nóng cháy của con tim, xuất hiện giữa các anh kia, Bà hết sức vui mừng, hỏi anh xem anh có sẵn ngay chăng để nói về Chúa không (Xêl 45). Cùng với thánh Clara cầu nguyện 15 ngày, ngày này qua ngày khác, cứ không ngớt hỏi Bà: “Hôm nay, Bà có gì để dạy tôi về Thiên Chúa không?” Hoặc, nếu thích hơn, chúng ta hãy hỏi: “Hôm nay cầu nguyện gì?” Đề mục từng Chương trong 15 Chương trong cuốn sách này mong được là một phần giải đáp cho câu hỏi ấy.

Đây là phác họa bằng những đường nét lớn con đường chúng ta đi dạo cùng với thánh Clara. Nhưng hãy để cho cuộc hành trình này quyền dành cho chúng ta những ngạc nhiên. Chúng ta khởi hành từ chính những thực tế đơn sơ nhất của đời sống chúng ta. Cuộc đời quá phong phú nên không thể cho ép vào những thứ phân loại rõ ràng. Clara đã không viết ra một khảo luận về cầu nguyện để chúng ta chỉ cần đọc và bình luận. Trong một sưu tập các bản văn khác nhau của Bà (Thư, Di Chúc, Luật, Lời Chúc lành), chúng ta nhặt một ít đoạn bộc lộ điều Bà say mê và Bà thu góp nó từng ngày như Tin Mừng duy nhất có khả năng biến cuộc đời Bà thành lời ca: mầu nhiệm Đức Kitô nghèo khó. Chúng ta có nguy cơ phản bội lại tác giả của chúng khi cho rằng chúng phục vụ cho một kế hoạch quá nghiêm khắc. Từ đó, xin cho chúng tôi được phép thỉnh thoảng đãng trí vì một đoạn văn bất ngờ, vì những đường mòn cắt ngang, vì những bãi cỏ trổ bông mời mọc chúng ta dừng chân… Không có gì trong chuyện đó khiến chúng tôi đi ngược lại dự phóng của chúng tôi: chiêm ngắm Thiên Chúa của thánh Clara, và trong sự chiêm ngắm này, để cho Người biến đổi cái nhìn của chúng ta về Người, về chúng ta, về những người chung quanh chúng ta, về hương vị của cuộc sống hằng ngày. 

Ngày thứ nhất
ĐỂ CHO CHÚA ĐÓN NHẬN VÀ HÃY ĐẶT TIN TƯỞNG NƠI NGƯỜI

Thế rồi quay về với chính bản thân, người trinh nữ rất thánh thì thầm cùng linh hồn mình: “Ngươi hãy vững tâm ra đi, vì có một Đấng dẫn đường tốt lành; hãy ra đi vì Đấng dựng nên ngươi đã thánh hóa ngươi . Đấng ấy luôn bảo vệ ngươi như người mẹ che chở con mình và yêu thương ngươi với tình yêu dịu dàng âu yếm”. Rồi Bà nói thêm: “Còn Ngài, lạy Chúa, con xin ngợi khen Ngài vì đã tạo dựng nên con”.

Một chị em hỏi Bà là Bà đang nói chuyện với ai, Bà trả lời: “Mẹ đang nói chuyện với linh hồn diễm phúc của mẹ. Lúc này, Đấng dẫn đường chẳng còn ở xa nữa. Quả thế, quay về một người con, Bà hỏi: “Con có thấy Đức Vua vinh hiển như mẹ đang thấy đây không? (Xêl 46).

Con xin ngợi khen Ngài vì đã tạo dựng nên con

Để bước vào con đường cầu nguyện của chúng ta, cách nào đó chúng ta bắt đầu bằng sự kết thúc. Nhà viết tiểu sử thánh Clara gợi lên ở đây những giờ phút cuối của Bà, những lời nói cuối cùng của Bà. Thường những lời cuối cùng của một con người gói gọn lại những thực tế chính yếu đã đỡ lấy cuộc sống của người ấy. Như vậy, chúng ta thâu tóm cả cuộc đời thánh Clara bằng một cái nhìn duy nhất khi ngày nay chúng ta cầu nguyện với những lời cuối cùng trước khi Bà tắt thở. Và đó là những lời chúc tụng, ngưỡng mộ ngợi khen Thiên Chúa Tạo hóa. Thánh Clara đã nhận được từ Người từng giây phút của cuộc sống. Từ Người, Bà đón nhận mình cách trọn vẹn.

Trong Di Chúc của Bà, lòng biết ơn đón nhận Đấng Tạo hóa này được triển nở dưới hình thức một lời ngợi khen khác, được ngỏ với tất cả Chị em Bà. Tình yêu dẫn đến sự hiện hữu của Bà trở nên nguồn mạch trong tâm hồn Bà, Bà hết lòng biết ơn tình yêu ấy. Bà không thể đón nhận và ca ngợi sự Sống mà không để cho sự Sống qua Bà, chảy trên từng chị em của Bà cũng dồi dào như thế.

Cùng với thánh Clara cầu nguyện, như vậy là khám phá ra mình được bao bọc bởi bài ca khải hoàn của hai lời ngợi khen. Chúng đối đáp nhau như tiếng vang vọng dọc theo suốt cuộc sống.

Lời ngợi khen chúng ta cầu nguyện trong ngày thứ nhất này là dấu không phai nhòa của một thái độ sâu sắc về sự nghèo khó, sự truất hữu đứng trước lòng tốt lành của Đấng Tạo hóa. Đây là sự ngạc nhiên trước sự hiện diện của Đấng kêu gọi chúng ta đi vào cuộc sống, trước một tình yêu ước muốn chúng ta, dựng nên chúng ta bằng cách mặc cho chúng ta vẻ đẹp và lòng tốt lành của Người.

Thánh Clara nhận biết Đấng ban phát mọi ơn lành. Điều đó khiến Bà giãn nở qua một bài hoan ca đưa Bà ra khỏi mình để sống nhờ Người và cho Người. Lời ngợi khen của Bà là chính hơi thở của Bà. Trong đó, tâm hồn Bà ra khơi, Bà nhìn người khác và nhìn cuộc đời với lòng đầy kính trọng, đầy lạc quan. Nơi tiếng kêu cuối cùng trong niềm hân hoan ấy, Bà chia sẻ cho chúng ta toàn bộ cuộc sống của Bà. Không úp mở, Bà nhận thấy mình được Chúa trang điểm đẹp đẽ và có thể cùng với tác giả Thánh vịnh thốt lên: “Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng, công trình Ngài xiết bao kỳ diệu!” (Tv 139,14). Thánh Clara nói lại lòng ái mộ của Thiên Chúa thời bình minh của thế giới khi nhìn ngắm tạo thành của mình, Người thấy thế là tốt đẹp.

Bà viết cho Chị Agnès: “Trong Chúa, tôi nài xin chị tán dương Người bằng chính cuộc sống của chị” (3 Ag 41). Phải chúc tụng và ngợi khen Chúa nhiều lắm (DC Cl 22), đó là thái độ nền tảng của mọi đức tin, đức tin biến đổi cuộc sống thành năng lực chúc tụng ngợi khen dâng lên Đấng là Nguồn mạch mọi sự tốt lành. Lời ngợi khen của thánh Clara trước khi qua đời là sự biểu lộ trọn vẹn niềm vui sống của một người phụ nữ ngây ngất trong tình yêu Thiên Chúa dành cho Bà.

Đấng dựng nên ngươi đã thánh hóa ngươi

Thánh Clara biết mình là tác phẩm của Thiên Chúa. Trong lời ca tạ ơn của Bà, Bà không phủ nhận điều gì trong cuộc đời Bà, Bà không muốn để thời gian nào trong ngoặc đơn cả. Trong khi ở đó không thiếu những thử thách, như chúng ta đã nhắc tới, nhưng với tận đáy lòng, Bà ưng nhận bản thân mình như thế. Trong cùng một động tác, Bà đón nhận tất cả quá khứ của mình và tiếp nhận tương lai còn ẩn dấu trong Thiên Chúa với lòng tin tưởng.

Bà đã đạt tới sự hài hòa biết bao, tin tưởng biết bao, và cả sự nghèo khó nội tâm biết bao nữa, để đón nhận trên bàn tay mình toàn bộ cuộc sống và dâng lại Đấng Tạo hóa của Bà với bài ca chúc tụng ngợi khen trên môi! Sự ưng thuận ấy, lòng can đảm và trong sáng tuân phục trước thực tế trở thành nguồn đem lại sự bình an và là con đường dẫn đến sự kết hiệp với Thiên Chúa,

Thánh Clara biết điều đó: Đấng đã dựng nên ngươi cũng làm cho ngươi nên thánh. Người không ngừng bao bọc Bà bằng tình thương xót dịu dàng của Người. Tất cả niềm tin tưởng của Bà nằm ở đó. Sống hài hòa với lịch sử của chúng ta trong tất cả bề dày của nó, qua những chiến đấu, những chiến thắng, những niềm vui, những ghen ghét và yêu thương, nó sẽ từ từ trở thành mảnh đất phì nhiêu trên đó lời ngợi khen sẽ trổ sinh, trong lời ngợi khen ấy chúng ta phó mình trong tay Cha. Lời ngợi khen và tạ ơn đưa chúng ta vào sự thật của bản thân chúng ta: những tạo vật đôi khi bị biến dạng, thường bị tổn thương, nhưng là những tạo vật được yêu thương, được đón nhận từng giây từng phút ơn được sống và được tái sinh.

Lời nguyện cuối cùng của thánh Clara là bằng chứng cho thấy làn khí đã nuôi dưỡng Bà: một niềm thán phục không ngừng đối với cuộc sống đón nhận từ tay Thiên Chúa, Đấng đồng hành với Bà ngày qua ngày. Qua tất cả đời sống hằng ngày, một điều gì đó về khuôn mặt Thiên Chúa, về sự gần gũi lạ lùng của Người, và về tiếng gọi của Người được mặc khải ra. Trong lịch sử xáo trộn và đau thương của thế giới, trong cuộc tìm kiếm công lý và hòa bình và niềm khát khao hạnh phúc xâu xé chúng ta, chúng ta liên tục được mời gọi để cho sức mạnh của Thiên Chúa được biểu lộ ra. Thánh Clara gọi Người là Cha đầy lòng thương xót, vị Đại Ân nhân của mọi ơn lành trong quá khứ, hiện tại và tương lai (DC Cl 2). Một người Cha dịu hiền như thế chẳng lẽ lại thiếu sót đối với kẻ đã đặt tay mình trong tay Người khi đi đường sao? Thánh Clara an tâm tín thác nơi Đấng dẫn đường luôn hiện diện cách trung thành.

Về Thiên Chúa, không phải thánh Clara mơ. Đối với Bà, Đấng Tạo hóa có một khuôn mặt, khuôn mặt của Đức Giêsu, Đấng chịu đóng đinh nghèo khó (1T Ag 13). Ngợi khen Thiên Chúa, đó là tạ ơn vì được ban một Đấng dẫn đường tốt, chính là Con Thiên Chúa, Hình ảnh lòng tốt lành của Chúa Cha. Trọn cuộc đời Bà, Bà đã muốn bước theo đức nghèo khó, sự khiêm hạ và thánh đức đơn sơ của Chúa Giêsu. Khi đã đi đến cuối đời, Bà hân hoan trong niềm hạnh phúc mà sự hiện diện ấy của Vị Chúa nghèo khó mở ra cho Bà. Đó không phải là một món nợ, nhưng là một hồng ân đã mở rộng tâm hồn Bà đến những chân trời bao la của cái hiện tại đã được ban cho Bà. Từ Đấng dẫn đường đầy kinh nghiệm này, Bà đã nhận được tính kiên trì bền bỉ và sức mạnh âm thầm, chúng đã giúp Bà ngày qua ngày sống liều lĩnh theo Phúc Âm. Đức Kitô, Đấng dẫn đường của Bà, đã yêu thương Bà bằng tình yêu dịu dàng như một người mẹ yêu thương con mình. “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình. Cho du nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Is 49,15). Đức Giêsu đã giữ lời hứa: Ta sẽ luôn luôn bảo vệ các con (Xêl 22).

Lời ngợi khen không phải là một lời kinh thụ động chút nào. Nó là lời mời gọi lên đường: ưng thuận được yêu “vô điều kiện”, để cho mình được đón nhận bởi một Đấng khác, Đấng muốn chúng ta kết ước với Người, hòa giải trong niềm tin tưởng với tất cả sức nặng của đời sống cụ thể, vui tươi bước đi trước sự hiện diện của Đấng dẫn đường thần linh ấy, Thiên Chúa Cha, Con và Thánh Thần. “Ngợi khen và phó thác” là hoa trái ngon ngọt của một tâm hồn nghèo khó: tâm hồn yêu mến nồng nàn vị Thiên Chúa say mê thụ tạo của mình ấy, tâm hồn tín thác triệt để nơi Đấng ban phát và trao ban chính mình không giới hạn. 

Ngày thứ hai
ĐÓN NHẬN THIÊN CHÚA ĐÓN NHẬN NHỮNG NGƯỜI KHÁC

Con Thiên Chúa đã trở nên con đường cho chúng ta và Cha thánh Phanxicô chúng ta là người đã thật sự yêu mến và bắt chước Người, đã dùng lời nói và gương sáng chỉ dạy cho chúng ta biết con đường ấy.

Vậy chị em rất yêu dấu, chúng ta phải nghĩ đến những ơn huệ vô biên Thiên Chúa đã rộng ban cho chúng ta, nhất là những ơn Người đã thương chiếu cố đến chúng ta qua người tôi tớ yêu dấu của Người là Cha thánh Phanxicô chúng ta, không những sau khi chúng ta đã ăn năn trở lại, mà cả lúc chúng ta còn sống trong thế gian phù hoa nữa. Thật vậy, hầu như ngay sau khi trở lại, khi còn chưa có anh em hay bạn đồng hành, trong thời gian xây dựng nhà thờ thánh Đamianô, là thời điểm mà ngài được Chúa viếng thăm an ủi và thúc đẩy từ bỏ thế gian hoàn toàn, chính lúc ấy, trong niềm hân hoan và sự soi sáng của Chúa Thánh Thần, ngài đã nói tiên tri về chúng ta và sau này Chúa đã thực hiện.

Đó là lúc, ngài leo lên tường ngôi nhà nguyện, nói to bằng tiếng Pháp với mấy người nghèo đứng chung quanh, rằng: “Xin anh chị em đến giúp tôi xây đan viện thánh Đamianô, vì một số phụ nữ sẽ đến ở đây; danh thơm tiếng tốt và đời sống thánh thiện của các bà sẽ làm rạng danh Cha trên trời trong toàn thể Hội Thánh” (DC Cl 5-14).

Thánh Clara đọc lại tiểu sử của mình và lồng vào đó điều chính yếu trong những gì Bà muốn để lại cho các chị em, kho tàng không thể để mất hoặc bị lãng phí. Với trái tim của người phụ nữ, danh tánh của thánh Phanxicô sáng lên, đầy những kỷ niệm, những giờ phút sáng ngời, diễm phúc hoặc nặng nề, chúng chiếu soi cho cuộc chiến dai dẳng Bà cầm cự để đứng vững trên con đường đức nghèo rất cao cả. Sức mạnh cuồng nhiệt của lòng trung thành với hai bên đã giữ cho cuộc chạy của Bà về với Chúa được trở nên nhẹ nhàng. Từ chỗ đó phát sinh một niềm hạnh phúc được diễn tả qua lòng biết ơn sâu xa đói với Cha đầy lòng thương xót.

Thánh Phanxicô, dấu chỉ về Thiên Chúa

Thiên Chúa tìm thấy niềm vui được bày tỏ mình ra cho chúng ta qua lòng âu yếm của con người. Người chọn những khuôn mặt, thầm thĩ nhắc đến tên những người mà Người đặt ơn của mình vào đó. Người hy vọng chúng ta nhận ra được dấu chỉ của tình yêu duy nhất của Người. Đối với thánh Clara, ơn Chúa được nghe, được chạm tới, được chiêm ngắm nơi người con của ông thương gia ở Assisi, kẻ đã để cho ngọn lửa Phúc Âm nung nấu mình. Trong bài ca về cuộc đời của thánh Phanxicô, Clara khám phá ra bài ca cuộc đời của bản thân Bà. Trong sự gắn bó với người nghèo bé nhỏ, Bà gắn bó với Thiên Chúa nghèo khó, Đấng cuốn hút tâm hồn Bà, và trong tình yêu Bà dành cho Con Thiên Chúa, Bà hát lên tình yêu đối với thánh Phanxicô. Thánh Phanxicô là một quà tặng, ân huệ của Chúa, ân huệ cao quí hơn các ơn khác.

Thánh Phanxicô, nhà tiên tri

Một tình bạn như thế là một cánh cửa, là sự chung phần vào tiếng gọi duy nhất của Chúa Thánh Thần. Trong lúc thánh Phanxicô sửa lại nhà thờ San Đamianô, một trực giác do Chúa Thánh Thần soi sáng hướng ngài đến với Clara và chị em. Dưới sự thúc đẩy ấy, người nghèo bé nhỏ báo trước sự ra đời của Dòng các Chị em nghèo khó, họ sẽ sống cùng một đặc sủng như của ngài. Clara thể hiện lời tiên tri ấy khi Bà trở nên viên đá đầu tiên xây dựng một cộng đoàn say mê Chúa chịu đóng đinh nghèo khó. Sau khi đã sửa chữa ngôi nhà nguyện nhỏ, thánh Phanxicô biếu cho vị quản nhiệm số tiền cần thiết để mua dầu cho ngọn đền được thắp sáng thường xuyên. Bấy giờ ngài nghĩ đến ngọn đèn nào nơi cung thánh? Thánh Clara và các chị em Bà chẳng phải là ngọn đèn và dầu đèn đích thực tôn vinh hình ảnh Chúa chịu đóng đinh đó sao? Nhờ sự hiện diện trung thành tại San Đamianô, họ dáp lại nguyện vọng của thánh Phanxicô. 

Thánh Phanxicô, người dẫn đường

Nếu Chúa Cha tối cao trên trời đã đoái thương ban ơn soi sáng tâm hồn thánh Clara, thì thánh Phanxicô đã dùng lời nói và gương sáng chỉ dạy cho biết con đường ấy ( DC Cl 5 và 24). Thánh Phanxicô là con đường loan báo Con Đường. Thánh Clara nhận ra không do dự con đường rất cụ thể ngài đã mượn để mặc khải cho Bà con đường của riêng Bà: Thiên Chúa đã khấng dùng miệng Đấng thánh của Người mà nói về việc Người kêu gọi và tuyển chọn chúng ta (DC Cl 16).

Giống như một ngọn đèn trên đường đi, những lời nói của thánh Phanxicô được ghi sâu vào trong trí nhớ Bà sẽ chiếu sáng bước đi của Bà, nuôi dưỡng ước nguyện và nâng đỡ bước tiến của Bà. Tâm hồn Bà không khép kín lại khi ngài dùng cả đời sống mình mà khuyến khích Bà bước theo ơn gọi, ơn cao trọng hơn cả trong các ơn (DC Cl 2-4).

Người dẫn đường tốt mà Bà phó mình với lòng tin tưởng mang khuôn mặt của người điên mới kia của Thiên Chúa, người chia sẻ với Bà cùng một lòng say mê dành cho Đức Giêsu. Từ ngài, Bà đón nhận Thiên Chúa với những nét Bà khám phá ra đánh động tâm hồn Bà và đưa Bà lên đường dẫn đến cuộc sống của một Nữ tu nghèo khó. Sức lây lan của các gương sáng, âm giọng thuyết phục, lòng hăng say cuồng nhiệt đã dẫn thánh Phanxicô bước theo Đức Kitô nghèo khó và khiêm hạ, chúng lôi cuốn thánh Clara đi trên những dấu chân Con Thiên Chúa tối cao. Thánh Phanxicô chỉ cho Bà con đường làm người đích thực, sự viên mãn mà Bà hướng tới và chính Phanxicô đã mô tả như sau: Nhờ ơn Chúa soi sáng, chị em đã hiến mình để trở thành ái nữ và nữ tỳ của Vua rất cao cả, là Chúa Cha trên trời, và hiền thê của Chúa Thánh Thần (L Cl VI,3).

Phanxicô, người làm vườn

Thánh Phanxicô cam kết để ý săn sóc thánh Clara và các chị em, dành cho họ một sự quan tâm đặc biệt. Ngài được Chúa ban cho cộng đoàn San Đamianô như đấng sáng lập, vun trồng và nâng đỡ trong việc phụng sự Đức Kitô (DC Cl 48). Thánh Clara cảm động nhìn nhận điều đó: Khi còn sống, ngài đã hằng quan tâm dùng lời nói và việc làm để vun trồng và khuyến khích chúng tôi là cây nhỏ của ngài (DC Cl 49), ngài là cột trụ, nguồn an ủi và nâng đỡ chúng ta (DC Cl 38).

Là cây nhỏ của thánh Phanxicô, thánh Clara sống bằng cùng một nhựa sống, thở cùng một luồng khí tươi mát của Phúc Âm. Ngài là người làm vườn đối với Bà, đã vun trồng cho Bà lớn lên trên con đường thiêng liêng. Phần thánh Phanxicô, ngài đón nhận người chị em mình như người trợ giúp xứng hợp mà Thiên Chúa đã ban cho Ađam thuở ban đầu cuộc Sáng thế. Đối với ngài, thánh Clara là gương soi về những gì ngài được gọi sống giữa anh em mình trên các nẻo đường miền Ombria. Cùng với các chị em, Bà canh thức giữ đến cuối đời ngọn lửa Chúa Thánh Thần đã thắp lên trong tâm hồn con ông Phêrô Bernađônê, ném ngài lên trên các nẻo đường thế giới để than khóc cho Tình yêu không được yêu lại.

Với lòng tin và lòng mến nơi họ, thánh Phanxicô và thánh Clara nương tựa vào nhau. Chạy theo cùng một cuộc phiêu lưu, mỗi người cảm nhận được niềm hạnh phúc khi thấy tình yêu Chúa lớn lên nơi người kia. Cùng nhau đi sâu vào mầu nhiệm tình yêu khôn tả của Chúa chịu đóng đinh, họ có một sự hiệp thông lạ lùng gồm lòng biết ơn, lòng sốt sắng, lòng ngưỡng mộ và lòng yêu mến. Sự xa cách cũng như cái chết không thể cắt đứt mối hiệp thông ấy. Trong một tình yêu đã thoát khỏi mọi bản năng chiếm hữu, họ lưu ý đến nhau, với lòng thanh thản vững tin và với tình âu yếm mạnh mẽ, những dấu chỉ cho thấy khung trời Thiên Chúa trong lịch sử những con người chúng ta. Trong sự gắn bó không lay chuyển giữa hai con người ấy xuất hiện không gian vô tận của một tình yêu vô hạn, nơi đó mỗi người nhận được từ người kia chính Thiên Chúa. Mối hiệp thông giữa họ mở họ ra với sự tự do chân thật, ở đó khuôn mặt của người yêu không phải là màn che, nhưng là chân trời vô biên của Thiên Chúa. Mỗi người trở nên cho người kia hình ảnh của Thiên Chúa được yêu mến, hình ảnh của Thiên Chúa gần gũi và tối cao, Đấng tìm thấy niềm vui khi thấy con cái mình hạnh phúc và sự cao cả của Người là xóa mình đi để đi vào những khuôn mặt khác. 

Ngày thứ ba
GẮN KẾT VỚI CHÚA

Vì tình yêu đối với Đấng mà Bà đã hiến dâng thân mình làm của lễ thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa, như một Rakhen thứ hai, hãy luôn nhớ đến quyết tâm của Bà và nguyên tắc Bà đã vạch ra:

Điều gì Bà đã nắm giữ, hãy nắm giữ cho chắc; điều gì Bà đã làm, xin tiếp tục làm đừng bao giờ buông trôi. Nhưng, nhanh nhẹn rảo bước, nhẹ nhàng tiến lên, với đôi chân vững chãi, sao cho cả bước chân Bà cũng không hề vương bụi đường; hãy tiến lên, vững tin, vui vẻ và nhanh nhẹn, trên nẻo đường hạnh phúc đích thực (2T Ag 10b-13).

Hãy luôn nhớ đến quyết tâm của Bà

Khi viết thư cho chị bạn Agnès, Thánh Clara thúc bách chị luôn ghi nhớ tiếng gọi ban đầu của chị: nó chứa đựng ánh sáng để soi chiếu con đường đi và hơi thở để củng cố bước tiến của chị. Nhìn lại tiểu sử của mình sẽ gặp lại tư thế nền tảng của mọi lời cầu nguyện qua đó, dưới cái nhìn của Thiên Chúa, chúng ta bình tâm gom lại thành một bó sinh động những biến cố làm nên kinh nghiệm thiêng liêng của chúng ta và những lời đầy sức sáng tạo của Chúa định hướng cuộc đời chúng ta kể từ lúc bắt đầu.

Trí nhớ nóng hổi cung cấp một chặng nghỉ bổ dưỡng trong đó các sức mạnh của tâm hồn lại tung ra ước nguyện. Hãy luôn nhớ… Clara không mời gọi khép mình lại để nhớ về cuộc gặp gỡ Chúa lần đầu tiên trong quá khứ. Nhưng phải kín múc ở đó một năng lực mới cho cuộc chạy đua của chúng ta về với Người. Cái bắt đầu xuất hiện trước mắt chúng ta và tạo ra một tiếng gọi.

Luôn nhớ những kỳ công của Thiên Chúa trong cuộc đời chúng ta là cách tốt nhất để mình ra đứng trước sự hiện diện của tình Người yêu thương, tình yêu được trao tặng ngày hôm nay bởi vì đã được ban từ muôn thưở. Chính Người là Đấng đã kêu gọi sống giao ước, cũng chính Người ban cho chúng ta khởi đầu tốt đẹp, tăng trưởng và bền đỗ tới cùng (DC Cl 78).

Nhớ lại, trong những ngày đen tối, để soi sáng chúng bằng ánh sáng an bình của thuở bắt đầu, giúp cho con mắt tâm hồn sáng lên và cho toàn thể con người hoán cải bằng cách quay về với Thiên Chúa với một tình yêu chan chứa hy vọng và mở ra đón nhận những điều mới mẻ.

Khi gặp cám dỗ mạnh hơn để rồi chạy chậm lại hoặc dừng chân, khi nó âm ỉ đi vào trong tâm trí, tốt hơn hãy tiến, hướng về thuở bắt đầu của chúng ta, về những cội nguồn nuôi dưỡng chúng ta hôm nay bằng khế ước giữa chúng ta với Chúa. Đó là tư thế sống còn đối với người muốn chống lại những tên quỉ xúi dục bỏ cuộc, chúng khôn khéo làm chúng ta bị tê liệt khi rơi vào những cạm bẩy của tuyệt vọng. Thuở bắt đầu xuất hiện với chúng ta. Nguồn cội đã cuốn hút chúng ta không làm chúng ta thất vọng. Thiên Chúa gắn kết không suy suyển với thụ tạo của Người. Người yêu nó từ muôn đời đến muôn thuở. Ý Người muốn hiệp thông với chúng ta làm cho Người trở thành Người Nghèo. Người đáng thương trải qua những sự chối bỏ, những chống cự, những từ khước của chúng ta khi chúng ta không dùng tình yêu đáp lại tình yêu, khi chúng ta không gắn kết với Người bằng tình âu yếm và lòng trung thành.

Không hề vương bụi đường

Ghi nhớ dự phóng của mình giúp chúng ta tiến tới cách dứt khoát và can đảm trên đường lối Phúc Âm. Tại sao phải sợ bởi vì Thiên Chúa, Đấng hôm qua đã đặt thánh Clara và chị Agnès trên đường, hôm nay vẫn còn ở đó, gần hơn bao giờ hết. Họ có thể tiếp tục cuộc hành trình, với niềm gắn kết không lay chuyển với Thiên Chúa của giao ước: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Người không ở lại trong tâm hồn của người cất giữ kho tàng đức nghèo khó sao? Xác tín vào sự gần gũi ấy giúp thánh Clara viết cách chắc chắn cho chị Ermentrude:

Hỡi con yêu dấu, đừng sợ gì cả,

Vì Thiên Chúa trung tín với mọi lời Người phán

Và thánh thiện trong mọi việc Người làm.

Người sẽ tuôn đổ phúc lành xuống

Trên con và con cái của con.

Người sẽ là nguồn trợ lực

Và Đấng an ủi tốt nhất của con,

Bởi vì Người là Đấng cứu chuộc

Và là phần thưởng muôn đời cho chúng ta (T Er 15-16).

Từ đó, điều thiết yếu là đừng vơ vét bụi bặm mà làm mình thêm nặng, trái lại, hãy để lại đàng sau tất cả những gì cản trở bước đi. Phải trung thành với một tiếng gọi. Thánh Clara không nhìn lại đàng sau. Các ngăn trở không làm Bà chao đảo. Bà hy vọng không ngừng, mặc dù có những ngày niềm hy vọng của Bà là một thách đố nặng nề. Thánh Clara gặp không những bụi bặm, nhưng cả những lồi lõm và đá trên đường nữa. Bị hiểu lầm, bị rơi vào tình trạng cô đơn, Bà chiến đấu kiên cường. Nhưng các thử thách không làm cho Bà co rút lại trên chính mình. Trái lại, sự trái nghịch tạo ra một ước mong gắn kết ngày càng mạnh mẽ hơn với Đấng tối cao. Ý thức về tiếng gọi của Chúa Thánh Thần, Bà bước đi trên nẻo đường hạnh phúc với sự khôn ngoan của những người nghèo.

Không gì làm Bà nản lòng và Bà viết cách chân thật ngay trong Luật Dòng của Bà: Chúng tôi không sợ đời nghèo khó, làm việc lao nhọc, những thử thách gian nan, nếp sống hèn hạ và thế gian khinh chê; trái lại, chúng tôi xem những điều ấy như những niềm vui lớn lao (L Cl VI,2). Và Bà tâm sự với Thầy Raynalđô: Anh rất quý mến, từ ngày nhờ thánh Phanxicô, tôi tớ Chúa, tôi cảm nghiệm được ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, thì đối với tôi, không còn khổ đau nào là khó chịu, không còn kiểu khổ hạnh nào là nặng nề, không còn bệnh tật nào là khổ sở nữa (Xêl 44).

Nhẹ nhàng tiến lên

Gặp gỡ thánh Clara, đó là nhập vào một cuộc chạy, để mình bị cuốn hút bởi đà chạy của một phụ nữ say mê Tình Yêu. Mâu thuẫn biết bao! Nội vi của đan viện San Đamianô – thật là hạn hẹp – nhưng lại mở ra đến vô biên: Là kẻ lữ hành trong một cuộc phiêu lưu nội tâm, thánh Clara luôn bắt đầu lại để đi trên con đường đến với Chúa, đến với bản thân. Hạnh phúc của Bà ư? Đó là chọn đi cùng một con đường như Đức Giêsu, để không bao giờ rời xa con đường ấy. Tình yêu si mê Đức Kitô lôi cuốn Bà và thúc đẩy Bà thực hiện một cuộc vượt qua: vượt qua một cuộc hành trình nặng nề và vương vấn do cái tôi muốn chiếm hữu sang một cuộc chạy nhẹ nhàng, thanh thoát như một bước nhảy múa, trên nẻo đường hạnh phúc. Lời khuyên lạ lùng của một người vĩnh cư dành cho một người vĩnh cư khác!

Nhà viết tiểu sử của Bà ghi: Ngài cố gắng nên giống Đấng chịu đóng đinh nghèo khó về đức nghèo khó tuyệt hảo, sao cho không một điều tạm bợ nào ngăn cách được người yêu với Đấng được yêu, hoặc cản bước ngài chạy tới với Đức Chúa (Xêl 14). Nơi khác tác giả ghi chính xác: Kể từ khi đó, đã bỏ thế gian ra bên ngoài và được giàu có bên trong tâm hồn, ngài tự do và nhẹ nhàng chạy theo sau Đức Kitô (Xêl 13). Thánh Clara khích lệ chị bạn thực hiện cách dứt khoát và trung thành quyết tâm sống trong đức nghèo rất cao cả.

Nếu Con Thiên Chúa đã trở thành con đường, mỗi giây phút đều tạo điều kiện cho một bước mới mà sự truất hữu làm cho nên nhẹ nhàng. Đức Nghèo vương giả mà thánh Phanxicô và thánh Clara kết duyên giải phóng con tim để họ thực hiện một cuộc chạy không vật cản nào có thể kìm hãm đà tiến, không gì làm nặng bước. Bà mở con đường, hẳn là chật hẹp, nhưng nhanh hơn và chắc chắn hơn. Thánh Clara không gặp phải sự chao đảo, sự nguội lạnh, sự buồn bã hoặc sự thất vọng lại càng ít gặp hơn.

Chính Chúa Thánh Thần kêu gọi, chính nhờ Chúa soi sáng (L Cl II,1), thánh Clara và chị Agnès bước đi trên con đường của Con Thiên Chúa. Từ đó, con đường chỉ có thể là con đường hạnh phúc thôi. Bởi vì Thiên Chúa là Chúa của niềm hạnh phúc cho con người. Lời Người kêu gọi không làm chúng ta trở thành những kẻ cằn cỗi và xấu xa, nhưng thành những người đứng thẳng và rạng rỡ. Cuộc chạy của chúng ta không hề là một ước vọng gây lo lắng, nhưng nó trở nên sự thanh thản đầy tin tưởng, niềm hy vọng tươi sáng.

Thánh Phaolô nói: “Tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi”. Thánh Clara không để sang ngày mai bước chân của ngày hôm nay, Bà cũng không thể dừng lại trên đường, bởi vì khắp mọi nơi, mọi lúc và mọi thời buổi, hằng ngày chẳng lúc nào ngơi, tất cả chúng ta hãy yêu mến, thờ phượng, phụng sự Chúa (1L XXIII,11). 

Ngày thứ tư
CHIÊM NGẮM BAN SÁNG

Đức Kitô là phản ánh của vinh quang trường cửu, vẻ rực rỡ của ánh sáng muôn đời và tấm gương trinh trong. Mỗi ngày con hãy nhìn ngắm tấm gương này, thưa nữ hoàng và hiền thê của Đức Giêsu Kitô. Con hãy thường xuyên soi mặt trong đó, để có thể mặc gấm thêu vàng cho xinh đẹp cả bề trong lẫn bề ngoài, và trang sức bằng những bông hoa và xiêm y là các nhân đức cho xứng với một ái nữ và một hiền thê trinh khiết của Đức Vua Tối Cao. Tấm gương này phản chiếu đức nghèo toàn phúc, đức khiêm nhường thánh thiện và tình yêu khôn tả: đó là điều, nhờ ơn Chúa, con có thể chiêm ngắm trên toàn tấm gương.

Hãy nhìn xem phần trên tấm gương: đó là sự nghèo khó của Đấng được đặt nằm trong máng cỏ, mình bọc tã thô hèn. Ôi sự khiêm nhường thật kỳ diệu, sự nghèo khó thật lạ lùng! Đây, Đức Vua của các Thiên Thần, Chúa tể trời đất, mà lại nằm trong một máng cỏ (4T Ag 14-21).

Lời cầu nguyện của thánh Clara diễn ra trong ánh sáng của ảnh thánh giá đã nói với thánh Phanxicô. Suốt bốn mươi năm Bà chiêm ngắm ảnh tượng ấy, ảnh tượng của Con chí ái, gương phản chiếu lòng dịu hiền của Chúa Cha, khuôn mặt của Thiên Chúa Cha yêu thương vô hạn. Tượng ảnh này ghi khắc những nét riêng của mình trên toàn thể kinh nghiệm thiêng liêng của Bà. Sự phong phú mang tính biểu tượng phi thường của cây Thánh giá ở San Đamianô đặt ra trước mắt thánh Clara và các chị em tất cả lịch sử cứu độ và giao ước của Đấng Tối Cao với loài người, giao ước thân tình phát sinh từ tình yêu của Chúa chịu đóng đinh. Qua sự chiêm ngắm bền bỉ và đầy tình yêu mến, thánh Clara nhận ra nơi thân thể bị thương và vinh quang của Đức Kitô một Thiên Chúa dễ bị tổn thương, trái tim của Cha đầy lòng thương xót. Qua các di cảo của Bà, Thánh giá San Đamianô chiếu ánh sáng kỳ lạ và hồng phúc. Thánh giá này tỏ ra là nền tảng vững vàng và chắc chắn cho lời cầu nguyện của Bà, trong đó toàn bộ sự nghèo khó phong phú của Thiên Chúa được trao cho mỗi người tập trung nơi một khuôn mặt – và tập trung nơi cái nhìn trên khuôn mặt ấy.

Đấng chí ái chịu đóng đinh là hình ảnh Chúa Cha, phản ảnh một tình yêu không rút lại. Hoàn toàn tự nhiên, thánh Clara kéo chúng ta đến đứng như Bà trước tấm gương không tì tích của vinh quang trường cửu, của Tình Yêu tuyệt đối. Hình ảnh tấm gương được mượn từ Kinh Thánh, nó mô tả đức Khôn ngoan của Thiên Chúa như “phản chiếu ánh sáng vĩnh cửu, là tấm gương trong phản ánh hoạt động của Thiên Chúa, là hình ảnh lòng nhân hậu của Người” (Kn 7,26). Để hiểu biểu tượng tấm gương thánh Clara sử dụng, chúng ta phải giữ cho đoạn văn Kinh Thánh này hiện diện trong tâm trí. Tấm gương là Đức Giêsu cùng một lúc cho chúng ta thấy Thiên Chúa là Ai và mặc khải cho chúng ta về vẻ đẹp của chính chúng ta.

Thánh Clara mời gọi người nhận thư của Bà dừng lại lâu trước tấm gương ấy: Mỗi ngày con hãy nhìn ngắm tấm gương này, con hãy thường xuyên soi mặt trong đó, hãy chiêm ngắm, hãy chú ý… Như thế Bà khám phá ra mình, được mặc lấy ân huệ của Đấng Bà chiêm ngắm, mặc lấy “con người mới”, được trang sức bằng những bông hoa và xiêm y là các nhân đức, bằng sức năng động của tình yêu.

Từ việc chiêm ngắm Đức Giêsu, thánh Clara nhận được sự diễn tả vẻ huy hoàng lạ lùng của Thiên Chúa. Chính nơi Người mà Thiên Chúa nói với chúng ta. Không có ai khác là Lời ngoài Người (Dt 1,2). Đức Giêsu là Hình ảnh tuyệt hảo về Chúa Cha. Thánh Tông Đồ Philiphê được nghe trả lời: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9). Nơi Người, chúng ta nhận biết khuôn mặt hữu hình của Chúa Cha. Tức khắc khuôn mặt ấy được bày tỏ ra cho thánh Clara như một thực tại sáng láng, đẹp đẽ, tinh tuyền. Lòng chúng ta khao khát muốn được gặp Chúa thấy được thoa dịu phần nào qua sự gặp gỡ khuôn mặt người Con chí ái của Thiên Chúa mà chúng ta thực hiện hằng ngày. Nhắc đến chiếc gương lồi ba mặt, Clara nhận ra trong cuộc đời của Đức Giêsu ba giai đoạn lịch sử của Người: buổi bình minh là cuộc giáng sinh, ban ngày là cuộc sống công khai của Người và buổi hoàng hôn là cái chết của Người. Trong Di Chúc của Bà, khi nhắc đến sự chọn lựa đức nghèo, Bà khuyên chị em sống trung thành vì lòng mến đối với Thiên Chúa

Đấng đã nằm nghèo khó trong máng cỏ,

sống nghèo khó ở trần gian

và chịu treo trần truồng trên thập giá (DC Cl 45).

Hành động của Thiên Chúa trong lịch sử chúng ta diễn ra ở đó.

Sự nghèo khó trong máng cỏ

Bình minh ngày của Thiên Chúa mọc lên trong một máng cỏ: một hài nhi, một bé thơ! Đức Vua của các Thiên Thần, Chúa tể trời đất, mà lại nằm trong một máng cỏ! Thánh Clara có tài trong những điều nghịch lý ấy, chỉ nhìn một cái, Bà thâu tóm được toàn bộ mầu nhiệm tự hủy của Đức Giêsu: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ… (Pl 2,6-7). Trong sự khiêm hạ của Người, Thiên Chúa trở nên một hài nhi. Người chấp nhận sinh ra trong yếu đuối, như bất cứ trẻ sơ sinh nào khác, và trong những hoàn cảnh thiếu thốn, như số đông những người nghèo vậy… Lúc Người sinh ra, sự giàu có duy nhất của Người, đó là kho tàng lòng tôn kính, sự ân cần và tình âu yếm của Thân mẫu Người, Đấng bọc Người bằng tã thô hèn.

Thánh Clara nhấn mạnh, mạnh mẽ nài nỉ chị em kết hiệp với sự nghèo khó thuở ban đầu của Đức Giêsu! Như thế nào? Chẳng hạn, trong cách ăn mặc của họ: Vì lòng kính mến Hài Nhi rất thánh và rất đáng mến yêu, được bọc tã nghèo hèn, đặt nằm trong máng cỏ, và vì lòng yêu mến Thân mẫu chí thánh của Người, tôi khuyên nhủ, nài xin và khích lệ chị em hãy luôn mặc y phục thô hèn (L Cl II,24).

Thực tế nghèo khó của Con Thiên Chúa không xa rời tâm hồn thánh Clara. Sự nghèo khó của máng cỏ có lay động đủ giấc ngủ thiêng liêng của chúng ta không? Hoặc chúng ta có làm cho máng cỏ và những chiếc tã của “Hài Nhi bé nhỏ Giêsu” trở nên tầm thường đến độ không để cho những dấu chỉ nhỏ mọn như thế đánh động lòng nhạy cảm của chúng ta được, ít là là thoáng qua? 

Đón nhận những thuở đầu mong manh

Cuộc Nhập thể của Đức Giêsu vẫn là con đường Thiên Chúa chọn lựa để nói với chúng ta cái giá mà chúng ta có trước mắt Người và để như thế, Người mặc khải cho chúng ta thấy sự cao cả của chính chúng ta. Từ máng cỏ đến thập giá, Đấng Tối Cao nhận lấy nhân tính yếu hèn của chúng ta và qua đó, Người liên kết khả năng yêu mến kém cỏi của nó vào đó.

Cuộc phiêu lưu của ơn cứu đô bắt đầu nơi thân thể của Đức Maria: Hãy bám chặt vào Mẹ rất dịu dàng của Người, đấng đã hạ sinh một người con cao trọng đến nỗi trời không chứa nổi, thế mà Ngài đã cưu mang trong dạ mẹ nhỏ bé và thánh thiện và nâng niu Người trong lòng trinh khiết của mình (3T Ag 18-19). Niềm hạnh phúc của đức nghèo, nét đầu tiên của khuôn mặt mà thánh Clara chiêm ngắm trong tấm gương. Sự nghèo khó xuất hiện trước tiên và nó đập vào mắt và tâm hồn Bà.

Nơi Đức Giêsu, sự nghèo khó chiếu tỏa ánh sáng rực rỡ. Nó nhận từ nơi Người ý nghĩa thật của nó, mở cho thấy mầu nhiệm sâu thẳm của nó. Người đến với chúng ta hai bàn tay trắng và dễ bị tổn thương để mặc khải cho chúng ta kho tàng mà đức nghèo khó cất giấu. Điều thiện hảo đích thật có khả năng dẫn chúng ta đến hạnh phúc ẩn chứa trong mối tương quan với Đấng khác và với những người khác. Nó triển nở ra nơi lòng biết ơn, nơi sự lệ thuộc đầy tin tưởng và nơi sự xóa mình đi trước mặt Người. Những do dự của chúng ta, những lầm đường lạc lối của chúng ta, những thất bại của chúng ta không bao giờ có thể hủy diệt được tình yêu mà Thiên Chúa nghèo khó ấy dành cho chúng ta, Đấng đã đến “để lấy cái nghèo của mình mà làm cho chúng ta trở nên giàu có” (2Cr 8,9). Sự mong manh trong những bước đi vô định của chúng ta chứa đựng mầm mống của một niềm hạnh phúc thật được Chúa biết đến, và chúng ta đôi lúc nhận ra vài tia sáng của niềm hạnh phúc ấy qua đoạn giữa:

Ôi đức nghèo khó hồng phúc,

Vì nó ban của cải muôn đời

Cho những ai yêu mến và thực hành nó (1T Ag 15).

Ngày thứ năm
CHIÊM NGẮM BAN NGÀY

Ở phần giữa tấm gương, con hãy nhìn xem lòng khiêm nhường, sự nghèo khó hồng phúc, bao nỗi nhọc nhằn và khổ nhục khôn tả Người đã chịu để cứu chuộc loài người (4T Ag 22)

Thánh đức khiêm hạ

Trong mầu nhiệm Nhập thể, thánh đức nghèo khó là bạn đồng hành của Vua các Thiên Thần. Không bao giờ nó lìa bỏ Người. Trong đời sống công khai của Đức Giêsu, nó ẩn mình sau một cuộc sống bên ngoài không có gì sáng giá đưa Người đến gần với thân phận vô danh kỳ lạ: “Họ nói: “Ông ta không phải là bác thợ, con bà Maria, và anh em của các ông Giacôbê, Giôxét, Giuđa và Simon sao? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao?” Và họ vấp ngã vì Người” (Mc 6,3).Thiên Chúa luôn ở nơi nào khác ngoài nơi chúng ta chờ đợi Người sao? Có thể. Nhiều khi chúng ta đi tìm khuôn mặt của Người dưới hình dạng của những nhà phù phép, đầy dẫy những chuyện lạ lùng nhưng thiếu sự hiện diện thật của Người. Thánh Clara mời gọi chúng ta dừng lại lâu trước một cuộc đời không đáng kể, được ghi dấu nghèo khó, những mệt nhọc và những đau khổ. Bà đã hiểu thấu triệt rằng những thực tại thiêng liêng cao vời nhất được gặp thấy nơi những cái tầm thường nhất. Không bao giờ Bà tách biệt kinh nghiệm thiêng liêng ra khỏi “công việc trong nhà”; ở đó, Bà khám phá ra Thiên Chúa nơi con người trần thế của Người. Bà rút ra được cái lô gích của mầu nhiệm Nhập thể, con đường nghèo khó của Đức Giêsu đến tận những hệ luận sâu xa nhất của nó: con đường hẹp thật tầm thường của mỗi ngày được đặt ra cho chúng ta đi là con đường duy nhất dẫn Bà đến gặp Chúa. Lời Chúa được nói ra nơi tình yêu tự xóa mình đi và không tính toán nỗi vất vả!

Con Thiên Chúa sống “sát đất”, nếu chúng ta dám nói như vậy, tận nơi thấp nhất của thân phận loài người chúng ta, chấp nhận bị tổn thương vì các thử thách và các bệnh tật của chúng ta, xúc động vì những tiếng kêu than trong nỗi khốn cùng và những tiếng cầu cứu của chúng ta. Quá ít điều được tỏ cho thấy! Và thật dễ thất vọng khi đối diện với cuộc đời của một Thiên Chúa Tối Cao chôn vùi như thế trong con người mỗi ngày của chúng ta. Nhưng sự phong phú là Người ở với chúng ta: Thiên-Chúa-ở-cùng- chúng-ta hiện diện nơi tối tăm nhất của lịch sử chúng ta để nơi đó, Người mở ra cánh cửa của trời mới đất mới. Thiên Chúa của Đấng Thánh trên hết các Thánh, trước mặt Người Môsê phải cởi dép ra (Xh 3,5) và là Đấng làm cho Isaia nhận ra mình đầy ô uế (Is 6,5), Người bước đi trên các nẻo đường của chúng ta, Người bị trầy sướt vì gai góc và sỏi đá. Sự thánh thiện của Người lẻn hoàn toàn vào trong những nỗi vất vả mệt nhọc của chúng ta để biến đổi chúng và làm cho chúng trở nên nhẹ nhàng nhờ sự hiện diện nặng ký của Người. “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28). Kinh nguyện của chúng ta có lau sạch đôi mắt chúng ta để chúng ta khám phá ra bóng huy hoàng của một Thiên Chúa khiêm hạ nơi những giờ tẻ nhạt nhất không?

Thiên Chúa “mang tạp dề”

Ở chương 13 Phúc Âm Gioan, thánh Tông Đồ Gioan ghi lại biến cố rửa chân. Thánh sử xác định cuộc vượt qua của Đức Giêsu về với Chúa Cha như là sự viên mãn của tình yêu, đối với Chúa Cha và đối với những ai thuộc về Người. “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Đã đến giờ Đức Giêsu mặc khải cho chúng ta đến mức nào Thiên Chúa là tình yêu. Người nói điều đó với chúng ta không phải chỉ trong một bài giảng, nhưng trong một hành động đơn sơ, được ấn định nơi cuộc sống bình thường nhất, một hành động tái tạo, phục hồi và trả lại danh dự. Đức Giêsu “đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức Giêsu đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau” (Ga 13,4-5). Đó là Vị Thiên Chúa lạ lùng mà Đức Giêsu mặc khải: Thiên Chúa thật bé nhỏ dưới chân người nam người nữ mà Người nhận ra sự cao trọng! Thiên Chúa quì gối trước mặt chúng ta! Thiên Chúa thắt tạp dề mỗi khi một người nam hay một người nữ cần được phục vụ, có những bàn chân cần được lau, cần được làm sạch bụi bặm họ vương phải trong những cuộc chiến đấu, trong những việc lao động vất vả. Chúng ta hiểu khá rõ sự cưỡng lại của thánh Phêrô! Giống như ngài, chúng ta chống lại: Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu!” “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy” (Ga 13,8). Câu trả lời của Đức Giêsu đưa chúng ta trở về với khát vọng trong kinh nguyện của chúng ta: “ở với Người”, chung phần với Người trọn vẹn và dấn thân trên cùng một con đường trút bỏ và yêu thương trao hiến. Đó là con đường cứu độ của chúng ta.

Với bao tinh tế mang tính thần học, thánh Clara quả quyết rằng không phải chỉ ba ngày thánh của cuộc Thương Khó, chết và sống lại, là nguồn ơn cứu rỗi thế gian, nhưng còn cả cuộc sống ẩn dật tại Nadarét và cuộc sống công khai nữa. Nơi từng cử chỉ, từng cuộc gặp gỡ hoặc từng lời nói của Đức Giêsu, tất cả tình yêu của Chúa Cha được nhập cuộc và trao ban. Cũng là như thế nơi từng thực tế của đời sống chúng ta, dù nó cay đắng hay sáng sủa. Thiên Chúa tìm thấy niềm vui khi Người hạ mình xuống dưới chân chúng ta để nói không ngừng với chúng ta về tình yêu trung thành của Người và về cái giá mà chúng ta có trước mắt Người. “Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em… Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em” (Ga 13,15.17). Đối với thánh Clara, mẹ và tôi tớ của chị em ở San Đamianô (DC Cl 79), không có chìa khóa hạnh phúc nào khác ngoài yêu mến như Con Thiên Chúa yêu mến bằng cách đi theo con đường của Người Tôi Tớ. Đó là nơi Thầy và Chúa hẹn gặp chúng ta để chúng ta có một “niềm vui không ai lấy mất được” (Ga 16,22).

Ngày của Chúa trong những ngày của chúng ta

Đối với thánh Phanxicô và thánh Clara, việc rửa chân là cử chỉ nền tảng của Chúa nghèo khó. Chiêm ngắm cử chỉ ấy, “lắng nghe nó” và biến nó thành của mình, đó là sự khôn ngoan cho người nghèo khó muốn ôm ấp Đức Kitô nghèo khó (2T Ag 18). Thánh Clara nói với chúng ta Đức Kitô là gương soi hết sức trung thành với chính bản thể Thiên Chúa. Chúng ta hiểu lời thánh Clara mời gọi mỗi ngày nhìn tấm gương ấy. Chúng ta không thể biết Tình Yêu nếu không ở lại trong mầu nhiệm sự nghèo khó của Chúa, bằng việc cầu nguyện miệt mài. Mỗi ngày, Bà nói với chúng ta… không phải cầu nguyện lo ra chia trí, uể oải, không dành thời giờ để đặt một sự khiêm hạ trọng đại như thế vào tâm hồn và cả nơi thân xác chúng ta, tinh thần phàm nhân mà thôi không thể hiểu thấu được. Thế nhưng, theo thánh Clara, sự phi thường của mặc khải này không để cho chúng ta chiêm ngắm nơi thần thiêng nào khác, xa những phạm vi quen thuộc của chúng ta. Sự nghèo khó hồng phúc nằm trong những cái thường ngày của chúng ta! Giữa những công việc nhiều khi tầm thường và đều đều, trong thời giờ trôi qua của chúng ta, tuôn chảy thời gian ngọt ngào của Thiên Chúa, Đấng có thể làm cho mọi sự thấm đượm niềm tin tưởng, lòng can đảm và sự thanh thản. Cuộc sống và sự phức tạp của nó nhiều khi có thể làm chúng ta chán nản. Niềm xác tín vào sự hiện diện của Chúa, dù yếu ớt, sẽ ngăn không để chúng ta mất trí. Khi thời gian năm tháng tiêu hao sức lực của chúng ta, gặm mòn ý nghĩa những công việc phải làm, những mục tiêu theo đuổi, khi phải đi đến tận cùng những chọn lựa của chúng ta, niềm vui được kết hiệp với Đức Giêsu, nơi chúng ta ở, trong điều chúng ta sống, đủ để đem lại sự bình an và hương vị cho cuộc đời chúng ta. Nỗi buồn chán làm phai nhạt nhiệt huyết của chúng ta, chúng ta biết tìm Chúa ở đâu. Trong bao nỗi nhọc nhằn và khổ nhục, tình yêu Đức Kitô nghèo khó lôi kéo chúng ta đến với hạnh phúc của Chúa Cha, Đấng không muốn giữ lại bản thân mình chút nào và trao ban trọn vẹn cho ai đón nhận Người trọn vẹn. 

Ngày thứ sáu
CHIÊM NGẮM BAN CHIỀU

Ở phần dưới tấm gương, con hãy chiêm ngưỡng tình yêu khôn tả khiến Người chịu khổ hình thập giá và chịu một cái chết nhục nhã nhất. Do đó, chính tấm gương này, khi treo trên thập giá, đã nhắc nhở khách qua đường về điều họ phải chiêm ngắm, với những lời sau đây: “Này tất cả những ai qua lại, hãy nhìn kỹ mà xem, có nỗi khổ nào so sánh được với nỗi khổ của tôi chăng?” Cùng hợp tiếng, hợp lòng, chúng ta hãy đáp lại lời Người than vãn, như chính Người đã nói: “Nỗi niềm riêng canh cánh bên lòng, khiến hồn con tiêu hao mòn mỏi” (4T Ag 23-26).

Người trần truồng trên cây gỗ

Đức nghèo khó và đức khiêm hạ của Chúa Kitô thánh Clara chiêm ngắm là những hoa trái ngọt ngào nhất của tình yêu. Hơn thế nữa, chúng là những tên gọi khác của tình yêu. Chúng tuôn trào từ tình yêu như từ một sức mạnh dịu dàng và dẫn trở về lại đó. Đối với Chúa Giêsu, con đường yêu thương “đến tận cùng” mở toang trên thập giá.

Chiêm ngắm Đức Giêsu chịu đóng đinh, thánh Clara đứng trước một bụi gai cháy lửa tình yêu hoàn toàn ra khỏi chính mình, một lễ dâng tinh tuyền, một sự ban tặng triệt để. Nếu tình yêu của Thiên Chúa được mặc khải qua tất cả cuộc đời Đức Giêsu, không nơi nào tình yêu ấy sáng ngời rực rỡ đến thế, ngoại trừ vào giờ Người chấp nhận chết bằng một cái chết nhục nhã nhất. Vào giờ ấy, Đức Kitô nghèo khó ở mức cao độ nhất của đức nghèo, bị xúc phạm trong cảnh trần truồng, bị mọi người hất hủi, bị những người thân phản bội. Những chiếc tã của trẻ sơ sinh tại Bêlem đã là đáng thương phần nào rồi, nhưng ít ra, chúng cũng nói lên lòng âu yếm và lòng tôn kính của một người mẹ. Trên Núi Sọ, Đức Giêsu bị phơi trần trước lời nhạo báng của đám đông quần chúng. Con người nghèo khó của Nadarét trở nên một “người tội nghiệp” bị phó mặc cho lời chế nhạo, cho sự nhục nhã. Trên Núi Sọ, sự khinh chê, sự hiểu lầm đã đạt đến cực độ. Việc loài người từ chối tình yêu Đấng chịu đóng đinh ban tặng tạo nên vết thương đau đớn nhất nơi con tim của Chúa Cha.

Tình yêu không được yêu lại! Thánh Phanxicô muốn đi khắp thế gian than khóc về cuộc khổ nạn của Chúa. Trong từng thớ thịt của con người ngài, ngài kết hiệp với tình yêu vô biên ấy của Con Thiên Chúa, đến độ những dấu tích cuộc Khổ nạn của Đấng chịu đóng đinh nghèo khó in trên thân xác ngài. Đối với thánh Clara, không có các dấu thánh. Tuy nhiên, làm sao tin được rằng một người phụ nữ say mê đến thế Chúa chịu đóng đinh trên thập giá vì yêu tình yêu của chúng ta lại không mang trong con người mình vết bỏng sâu nhất của một hiến lễ như vậy sao?

Thiên Chúa khát

Cho đến giờ, thánh Clara xin chúng ta nhìn. Và bây giờ, Bà mời gọi chúng ta đi vào cuộc đối thoại. Bỗng nhiên, tấm gương treo trên thập giá trở nên sống động. Một tiếng than vang lên giữa sự thinh lặng. Từ miệng Đức Giêsu trên thập giá, thánh Clara đón nhận một lời than vãn của Giêrusalem bị sỉ nhục (Ac 1,12): “Hãy nhìn kỹ mà xem: Có nỗi khổ nào so sánh được với nỗi khổ Đức Chúa giáng trên tôi!” Nỗi khổ mà thánh Gioan diễn tả bằng một tiếng kêu cuối cùng: “Tôi khát” (Ga 19,28). Trên thập giá, Đức Giêsu gặp một sự cô đơn vô tận. Nỗi cô đơn của một tình yêu trao ban nhưng chỉ gặp phải sự im lặng trốn chạy, sự hiểu lầm, sự chối từ. Tiếng kêu của Đức Giêsu sắp chết cho thấy nỗi ước ao vô cùng của Người, Người khát được hiệp thông với thụ tạo. Tiếng kêu ấy đánh động tâm hồn thánh Clara, khiến Bà tính đến cường độ của tình yêu khôn tả.

Cầu nguyện trước Chúa chịu đóng đinh là trao đổi. Tình yêu của Con Thiên Chúa, trong giờ chịu Khổ nạn và chịu chết, không phải là một thực tế chúng ta đứng ngoài cuộc mà nhìn ngắm, không dám dấn thân vào đó như những người thủ vai. Lời cầu nguyện của thánh Clara, tiếp đó là lời cầu nguyện của chúng ta, trở nên cuộc gặp gỡ, đối thoại trong yêu thương và đồng cảm, lắng nghe để, với ơn Chúa Thánh Thần, hiểu lòng thương xót khôn lường khôn thấu của Chúa Cha. Sự chiêm ngắm này khắc ghi trong trí nhớ: Nỗi niềm riêng canh cánh bên lòng. Cuộc Thương khó của Đức Giêsu chiếm ngự tâm hồn thánh Clara ngày đêm. Cơn đau đớn của Đấng Bà yêu mến trở nên nỗi đau của Bà trong một mối hiệp thông vừa là đau đớn vừa là ngỡ ngàng. Sự cầu nguyện mà Bà thổ lộ với chị Ermentrude thành Bruges: Hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, và yêu mến Đức Giêsu, Thánh Tử Người, Đấng đã chịu đóng đinh vì chúng ta là kẻ có tội. Chị đừng bao giờ thôi nghĩ tưởng về Ngài, nhưng hãy luôn suy niệm về mầu nhiệm thánh giá và về những nỗi đau đớn của thân mẫu Ngài khi người đứng kề bên thánh giá (T Er 11-12).

Ước gì tôi được chết vì yêu tình yêu của Người

Thông thường lời cầu nguyện của chúng ta chất đầy những gì chúng ta muốn nói với Chúa. Và thế là, trên thập giá, Người van xin chúng ta, Người xin chúng ta quan tâm đến nỗi đau khổ của Người, đồng cảm với cơn đau đớn bất công của Người. Đức Kitô làm kẻ hành khất đi xin tình thương của từng người. Lời Người mời gọi nhìn đến nỗi đau khổ của Người đánh động tâm hồn thánh Clara. Bà trở thành người bị thương, theo hình ảnh Đấng chịu đóng đinh nghèo khó… Cùng với Clara, chúng ta có thể ở trong một tình yêu đầy đau khổ, dù thật nghèo nàn, nó kết hiệp chúng ta với Đấng chí ái, không để Đức Kitô một mình trong khoảng khắc tang thương nhất, trở nên hiện diện im lặng và yêu mến, đau đớn trước nỗi đau đớn của Người. Thật lâu dài và vất vả để học chấp nhận chịu đau đớn vì điều gây tổn thương cho chúng ta, chấp nhận để nỗi đau đớn của Thiên Chúa chạm đến chúng ta, tác động đến chúng ta, trở nên nỗi đau của chúng ta.

Tác giả Thánh vịnh nói: “Đối với Chúa thật là đắt giá cái chết của những ai trung hiếu với Người” (Tv 115,15). Mỗi một con người là người con chí ái của Thiên Chúa. Trong con tim của Người Cha, nỗi đau đớn cũng tỏ ra khôn lường như tình yêu của Người bao lâu chỉ một trong số những người con bé nhỏ của Người không được hạnh phúc. Đức Giêsu nghèo khó và chịu đóng đinh, thánh Clara chiêm ngắm, đến giúp Bà nơi mỗi chi thể yếu đuối trong thân thể khôn tả của Người (3T Ag 8). Trong lòng trắc ẩn của Bà, Bà ghi nhớ cuộc Khổ nạn của Đức Kitô và nhận ra cuộc Khổ nạn ấy nơi mọi sự đau khổ trong đời sống thực tế. Như thế, thánh Clara gia nhập số những phụ nữ trong Phúc Âm, đứng dưới chân thập giá, và tình yêu tỉnh thức của Bà dâng một chỗ nghỉ ngơi cho nỗi đau khổ của Thiên Chúa. 

Những hoa quả của Thánh giá

Thánh Clara không đứng đàng xa để quan sát sức mạnh cứu độ của Đấng chịu đóng đinh, nhưng Bà để nó chiếm ngự hoàn toàn. Tức khắc, nhờ ân sủng, Bà trở nên nguồn cứu độ, nguồn sức mạnh đối với những anh chị em đau khổ. Trong cầu nguyện, Bà dự phần vào tình yêu chữa lành của Chúa chịu đóng đinh: dần dần, tình yêu khôn tả của Thiên Chúa khắc sâu trong tâm hồn Bà, một cuộc trao đổi lạ lùng trong đó Bà tiếp nhận được từ cây thập giá tất cả sức sống tốt lành mà tình yêu thông truyền cho. Đấng chịu đóng đinh được yêu thương đáp lại mối tình của người yêu. Và người đã từng yêu mến nồng nàn mầu nhiệm Thánh giá, nhờ sức mạnh của Thánh giá đã nên rạng rỡ nhờ những việc phi thường và các phép lạ. Quả vậy, khi Bà vạch dấu Thánh giá ban sự sống trên các bệnh nhân, Bà đẩy các bệnh tật xa họ cách lạ lùng (Xêl 32). Mối quan tâm ân cần của Bà là mau mắn làm vơi nhẹ theo khả năng của Bà những chị em Bà và các bệnh nhân khác. Bằng tất cả sức mạnh của đức tin, Bà hy sinh phục vụ những người đau khổ để qua Bà, Đấng chịu đóng đinh tiếp tục công trình của Người. Chẳng có gì phù phép ở đó cả, trái lại, khi chúc lành cho từng chị em, thánh Clara bé nhỏ và nghèo khó dành cho ơn Chúa một không gian rộng rãi để ơn Chúa có thể biểu dương ra, như thế nó biểu lộ rằng chỉ có Thiên Chúa là nguồn mạch mọi sự tốt lành.

Chiêm ngắm mầu nhiệm tình yêu khôn tả nơi Đức Kitô trên thập giá dẫn chúng ta đến cùng một nguồn phong phú, bởi vì tình yêu được tặng ban để được trao hiến: Hãy trở nên Đấng mà Bà chiêm ngắm…  

Ngày thứ bảy
KHAO KHÁT ĐỨC GIÊSU

Ước gì Bà càng được ngọn lửa tình yêu này thiêu đốt, thưa hoàng hậu của Đức Vua Thiên đình! Bà cũng hãy chiêm ngắm niềm hạnh phúc khôn tả, những của cải và vinh dự muôn đời Người ban phát, và hãy thốt lên, với tất cả khát vọng và yêu thương của con tim:

“Hãy kéo em theo Anh! Đôi ta cùng sánh bước theo mùi hương thơm ngát của Ngài, hỡi vị hôn phu Thiên quốc. Em sẽ chạy không biết mệt cho đến khi Anh dẫn em vào phòng tiệc, đưa tay trái cho em gối đầu, giơ tay phải ghì chặt lấy em và ban cho em nụ hôn ngọt ngào của đôi môi Anh” (4T Ag 27-32).

Những ngày cuối cùng này, thánh Clara dẫn chúng ta đến trước một tấm gương: Con Thiên Chúa nghèo khó và chịu đóng đinh. Bà mời gọi chúng ta nhìn ngắm, chiêm ngưỡng tấm gương ấy, và ngắm chúng ta trong đó mỗi ngày. Việc chiêm ngắm Hài nhi Bêlem, người nghèo thành Nadarét và Đấng chịu đóng đinh tạo nên trong Bà một niềm khát khao cháy bỏng tình yêu Thiên Chúa. Cầu nguyện không phải là chỉ có sự thụ động, nó làm chúng ta yêu chính Tình Yêu và muốn trở nên một với Tình Yêu. Là lữ hành và khách lạ, thánh Clara không muốn sống cho chính mình nhưng cho Đức Kitô, và để cho Đức Kitô ở lại trong mình. Đừng ước ao gì khác ngoài được kết hợp với Đức Kitô nghèo khó và chịu đóng đinh (1T Ag 13).

Ban sáng, ban ngày và ban chiều của Đấng xinh đẹp nhất giữa con cái loài người khơi lên trong Bà một tình yêu cháy bỏng và mãnh liệt muốn sánh với tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Không phải là một sự im lặng bất lực, đau khổ và rã rời đáp lại Đấng chịu đóng đinh, nhưng là tiếng kêu say đắm với tất cả yêu thương muốn hiệp thông trọn vẹn với Đấng Bà yêu mến, không bao giờ rời xa Người. Thánh Clara gặp phải một cơn khát cháy bỏng không gì có thể thoa dịu được: Khi cầu nguyện, Bà rất thường phủ phục, mặt áp xuống đất, nước mắt chan hòa tưới đẫm mặt đất và Bà hôn đất nhiều lần: cứ y như thể lúc nào Bà cũng đang ôm Chúa Giêsu của Bà trong vòng tay, lấy nước mắt tưới ướt chân Người, và không ngừng hôn chân Người (Xêl 19).

Hãy kéo em theo Anh

Chính lời Chúa cung cấp cho thánh Clara những lời để cầu nguyện: Hãy kéo em theo Anh, đôi ta cùng mau bước (Dc 1,4). Thời Trung cổ, các đan sĩ mượn từ sách Diễm ca ngôn ngữ tình cảm của cô nàng được yêu để diễn tả hoặc nỗi đau khổ trong cuộc đi tìm Chúa, sự im lặng đáng sợ do sự vắng bóng của Người, hoặc niềm hạnh phúc và sự ngọt ngào vì Ngài hiện diện. Cuốn sách ấy nhanh chóng trở thành kho tàng cất giấu trong đó những người đi tìm Chúa rút ra những lời diễn tả tình yêu của họ.

Cuộc sống của mọi người đã được rửa tội đều được nhận chìm vào trong tình thân mật với Chúa và trong mầu nhiệm tình yêu của Người. Sách Diễm ca chạm đến chỗ thâm sâu nhất của mỗi người chúng ta trong mối tương quan với Người. Nó nói lên vẻ đẹp của sự kết hiệp yêu thương mà ngay bây giờ chúng ta được dự phần. Nó mở ra không gian đặc biệt để khát vọng của chúng ta có thể chạy nhảy, cõi vô biên để băng qua mọi chiều hướng và bằng mọi quan năng, khu vườn bí mật để ở.

Hãy kéo em theo Anh… Thánh Clara chưa ở trong lâu đài của Vua Thiên đình. Bà luôn đang ở chốn lưu đày, trong nội vi của đan viện San Đamianô, đang sống trong thân phận mỏng dòn của mình. Tiếng kêu của Bà là lời van xin của người tự mình không thể làm được gì, nhưng dám làm mọi sự với sức mạnh của Đấng Bà yêu mến. Đó là lời xin tha thiết của tình yêu với Tình Yêu. Phải chăng đó là ngọn lửa tình yêu khẩn cầu Đức Kitô làm cho bước chạy trở nên nhẹ nhàng và vui tươi trên con đường dẫn đến sự kết hiệp? Mùi hương thơm ngát đặt thánh Clara vào chuyển động, khi làm cho Bà ra khỏi bản thân. Giống như ngọn gió làm tỏa ra chung quanh hương thơm của những bông hoa và những trái cây, Thần Khí thổi tới Clara hương thơm của Đức Kitô, dấu vết nói lên Người hiện diện trong sự vắng mặt. Ngây ngất trước hồng ân Bà nhận được, thánh Clara đề nghị chị Agnès và mỗi người chúng ta hãy hít thở thoải mái hương thơm của đức nghèo khó của Chúa Giêsu Kitô: Bà hãy hỉ hoan và nhảy mừng , chan chứa một niềm vui thẳm sâu và một niềm hoan lạc thiêng liêng (1T Ag 21).

Dẫn vào phòng tiệc

Bà đan sĩ nghèo khó tại San Đamianô không dừng cuộc chạy trên con đường đi theo Đức Giêsu nghèo khó trước khi đạt tới đích. Trong quyết định của Bà, không gì có thể làm Bà lay chuyển. Em sẽ chạy không biết mệt… Tình yêu làm cho Bà từ bỏ bản thân và khiến Bà trở nên nhẹ nhàng. Với ơn của Đức Kitô, niềm khao khát mạnh mẽ của Bà lôi kéo Bà ngày càng tới gần Vị Hôn Phu của Bà.

Trong sách Diễm ca, phòng tiệc là nơi biểu lộ tình thân mật giữa vị hôn phu và hôn thê, tại đó cuộc gặp gỡ dẫn đến sự âu yếm. Sự xa cách và sự vắng bóng bị loại trừ. Được vị hôn phu đỡ lấy, vị hôn thê sủng ái không còn sợ gì nữa, bởi vì nàng đã ở ngay giữa nơi an toàn như ở giữa sự viên mãn vậy. Ở đó, thánh Clara phó mình vào lòng âu yếm của Đấng chịu đóng đinh nghèo khó.

Nơi nụ hôn ngọt ngào của đôi môi họ, vị hôn phu và hôn thê san sẻ cùng một hơi thở, chia sẻ cùng một cuộc sống và chung phần cùng một ý muốn. Thánh Clara thưởng thức một niềm hạnh phúc mới. Toàn bộ tiểu sử và con người Bà được ghi dấu Đấng chịu đóng đinh nghèo khó, Đấng trong cuộc đời mình đã trải qua sự khiêm hạ, sự nghèo khó, sự đơn sơ, mẫu ảnh của sự hạ mình của chính Bà.

Từ đây Bà có thể lôi kéo và khuyến khích chị em Bà đi đến một tương lai vô định bằng cách khuyên dạy họ phó thác hoàn toàn. Phòng tiệc của cuộc kết hiệp thân mật nhất với Chúa ẩn mình nơi đáy sâu nhất của những thử thách, của sự mỏng dòn, của sự bất lực, bị bỏ mặc cho khả năng của mình, ngày qua ngày, chứ không phải nơi cao thẳm của một lời cầu nguyện xa rời thực tế. Bước chân đơn sơ dẫn thánh Clara vào sâu hơn nữa trong Phúc Âm về sự nghèo khó đã khiến Bà mãn nguyện rồi. Nó củng cố lòng can đảm của Bà và làm triển nở hơn nữa khát vọng của Bà là hoàn toàn trở nên một với Đức Kitô, trong sự viên mãn của Nước Trời.

Nhà thần bí, một tình yêu được chia sẻ

Các di cảo của thánh Clara – hoặc của những vị thánh khác – có thể xuất hiện trước mắt chúng ta như những chiếc áo quá xa hoa, quá rộng đối với chúng ta. Chúng ta phải chống lại cám dỗ cắt xén chúng theo kích thước của chúng ta, sợ rằng chúng ta làm cho chúng trở thành những chiếc áo chật chỗi không cho chúng ta cử động cách thoải mái và tự do. Trái với những gì chúng ta tưởng, chúng ta hãy đi vào trong tiến trình thiêng liêng của các di cảo ấy. Đời sống thần bí không hệ tại nơi những hiện tượng ngoại thường, nhưng nơi một cuộc đời chan chứa tình yêu và hy vọng. Nó chỉ đơn thuần là sự triển nở trong chúng ta ơn của bí tích Thanh tẩy qua đó mỗi người được gọi kết hiệp với Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô.

Hẳn có thể chúng ta chưa đưa vào con đường thiêng liêng của chính chúng ta một kinh nghiệm như thế. Nhưng nhìn thánh Clara Assisi sống và cầu nguyện, nó giúp chúng ta hiểu đến đâu sự chiêm niệm không phải là đặc ân của những người nam người nữ tìm được cho mình sự thoải mái và sự thong dong trong một môi trường thinh lặng, loại bỏ trong chốc lát các mối bận tâm hằng ngày. Lòng chúng ta khao khát Chúa Giêsu không đo lường bằng sự bình an thiêng liêng của chúng ta hoặc bằng sự an hòa cá nhân. Thánh Clara chiêm ngắm một Thánh Nhan không phải để học hỏi cách trừu tượng các đường nét, nhưng để mình được Thánh Nhan ấy cư ngụ và biến đổi. Đời sống thần bí không phải là đời sống luân lý đạo đức, cũng không phải là con đường khổ chế, nó là nỗi đam mê cùng được chia sẻ. Những sự nặng nề của chúng ta, những thất bại cũng như những sự sai đường lạc lối của chúng ta không phải là những rào cản cho cuộc gặp gỡ của chúng ta với Đấng chí ái. Nếu trên mảnh đất chúng ta sinh sống thường ngày, chúng ta lắng nghe cơn khát của Đức Giêsu dâng lên trong tâm hồn chúng ta và chúng ta đáp lại với một đức tin đơn sơ, chúng ta dần dần khám phá ra niềm hạnh phúc của những người nghèo mà Chúa ban cho sự giàu có. 

Ngày thứ tám
ĐÓN NHẬN NHỮNG KHUÔN MẶT ĐỂ YÊU THƯƠNG

Khi chiêm ngắm như thế, con hãy nhớ tới người mẹ nghèo khó của con, và hãy biết rằng, mẹ đã ghi sâu kỷ niệm êm ái về con vào lòng, vì mẹ thương yêu con hơn hết mọi người.

Còn phải nói gì thêm nữa? Hãy để ngôn từ của thân xác câm nín khi mẹ tìm cách diễn tả lòng yêu thương của mẹ đói với con, và hãy để ngôn từ tinh thần vang vọng lên, bởi vì, hỡi người con phúc đức của mẹ, ta không thể diễn tả đầy đủ được bởi ngôn từ của thân xác và những gì mẹ viết ra đây chỉ là một cách diễn tả bất cập. Mẹ xin con đón nhận những lời mẹ nói đây với tâm tình trìu mến và sốt sắng. Hãy nhìn thấy trong đó ít ra là tình mẫu tử hằng nung nấu lòng mẹ đối với con và các con cái của con, là những người mà mẹ phó thác cách ấu yếm mẹ và con cái của mẹ trong Chúa Kitô. Về phần họ, các con cái của mẹ, nhất là Agnès, trinh nữ rất khôn ngoan và là em ruột của mẹ, hết lòng xin con và chị em con nhớ tới họ trong Chúa.

Con rất yêu dấu, mẹ tạm biệt con và các chị em của con, cho tới ngày gặp lại nhau trước tòa vinh quang của Thiên Chúa vĩ đại và hãy ước ao điều đó cho chúng tôi (4T Ag 33-39).

Không gian mở rộng để ôm ấp

Cánh cửa phòng tiệc, thay vì đóng kín lại không cho ôm ấp, thì lại để cho những năng lực tình cảm của của người nữ được yêu triển nở ra bên ngoài. Đối với thánh Clara, lòng yêu mến Đức Giêsu nghèo khó và khiêm hạ không để cho con tim thu hẹp lại trong một góc, ở đó nó thưởng thức một mình vẻ đẹp và lòng tốt lành của Chúa. Sự ôm ấp không giam hãm nó trong một thế giới thiêng liêng được bảo vệ, đóng kín trên chính nó. Như thế, sự chiêm niệm của Bà không phải là việc của con tim với con tim đơn độc.

Với sự táo bạo kỳ diệu và một tính hồn nhiên đầy cảm kích, thánh Clara đưa những chị em Bà yêu thương hơn cả vào cuộc kết hiệp cá nhân của mình với Đấng chí ái. Không thể nào chỉ trích Bà biến cuộc cầu nguyện cao quí nhất thành một nơi ẩn náu cho Bà và Chúa của Bà. Không phải là điều chúng ta học nơi trường Đức Giêsu nếu chúng ta tìm một nơi trú ẩn trong sự cầu nguyện mà không đưa vào đó những tương quan vô số trong đó chúng ta sống. Chúng ta có thể tiếp các bạn hữu chúng ta ở một nơi nào tốt hơn nơi cầu nguyện của chúng ta sao? Được thánh Clara huấn luyện trên con đường giao tiếp, chúng tôi khám phá ra nguồn mạch và sự thật của các mối tình âu yếm nhân loại của chúng ta nơi tình yêu trao hiến và chia sẻ.

Đức Kitô được gặp thấy trong chiêm niệm không bao giờ đơn độc. Luôn luôn Người đến với chúng ta, Người là con đường đến với Chúa Cha và đến với tha nhân. Đôi mắt Người không chỉ nhìn thấy thánh Clara đang cầu nguyện ở phía trước, đôi mắt ấy hướng về trăm ngàn khuôn mặt ở nơi khác nữa. Đức Giêsu Nadarét chỉ là đôi mắt nhìn, trong đó mỗi người trở nên quí giá, duy nhất và chí ái. Chắc chắn chính Chúa cũng ngỏ với Bà cùng một lời xin như đã ngỏ với cô Maria Magđala sáng ngày Phục sinh: “Đừng giữ Thầy lại, nhưng hãy đi gặp anh em Thầy” (Ga 20,17)… Đối với Bà, kết hiệp với Đấng chí ái của Bà, đó là kết hiệp với bao người nam nữ đầy ắp trong tâm hồn và trong cuộc sống với cùng một tình yêu nồng cháy. Tình yêu nóng bỏng đối với Đấng chịu đóng đinh nghèo khó thiêu đốt Bà cũng làm cho Bà cháy bỏng tình yêu – cách trọn vẹn – đối với chị Agnès và các chị em Bà. Vì khu vườn nhỏ của đan viện San Đamianô mở ra phía cánh đồng mênh mông của thành phố Assisi, con tim Bà cũng mở rộng theo những chiều kích vô biên của con tim Thiên Chúa.

Những khuôn mặt để yêu thương

Tình cảm phong phú của thánh Clara, Bà nhận được nó nơi Chúa Giêsu. Và tất cả các mối tình bạn của Bà trở nên không thể tách rời khỏi tình yêu nguyên thủy và nền tảng này: “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Cùng một sức mạnh yêu thương duy nhất đã được ban cho chúng ta để chúng ta yêu mến Chúa Giêsu và yêu thương người thân cận. Trong tình yêu duy nhất ấy, chúng ta yêu Đấng duy nhất và những người khác. Điều chắc chắn đối với thánh Clara, đó là sự kết hiệp mật thiết với Vị Hôn Phu thiên quốc của Bà biến đổi Bà thành ngọn lửa cháy bừng tình yêu khôn tả của Thiên Chúa, trong đó, tình mẫu tử của Bà, tình yêu đặc biệt Bà dành cho chị Agnès và các chị em biểu dương tất cả sức mạnh của chúng! Chiêm niệm là một cây tốt mang nơi bản thân nó hoa trái ngọt ngào của tình bạn hữu…

Thiên Chúa là tương giao. Đời sống thiêng liêng là ở chỗ đặt mình trong mối tương giao với Người, với anh chị em chúng ta, và với vũ trụ nữa. Với cùng một sức mạnh, thánh Clara đến với Chúa và đến với những người khác, bằng tất cả tình cảm của người nữ, rung động trong yêu thương, không từ khước điều gì nơi khả năng yêu thương đầy âu yếm của Bà. Niềm vui của Bà với tư cách là người nữ tu nghèo khó làm cho mỗi mối tương giao của Bà sáng lên và chứng thực những mối tương giao ấy, bởi vì chỉ là hạnh phúc khi hạnh phúc được ban tặng, được đón nhận và được chia sẻ. Nơi trung tâm của cầu nguyện, nhớ tới Đức Giêsu và nhớ tới người chúng ta yêu thương đều dẫn đến cùng một niềm hạnh phúc duy nhất.

Bài ca tình bạn

Thật rất tự nhiên, bài ca tình yêu Bà dành cho Đấng chí ái, dẫn đến niềm hân hoan của sự ôm ấp, làm nảy sinh ra một bài ca tình bạn đầy cảm kích. Thánh Clara lường được sự bất lực của ngôn ngữ khi phải bập bẽ nói lên kho tàng tình yêu đang thiêu đốt Bà. Buồn và không thể diễn tả nó cách xứng hợp, Bà mong ước để cho ngôn ngữ của Thần Khí nói lên trong Bà. Chỉ có “tình yêu Thiên Chúa đã đổ vào lòng chúng ta” mới có thể đọc được tình bạn Người chia sẻ với chúng ta, với sự phong phú vô biên của nó, qua những cử chỉ và những lời nói vụng về của chúng ta. Khi ghi sâu kỷ niệm êm ái về những danh tánh thân yêu vào lòng, thánh Clara thật sự chia sẻ tình thương trung thành của Đấng đã ghi khắc tên chúng ta trong lòng bàn tay của Người (x. Is 49,16).

Tình yêu Bà cảm nhận được đối với người bạn của Bà có tên là lòng yêu thương (sủng ái). Đó là hoa quả mà tình bạn Thiên Chúa dành cho Bà đã chín mọng trong Bà. Từ này mang đầy ba ý nghĩa, nó cho mỗi mối tương giao một màu sắc riêng. Tình bạn trước tiên xuất hiện như là “đọc được” người kia, một sự “thu thập” tất cả những gì thật sự là người kia. Sự đón nhận này kéo theo một chọn lựa, nghĩa là một sự ngỡ ngàng và một sự gắn bó trong đó lòng âu yếm và lòng kính trọng bổ túc cho nhau. Trong một sự chọn lựa cuối cùng, người được yêu thương rốt cuộc được sủng ái và được tuyển chọn trong số tất cả những người khác. Tình yêu sủng mộ này đóng dấu trên mọi đường gân thớ thịt của con người. Nó thiết lập một mối hiệp thông từng giây từng phút, không hề gặp sự lạnh lùng hay sự dửng dưng nào. Việc cầu nguyện không biến chúng ta thành những người vô cảm. Tình bạn không thoát xác. Trái lại, sự gặp gỡ với Đức Giêsu tinh luyện khả năng yêu thương của chúng ta, thanh tẩy tình cảm của chúng ta, làm cho chúng ta trở nên người hơn. Sau hết, thánh Clara có thể bộc lộ tất cả tình yêu của một người nữ theo nhiều mối tương giao hài hòa: hiền thê, chị em, người mẹ, ái nữ… Danh sách toàn bộ các mối tương giao không hề làm tình cảm của Bà suy giảm cường độ và sự phong phú: tình yêu ấy đến từ nơi xa hơn bản thân Bà và Bà không tìm cách chiếm hữu món quà tặng ấy.

Lửa tình yêu và niềm hạnh phúc từ đó phát sinh tuyên dương tình bạn như là dấu chỉ về Đấng vô hình. Trong các mối tình nhân loại chúng ta, chúng ta nhận ra hình ảnh trong sáng về mầu nhiệm Thiên Chúa, bởi vì “Thiên Chúa là tình bạn” (Aelred de Rievauxlx). 

Ngày thứ chín
ĐỂ MÌNH ĐƯỢC BIẾN ĐỔI

Vậy ai có thể ngăn cản không cho tôi vui mừng về những niềm vui tuyệt diệu ấy? Xin cũng hãy vui luôn trong Chúa, thưa chị rất yêu dấu. Đừng để cho nỗi cay đắng nào, đám mây đen nào đến che mờ niềm vui của mình, hỡi Bà rất yêu dấu trong Chúa Kitô, là niềm vui của các Thiên Thần và triều thiên của chị em. Hãy đặt tâm trí Bà trước tấm gương vĩnh cửu! Hãy để tâm hồn Bà chìm vào trong ánh vinh quang huy hoàng! Hãy đặt con tim Bà trước hình ảnh của bản thể Thiên Chúa và nhờ chiêm niệm, hãy biến đổi trọn con người Bà trong hình ảnh của Thiên Chúa. Như thế, Bà mới cảm thấy được điều mà chi các bạn hữu của Người mới cảm thấy, khi Bà nếm được hương vị ngọt ngào ẩn dấu mà ngay từ đầu, chính Thiên Chúa đã cất dành cho những ai yêu mến Người (3T Ag 9-14).

Thánh Clara không lôi kéo chúng ta lên những đỉnh cao không thể leo tới. Tấm gương Bà chiêm ngắm, chúng ta có thể ngắm nhìn chúng ta trong đó mỗi ngày, bởi vì Đức Giêsu ở với mỗi người chúng ta ngày này qua ngày khác. Làm sao để nghiệm thấy cùng một niềm bình an và thưởng thức cùng một tình thân mật giống như tình thân mật thánh Clara đã gặp thấy? Vào ngày thứ chín trong đường lối cầu nguyện của chúng ta này, thánh Clara vạch ra cho chúng ta một con đường rất đơn sơ, trong tầm tay của mọi người, để đến lượt chúng ta, chúng ta có thể trở nên Đấng chúng ta chiêm ngắm và gặp gỡ trong kinh nguyện của chúng ta.

Chống lại nỗi buồn rầu

Một bước đầu tiên được đề ra cho chúng ta: chống lại tính cay cú. Tại sao để tâm hồn chúng ta bị ô nhiễm bởi bụi bặm là những nỗi bực mình chúng ta vấp phải khi đối diện với các giới hạn của chúng ta và bởi những thứ ăn theo là những nỗi thất vọng của chúng ta? Chúng ta liều lĩnh làm lu mờ hình ảnh Thiên Chúa đang được tái tạo dần dần trong chúng ta. Lòng kiên nhẫn đầy tình thương xót của Thiên Chúa lớn biết bao để làm sáng lên điều đánh mất vẻ đẹp của nó…

Phải dùng phương thuốc nào để đánh tan đám mây khiến chúng ta vô cảm trước mặt trời tình yêu? Thánh Clara đáp: “Hãy vui luôn!” Niềm vui tâm hồn nghèo khó có thực không thua sự cay đắng của cuộc đời. Nó được nuôi dưỡng bằng một thái độ bên trong về sự truất hữu bản thân ngày càng trọn vẹn hơn, sự truất hữu này không để chỗ cho tính cay cú hay nỗi chán chường, bao cơ hội khiến chúng ta co rút mình lại. Niềm vui nhẹ nhàng, niềm vui kín đáo, vẻ thanh thoát nội tâm sẽ đến với những ai lột bỏ những thứ nặng nề và cả bản thân mình để ôm ấp lấy Đức Giêsu, kho tàng vô giá chôn dấu trong thửa ruộng thế gian.

Hãy đặt mình ở đó trọn vẹn

Chiêm ngắm Đức Giêsu không hề cho phép chúng ta để một phần bản thân chúng ta ở ngoài cuộc mạo hiểm thiêng liêng. Tâm trí, con tim, tâm hồn cũng được tác động bởi niềm khao khát được thấy Chúa và được đón nhận tình yêu của Người.

Ở bước thứ hai này, chúng ta chỉ buộc phải tập trung con người thường hay chia trí của chúng ta lại, để mình dần dần cầm trí trước cái nhìn của Đức Giêsu. Làm thế nào? Thánh Clara nói: Hãy đặt… dành thời gian để ngồi, dừng chân để ở lại. Không là gì khác. Một thái độ như thế bề ngoài có vẻ là thụ động hơn cả lại là một hoạt động cao vời! Dĩ nhiên, trong những ngày vừa qua, thánh Clara mời gọi chúng ta nhìn vào Đức Kitô tấm gương phản chiếu Chúa Cha. Để là những người nghèo bước theo Đức Kitô nghèo khó, Bà thúc dục chúng ta bỏ hết mọi sự: lòng quí trọng, hình ảnh chúng ta có về bản thân chúng ta… Ở bước mới này trong cầu nguyện, chúng ta hãy biến đổi trọn con người trong hình ảnh của Thiên Chúa: Hãy đặt tâm trí, con tim, tâm hồn… Sự cầu nguyện đặt trọn vẹn chúng ta trong mầu nhiệm đức khiêm hạ của Con Thiên Chúa, biến đổi chúng ta thành một tấm gương phản chiếu sự nghèo khó của Chúa Cha.

Cuộc trao đổi kỳ diệu

Trốn lánh tính buồn rầu, hậu quả của mọi hình thức ích kỷ và “đặt” mình trước mặt Đức Giêsu hình ảnh Thiên Chúa Cha, trong sự quên mình và chế ngự bản thân. Đó là hai bước thánh Clara gợi ra để đi vào một “cuộc trao đổi kỳ diệu” và nếm được hương vị ngọt ngào của Thiên Chúa.

Trao đổi những cái nhìn làm chuyển hướng cuộc đời chúng ta: dần dần chúng ta trở nên Đấng chúng ta nhìn ngắm. Một phần mầu nhiệm người kia ở trong chúng ta và trở thành của chúng ta qua việc chúng ta tiếp nhận nó. Cùng một lúc, cái nhìn của người đó dẫn chúng ta trở về con người thật nhất của chúng ta, trong mầu nhiệm của chính nó. Chúng ta nói cách thân mật: “Có cái gì đó đi qua trong chúng ta”. Không gian những cái nhìn vẽ ra có thể là giống như sa mạc. Quả nó như thế, nhưng theo kiểu một con đường nối hai ngôi nhà lại với nhau. Lòng kính trọng, sự ngọt ngào và nỗi kinh ngạc ở đó và thiết lập theo nhịp bước một sự hiệp thông mầu nhiệm giữa các tâm hồn. Cũng giống như thế khi chúng ta đặt mình trước mặt Đức Giêsu. Trong sức biến đổi phát sinh từ tình yêu, chúng ta được tái tạo, chúng ta được sinh lại với con người thật của chúng ta. Là hình ảnh Chúa Cha, Đức Giêsu biến đổi chúng ta theo cùng một hình ảnh ấy. Ân sủng Chúa làm việc, kết quả thường chúng ta không nhận ra, còn chưa hoàn hảo nhưng không kém hiện thực. “Tấm gương về Đấng Vô hình, Rực chiếu Ánh vinh quang”, Đức Giêsu cho chúng ta dự phần vào vẻ đẹp của Thiên Chúa. Chúng ta nhận được ân sủng đầu tiên từ nơi Người. Sự biến đổi ấy không phải là kết quả của việc bắt chước bên ngoài, nhưng là sự tuôn trào tình yêu Thiên Chúa trong đời sống chúng ta.

Trí nhớ luôn gợi ra trong trí Bà Đấng mà tình yêu đã in sâu vào trong tâm khảm Bà (Xêl 30). Như thế, sự cao cả và phẩm giá tâm hồn của chính chúng ta được biểu lộ: Nhờ ơn Chúa, linh hồn một tín hữu vốn đã xứng đáng nhất trong mọi tạo vật lại còn nên lớn lao hơn chính cả bầu trời. Đó là điều hiển nhiên. Bởi vì các tầng trời cùng với các tạo vật khác không thể chứa đựng nổi Đấng tạo thành. Chỉ có linh hồn của kẻ tin mới là nơi Người cư ngụ và ngai tòa của Người (3T Ag 21-22). Thiên Chúa “còn gần gũi chúng ta hơn chính chúng ta”: Chúng ta mang trong mình Đấng dựng nên các tầng trời. Từ khi Nhập thể, Đấng Thánh trên hết các Thánh không còn ở trong Lâu đài, nhưng ở giữa loài người mỏng dòn của chúng ta, ở đó tình yêu của chúng ta có tình yêu Đấng Tạo thành chúng ta đi trước, được khơi dậy, được tác sinh và được nuôi dưỡng. Chính Thiên Chúa đến đó để triển khai khả năng yêu thương của chúng ta. “Thiên Chúa ở trong” không phải là ý niệm trừu tượng của Thần học, nhưng là sự hiện diện thực sự của Thiên Chúa nghèo khó trong chúng ta. Người chọn chúng ta, như Đức Maria, để chúng ta trở thành cung điện, nhà thạm, ngôi đền của Chúa (K Nđ 4). Nơi tính đơn sơ và đức khiêm hạ của đời sống chúng ta, Người tìm thấy “chốn nghỉ ngơi của Người” (Tv 131,14). Còn lý do nào khác được đưa ra để nói về sự cao cả của chính chúng ta và về phẩm giá thánh thiêng của mỗi một con người?

Nếm hương vị ngọt ngào

Việc thánh Clara thôi thúc chúng ta đặt toàn thân chúng ta trước tấm gương vĩnh cửu dẫn chúng ta không chỉ đến chỗ biến đổi chúng ta tới mức có thể nói như thánh Phaolô: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Ở lại trong Chúa còn cho nếm hương vị ngọt ngào của Chúa nữa. Thần bí quá đáng ư? Không phải thế. Thánh Phanxicô ca hát: Chúa là tất cả sự dịu ngọt. Sự ngọt ngào này là phương thuốc chữa trị sự cay đắng của một số thực tế đắng cay trong cuộc đời chúng ta, là dấu vết Thiên Chúa trong chúng ta. Việc “cảm nếm” Thiên Chúa và mầu nhiệm của Người là sự dịu ngọt cho những ai, với đức tin, để Thiên Chúa chiếm lĩnh mình dần dần ở mọi tầng lớp trong con người họ. Chúng ta cảm nếm lòng kính trọng của một vì Thiên Chúa nghèo khó tự thân và không áp đặt lên kẻ Người yêu. Người ban mình theo mức độ chúng ta, đến lượt mình, chúng ta sống sự lột bỏ triệt để của Người. Hoa quả của sự kết hiệp với Đức Giêsu chịu đóng đinh mang hương vị của một sự trao ban cho nhau. Xin Bà hãy yêu mến trọn vẹn Đấng đã hiến trọn mình vì yêu thương Bà (3T Ag 15).Thiên Chúa chạm đến chúng ta để giải thoát chúng ta. Người mời gọi hãy trở nên như Người bằng cách biến đổi chúng ta theo hình ảnh thần tính của Người.

Ngày thứ mười
TRỞ NÊN SỰ LẮNG NGHE

Nhờ các nhà giảng thuyết sốt mến, Bà cung cấp cho con cái lương thực Lời Thiên Chúa, mà chính Bà cũng giữ lại cho mình một phần lớn. Quả thật, Bà chan hòa niềm vui khi được nghe lời rao giảng thánh thiện, ngài tràn ngập vui sướng khi tưởng nhớ tới Chúa Giêsu… Và cho dù không được trau dồi về văn chương chữ nghĩa, Bà vẫn thích nghe một bài giảng uyên thâm, vì nghĩ rằng bên trong lớp vỏ lời lẽ có ẩn giấu hạt nhân thơm ngon, mà Bà biết cách tinh tế đi sâu vào, mà thưởng thức tất cả hương ngon vị ngọt. Từ bài giảng của bất cứ vị giảng thuyết nào, Bà biết cách rút ra những gì ích lợi cho linh hồn, vì xác tín rằng đôi khi hái bông hoa nơi một bụi gai thì cũng khôn ngoan không kém việc ăn hoa trái của một cây quý (Xêl 37).

Lần qua năm tháng, với thời gian kiên nhẫn và kinh nguyện kiên trì, Đức Giêsu trở nên gần gũi chúng ta hơn. Lần lần chúng ta làm quen với những đường nét trên khuôn mặt Người. Chiêm niệm mang hoa trái. Nó làm chúng ta dần dần trở nên giống Người, chia sẻ cùng một hơi thở. Nó làm cho các lời Người nói và những việc Người làm thành của chúng ta. Thần Khí hoạt động nơi Đức Giêsu Nadarét đậu trên chúng ta. Người soi sáng cho chúng ta như đã soi sáng cho thánh Clara, thánh Phanxicô và bao người khác. Người làm cho chúng ta khao khát đi vào trong các tâm tình của Đức Kitô, yêu mến những gì Người yêu mến, đau đớn về những gì Người đau đớn. Theo mức chúng ta ngoan ngùy trước hành động của Người, Người ghi khắc vào cuộc đời chúng ta những đức tính của Thiên Chúa đúng như Kinh Thánh mặc khải cho chúng ta.

Được tình huynh đệ gắn kết họ với nhau, thánh Clara và chị em sống thể hiện sự biến đổi nội tâm này trong một cuộc đời khiêm tốn và nghèo khó. Họ có thể kín múc sự hiểu biết chân thật và ngọt ngào về Đức Kitô ở đâu nếu không phải ở chỗ lắng nghe Lời Chúa? 

Một tâm hồn lắng nghe

Thiên Chúa là Thiên Chúa nói Lời. Giống như một tấm gương, Lời Chúa mặc khải bản thân chúng ta cho chính chúng ta. Lời Chúa đi vào nơi sâu thẳm nhất trong chúng ta. Trong Lời, chúng ta có thể biết tâm hồn chúng ta và bước vào một cuộc đối thoại với Thiên Chúa, Đấng đã trở nên gần gũi, cuộc đối thoại thường là ấp úng, nhưng luôn có trách nhiệm: “Lời đó ở rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành” (Đnl 30,14).

Lời của Sách Thánh, được nghe trong Phụng vụ, được suy niệm trong thinh lặng, dần dần được ghi sâu vào trong lòng chúng ta. Lời nói về Chúa cho chúng ta, giải thích cho chúng ta biết lịch sử lâu dài của giao ước Người ký kết với mỗi người chúng ta cũng như với dân của Người. Lời cùng với chúng ta đọc ra lịch sử thánh của bản thân chúng ta và khám phá trong đó niềm mong ước của Thiên Chúa. Để nghe được Lời, chúng ta phải lột bỏ trí tưởng tượng của chúng ta khỏi tất cả những gì cản trở không cho chúng ta tiếp nhận cách đơn sơ sự hiện diện của Thiên Chúa nghèo khó và dễ bị tổn thương. Sự nghèo khó và tâm hồn thinh lặng giúp chúng ta mở cửa và sẵn sàng để mình được Người đột nhập vào. Với tình yêu mến, cầu nguyện trước tiên là chăm chú lắng nghe người khác, Ai Khác ấy, Đấng chí ái của Chúa Cha (x. Mc 9,7).

Nếu mắt chúng ta chìm sâu trong tấm gương để chiêm ngắm ở đó ánh vinh quang huy hoàng của Thiên Chúa, đôi tai chúng ta sẽ mở rộng để âm nhạc của ngôn ngữ nhân loại Thiên Chúa dùng để nói với chúng ta ùa vào. Lời Chúa thấm nhập từ từ như thế sẽ biến đổi trọn con người chúng ta trong hình ảnh của chính Thiên Chúa và cho chúng ta nếm được hương vị ngọt ngào ẩn giấu (3T Ag 13-14)

Hạt nhân trong lớp vỏ

Nữ tu Agnès tuyên bố trong Tòa án phong thánh: Bà Clara thích thú lắng nghe Lời Chúa. Lời giảng dạy và Phụng vụ cống hiến cho Bà những nơi ưu tuyển qua đó Lời Chúa đến với Bà. Mặc dù thời Bà, những phương tiện để hiểu biết theo khoa chú giải còn nghèo nàn, thánh Clara chứng tỏ Bà quen thuộc Kinh Thánh cách lạ lùng. Các Di cảo của Bà mang đậm Lời Kinh Thánh. Ngôn ngữ Kinh Thánh khô khan hoặc những điều khó hiểu trong đó cũng không làm nản tâm hồn Bà đang rất khao khát được biết Đấng chí ái. Ngay những bài giảng giới hạn của những nhà thuyết giảng cũng không thể gây cản trở cho khát vọng mãnh liệt của Bà là được học biết điều gì mới về Thiên Chúa (x. Xêl 45). Bất cứ tia sáng nào, bất cứ sự hiểu biết nào Bà nghe qua bài chia sẻ cũng được Bà đơn sơ và vui vẻ đón nhận. Bà ngỡ ngàng về một Thiên Chúa đã chiếm lấy Bà bằng một ánh sáng của mầu nhiệm Người, qua những từ ngữ của loài người chúng ta. Không một bài giảng nào, dù dở đến mấy, có thể làm Bà chán nản. Tình yêu tinh tế của Bà giữ Bà luôn tỉnh thức và giúp Bà hái một cành hoa trong bụi gai! Không lệ thuộc bất cứ tiên kiến nào khi đối diện với những nhà giảng dạy đạo đức truyền đạt Lời Chúa cho Bà, Bà chỉ là sự lắng nghe tinh tuyền và đơn sơ kho tàng được chôn giấu trong thửa ruộng Kinh Thánh. Bà biết rằng hạt nhân nằm trong lớp vỏ là các lời nói, Bà tinh tế thưởng thức nó và cảm nếm nó với bao ngọt ngào.

Thánh Clara nhâm nha Lời Chúa như chúng ta cung kính và hạnh phúc nhai miếng bánh nuôi sống chúng ta vậy. Cuộc tìm kiếm không ngưng nghỉ đầy tình yêu mến của Bà bóc lớp vỏ nơi những chữ của Kinh Thánh, chất bẩn nơi các bài giảng của loài người, giống như Bà khám phá ra mầu nhiệm ẩn giấu trong thực tế tầm thường nhất hằng ngày nơi cộng đoàn của Bà. Bà muốn lấy được nhân hạt, trái cây ngon ngọt của sự Hiện diện được trao ban, lương thực nuôi sống cho cuộc hành hương của Bà, bánh củng cố các nữ tu tại đan viện San Đamianô hơn là bánh xin về cho thân xác. Vui biết bao khi khoan liên tục giếng Lời Chúa để được uống một dòng nước luôn luôn mới và, ngày này qua ngày khác, làm giãn khát lòng tưởng nhớ sống động về Đấng đã lôi cuốn Bà, Đức Giêsu, Đấng chịu đóng đinh nghèo khó. Sự lắng nghe của Bà tiếp nhận Vị Thiên Chúa ấy, Đấng không áp đặt, nhưng Người đến với chúng ta dưới những hình thức bên ngoài khiêm tốn nhất là lời lẽ loài người. Không do dự, đức tin của Bà nhận ra ở đó dấu vết Lời duy nhất của Đấng hằng cai quản và luôn cai quản trời đất (1T Ag 17).

Người phụ nữ này không hạnh phúc sao được khi Bà say mê lắng nghe anh em của thánh Phanxicô giải thích Lời Chúa và giảng dạy cho các chị em! Giống như cô Maria ngồi bên chân Đức Giêsu (x. Lc 10,38-42), khao khát ghi khắc trong tâm hồn những đường nét của khuôn mặt yêu dấu và những lời sự sống của Người, bản thân Bà nhận lấy một phần tốt nhất của lương thực thiêng liêng ấy. Điều một nhà viết sử nói với chúng ta về thánh Phanxicô cũng hoàn toàn thích hợp với Clara: Một đôi lần ngài đọc Sách Thánh, và những gì đã một lần đưa vào trí khôn là khắc sâu vào lòng. Trí nhớ của ngài thay thế sách vở, vì một khi đã nghe điều gì, ngài chẳng bao giờ quên và tâm hồn ngài liên tục nghiền đi ngẫm lại cách sùng mộ (2Xêl 102).

Chúng ta hãy gia nhập trường học của thánh Clara và thánh Phanxicô. Hãy để Lời luôn tươi trẻ của Thiên Chúa mở đôi tai chúng ta mỗi sáng, Người là Đấng muốn làm mọi sự mới trong cuộc đời chúng ta (x. Kh 21,5). Đấng đã xưng mình là Đường và tiếng Người nói, ở mỗi trang Kinh Thánh, mời gọi chúng ta lấy lời Người làm lương thực: “Này đây Ta răn dạy, chỉ cho con biết đường lối phải theo, để mắt nhìn con, Ta ban lời khuyên nhủ” (Tv 31,8).

Lời bí ẩn của Chúa được cất giấu trong lớp vỏ chữ viết của các Sách Thánh, những chú giải và những phương tiện hiện nay được đặt trong tầm tay chúng ta giúp chúng ta hiểu và suy gẫm các bản văn. Nhưng theo chân thánh Clara, chúng ta phải mạo hiểm sang bên kia. Qua lớp vỏ mà chúng ta bóc ra bằng sự lắng nghe đầy yêu mến để tiếp đón Chúa là Đấng ban mình. Bên kia tiếng ồn của những lời nói và những bài giảng thuyết, sự kết hiệp cá nhân với Con Thiên Chúa là trái ngon ngọt. Nó dẫn chúng ta dần dần đến một cuộc sống được Phúc âm hóa bằng Lời Chúa mà chúng ta đã lắng nghe và đón nhận. 

Ngày mười một
TRỞ NÊN TÌNH YÊU

Chị em hãy thương yêu nhau với tình yêu của Đức Kitô; hãy lấy việc làm mà tỏ ra bên ngoài tình thương chị em có trong lòng, để chị em được gương sáng ấy khuyến khích, cứ gia tăng lòng yêu mến Thiên Chúa và thương yêu nhau thêm mãi.

Tôi cũng nài xin chị có bổn phận coi sóc chị em, hãy chú tâm đứng đầu chị em bằng các nhân đức và đời sống thánh thiện, hơn là bằng chức vụ, sao cho chị em, nhờ gương sáng của chị thúc đẩy, sẽ vâng lời không phải chỉ vì bổn phận, nhưng hơn nữa vì lòng yêu mến. Đối với các chị em mình, chị phải biết phòng xa và khôn ngoan như người mẹ đối với người con; nhất là hãy dùng những của bố thí Chúa ban cho mà sắm liệu cho chị em tùy theo nhu cầu của mỗi người. Chị lại phải ở nhân từ và cởi mở đến nỗi chị em có thể tin tưởng bày tỏ các nhu cầu của mình và tín nhiệm chạy đến với chị bất cứ lúc nào, như họ xét là nên, vì ích riêng của mình cũng như vì ích chung của chị em.

Phần các chị em bề dưới, hãy nhớ rằng vì Chúa, chị em đã từ bỏ ý riêng. Vì thế, tôi muốn chị em vâng lời Mẹ Bề trên như chị em đã tự nguyện khấn hứa với Chúa, để khi thấy chị em có lòng bác ái, khiêm nhường và hiệp nhất, Mẹ sẽ gánh vác chức vụ nặng nề của Mẹ cách nhẹ nhàng hơn. Và chớ gì vì đời sống thánh thiện của chị em, những nỗi nhọc nhằn và cay đắng sẽ trở nên êm ái dịu dàng cho Mẹ (DC Cl 59-70).

Mầu nhiệm Thiên Chúa chiêm ngắm được nơi Đấng chịu đóng đinh, Lời Người thách đố được đón nhận với niềm say mê dẫn thánh Clara đến hành động cụ thể. Khi làm cho toàn thể con người Bà phù hợp với Đức Giêsu, qua việc để cho tình yêu khôn tả của Người tưới gội lên Bà, bản thân Bà trở nên “tấm gương” của Tình yêu hiến dâng. Cái nhìn của Đức Giêsu, trong đó Bà đã dìm sâu cái nhìn của Bà vào, những lời của Đấng hằng sống đã thu hút đôi tai Bà, bây giờ ghi khắc trong tâm hồn Bà những nét dịu hiền và đầy thương xót của Thiên Chúa.

Một quà tặng của Thiên Chúa

Chị em hãy thương yêu nhau với tình yêu của Đức Kitô… Đời sống liên đới với nhau, đó là mảnh đất ưu việt nơi Thiên Chúa-Tình yêu để cho chúng ta cảm nghiệm, chạm tới. Đó là nơi chúng ta khám phá ra lòng cảm thương của Người đối với từng tạo vật của Người, là nơi chúng ta học làm thế nào đến lượt chúng ta, chúng ta có thể yêu mến Người.

Tha nhân là một quà tặng để chúng ta tự do yêu thương. Thánh Clara ý thức mạnh về điều đó! Bà gợi lên trong Di chúc của Bà những chị em mà Chúa đã ban cho Bà ít lâu sau khi Bà trở lại (DC Cl 25). Bà đã nhận được họ từ lòng rộng rãi của Cha đầy lòng thương xót để cùng với họ sáng tạo ra một kiểu sống-chung trong đơn sơ và nghèo khó, được nuôi dưỡng bằng tình yêu và lòng thương xót đã có nơi Đức Kitô. Tình yêu được diễn tả trong những hành động thực tế hằng ngày và một tình yêu mến dịu dàng. Lòng kính trọng và lòng hân hoan khi đối diện với người khác là nét đặc trưng trong cái nhìn đã được Phúc âm hóa của thánh Clara. Chúng giúp chúng ta tránh được tính dửng dưng nảy sinh từ sự gặp đi gặp lại và từ sự trôi qua của thời gian là những cái có thể khiến chúng ta coi như “sự vật” những người mà cuộc sống ban cho chúng ta làm bạn đồng hành.

Để dưỡng nuôi và yêu thương

Thánh Clara quan tâm diễn tả ra bên ngoài những tâm tình của Bà mà Bà gán cho tấm lòng Thiên Chúa: Nếu một người mẹ yêu thương và dưỡng nuôi đứa con huyết nhục của mình, thì mỗi người lại phải yêu thương và dưỡng nuôi chị em thiêng liêng mình ân cần hơn là dường nào (L Cl VIII,16).

Tình yêu Đức Kitô khôn tả và dào dạt, được ban qua những chiếc bình sành mong manh của đời sống chúng ta. Lòng tốt lành, sự tế nhị, lòng ân cần, lần theo thời gian, ngày và đêm, diễn tả mối quan tâm của thánh Clara đối với chị em. Mọi cử chỉ huynh đệ, dù sơ đẳng nhất, khiêm tốn và đơn sơ nhất, cũng có thể trở nên “to lớn” nói lên mối quan tâm của người mẹ và sự ân cần săn sóc chất chứa trong lòng.

Làm sao sống cách khác sự hợp nhất của tình yêu hỗ tương (L Cl X,7) và tạo cơ hội cho Cha đầy lòng thương xót lo lắng cho chúng ta như một người mẹ được? Thánh Clara biết điều đó: không phải chỉ cần bẻ bánh để chia sẻ, múc nước để giải khát, làm giảm nỗi đau và rửa chân. Còn phải tiên liệu nuôi dưỡng tâm hồn bằng một thứ lương thực không thể thiếu và quí báu nói lên giá trị độc nhất của mỗi khuôn mặt. Trong mối ân cần đầy lòng tế nhị của Bà, Bà xin những chị em nối nghiệp Bà hãy an ủi chị em ưu phiền; hãy là nơi nương náu cuối cùng cho những chị em đang gặp thử thách (L Cl IV, 11-12). Qua Bà, lòng đồng cảm của Chúa Cha tái sinh cuộc đời bị tổn thương đã tắt lịm trong cơn thử thách.

Đến cả sự tha thứ

Tình yêu ấy, chìa khóa then chốt cho mọi cuộc sống liên đới, mạnh hơn những sự hấp dẫn hoặc những dị ứng tự nhiên của chúng ta. Nếu thánh Clara đề ra một dự phóng đời sống trong đó không có chuyện trên dưới hoặc quyền chức, chuyện thường ngày chẳng mấy chóc đã cho thấy sự yếu đuối của con người và tội lỗi còn cản bước trên nẻo đường hạnh phúc đích thực (2T Ag 13). Là người rất thực tế, Bà tố giác ước muốn thống trị và bản năng chiếm hữu làm tổn thương đến tình yêu: Tôi khuyến cáo và khẩn xin chị em, nhân danh Chúa Giêsu Kitô, hãy tránh mọi hình thức kiêu ngạo, huênh hoang, ganh tị, tham lam, bận tâm và lo lắng việc đời, nói xấu và cằn nhằn, cãi cọ và chia rẽ (L Cl X,6).

Mọi cuộc bắt đầu lại đều cần phải có sự tha thứ. Tình yêu thương nhau được củng cố trong sự tha thứ và không xét đoán thật cao quí đến nỗi mẹ Bề trên và các chị em hãy coi chừng, đừng nóng giận hay để mình bị giao động về tội lỗi kẻ khác, bởi vì sự nóng giận và giao động làm mất lòng yêu mến nơi mình và nơi người khác L Cl IX,5).

Gánh nặng đức ái trở nên nhẹ nhàng

Thánh Clara và chị em cùng nhau cảm thấy có trách nhiệm đi tìm kiếm Chúa và làm cho ước nguyện ấy cắm rễ vào cái thường ngày dày đặc. Không gì đè nặng trên họ nếu nó không phải là để phục vụ cuộc sống và niềm vui. Trong việc phục vụ chị em, thánh Clara lo cung cấp cho chị em theo nhu cầu của họ. Thay vì phục tùng như người đầy tớ, nhờ lòng bác ái, khiêm nhường và hiệp nhất giữa họ với nhau, các chị em làm vơi đi gánh nặng của mẹ Bề trên, biến đổi những nỗi nhọc nhằn và cay đắng trở nên êm ái dịu dàng.

Thánh Clara viết: Khi chia sẻ lẫn cho nhau gánh nặng đức ái như thế, chúng ta sẽ chu toàn luật Chúa Kitô hơn (T Er 17). Phải chăng đó là tiếng vọng đúng nhất của lời kêu gọi của Đức Kitô: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường… Vì ách của tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,29-30)? Điều thánh Clara xin chị Ermentrude, đó không phải là kiên nhẫn và nhân từ mang lấy hay chịu đựng gánh nặng là sự yếu đuối và đôi khi là tội lỗi của chị em. Bà mời gọi chị Ermentrude cùng với người chị em đặt mình dưới ách tình yêu để cùng với người chị em bước đi trên con đường hoán cải trở về với tình yêu của Thiên Chúa.

Nơi bắt rễ đời sống hiệp thông của các nữ tu tại đan viện San Đamianô giống đến mức phải lầm với bất cứ hoàn cảnh nào khác nơi đó chúng ta học yêu thương người kia vì chính bản thân người đó. Có ngàn lẻ một dịp để phát minh ra những cử chỉ và những lời nói để cho tình yêu tưới gội chúng ta nhập thể. Giống như họ, chúng ta mang lấy những công việc đơn sơ và thông thường, chúng bồi dưỡng, an ủi, chữa lành, phục vụ và tô đẹp cuộc sống. Chúng ta có thể mở ra một tia sáng hy vọng trong những tâm hồn và thể xác hư hỏng. Như thế, tình yêu sẽ luôn luôn được nhìn nhận và được yêu mến. Nó sẽ vạch cho mình một con đường trên từng khuôn mặt. 

Ngày mười hai
TRỞ NÊN SỰ CẦU NGUYỆN

[Cuộc chiến đặt đối đầu quân đội của hoàng đế với quân đội của Đức Giáo hoàng. Binh lính đã vượt qua bức tường vây quanh đan viện rồi, bỗng thánh Clara tiến ra, dù đang bệnh, không có sự che chở nào khác ngoài chiếc bình ngà đựng bánh thánh].

Nhà viết tiểu sử thánh Clara kể: Bà phủ phục cầu nguyện với Chúa, và nước mắt chan hòa, Bà thưa với Chúa Kitô của Bà: “Lạy Chúa của con, chẳng lẽ Chúa lại muốn phó mặc vào tay quân ngoại giáo những nữ tỳ hèn yếu mà con đã nuôi dưỡng bằng tình yêu của Chúa? Lạy Chúa, con xin Chúa, xin Chúa che chở các nữ tỳ Chúa đây, những người mà bây giờ một mình con, con không thể cứu được”. Tức khắc, từ hòm bia ân sủng mới, có một tiếng nói như tiếng trẻ thơ vang lên bên tai Bà: “Ta sẽ luôn luôn bảo vệ các con. Thánh Clara thưa tiếp: “Lạy Chúa của con, nếu đẹp lòng Chúa, xin Chúa cũng bảo vệ cả thành này nữa, vì do yêu mến Chúa, họ vẫn nuôi dưỡng chúng con”. Và Chúa Kitô đáp lại Bà: “Thành này còn phải chịu đựng nhiều gian lao thử thách nặng nề, nhưng Ta sẽ chở che bảo vệ nó”.

Thế là người trinh nữ liền ngước gương mặt đầm đìa nước mắt lên, an ủi chị em đang còn than khóc: “Cáccon ạ, Mẹ đảm bảo là các con không còn phải gặp sự dữ nào nữa; các con chỉ việc tin tưởng vào Chúa Kitô thôi!” (Xêl 22).

Chúng ta đã thấy rằng thế giới không xa lạ với sự ấp ủ của Đức Kitô và của người nữ chí ái. Ngược lại, nếu Đấng chịu đóng đinh nghèo khó nhìn đến mỗi người chúng ta với tình ưu ái, đó là để bọc lộ cho chúng ta thấy tất cả lòng yêu thương của Người đối với nhân loại bị tan nát. Thánh Clara không thể làm ngơ trước những gì làm tổn thương Con Người, Đấng chạnh lòng thương (x. Lc 10,33) vì nỗi khổ của anh chị em Người.

Cùng với Đức Giêsu, người cầu nguyện tiếp nhận mọi nỗi khổ làm tổn thương vẻ đẹp của thế giới. Họ học nhận ra trong đó sự hiện diện bị nhạo báng của Vua vinh quang và nghe nơi đó lời than thở của Thiên Chúa động lòng trước sự đau khổ của nhân loại. Tình yêu Chúa Cha và tình yêu của nhân loại biểu lộ ra như một tình yêu duy nhất và như cùng một mầu nhiệm của sự nghèo khó. Chiêm ngắm Vị này, đó là nghe phía kia gõ cửa lòng chúng ta. Từ đó, chúng ta không thể nào không cùng với Đức Giêsu và thánh Clara đi vào một cuộc khẩn nguyện, tiếng kêu hi vọng vào một buổi sáng Phục sinh.

Biến cố cuộc đời thánh Clara được kể trên đây nêu bật lời van xin đầy đức tin và đức cậy.

Kêu lên Chúa

Mọi cuộc đời đều là một cuộc chiến đấu. Chiến đấu với bản thân, với những người khác và với Thiên Chúa.

Quân thù của thành Assisi đến nơi bờ tường đan viện San Đamianô… Ngày nay, kẻ thù đến với chúng ta dưới những hình dạng khác mà chúng ta phải đánh bật ra. Nó muốn ngăn cản chúng ta lớn lên trong tự do và trong tình yêu. Đôi khi lòng tin tưởng của chúng ta vào con người và vào cuộc đời bị hủy hoại trong đó.

Giữa bạo lực, vẫn có thể gióng lên một tiếng kêu. Giống như các môn đệ giữa cơn bão tố (x. Mc 4,35-41), thánh Clara thức Đức Giêsu dậy. Bà không thể dập tắt lòng bác ái nhiệt thành đang cháy bừng trong lòng dạ từ mẫu của Bà (x. 4T Ag 5). Tiếng kêu nhân danh một nhân loại bị đau khổ và sự chết đe dọa, bị xúc phạm ngay trong những quyền căn bản của nó, lời cầu nguyện của Bà gặp được tình yêu của Chúa. Nhưng đó là đêm tối. Nhiều khi, tiếng trả lời là sự im lặng sâu thẳm của sự vắng mặt làm rối loạn tâm trí. Khi ấy, còn lại đức tin, đức cậy và đức mến.

Thay vì để cho cuộc chiến đấu dự báo hạ gục mình, thánh Clara mang Đức Kitô vào giữa biến cố. Đối với Bà, mầu nhiệm Nhập Thể không phải là một lý thuyết, nhưng là thực tế chân thật nhất trong những giờ phút xáo trộn nhất của chúng ta. Chỗ của Chúa Giêsu, dưới hình bánh khiêm tốn, là ở đó, giữa những kẻ thuộc về Người. Đức khiêm hạ của sự hiện diện thực trong Thánh Thể không làm thánh Clara vấp ngã. 

Giúp Chúa

Càng chiêm ngắm Đức Kitô nghèo khó, được niềm tin tưởng của Người nơi Chúa Cha củng cố, thánh Clara lấy làm của mình lòng trắc ẩn và lời chuyển cầu của Người. Trong sự mỏng dòn của mình, Bà được bảo đảm trở nên mạnh mẽ nhờ quyền năng chiến thắng của Đấng Phục sinh. Bởi thế, tay không và bị tước hết do bệnh tật, Bà không sợ đặt mình ở giữa kẻ thù và các chị em mình. Không phải Bà, nhưng Đức Kitô cùng với Bà. Người ở trong Bà, Bà trở nên tường lũy và sự che chở cho đàn chiên đã được trao phó cho Bà: Chị em và là con cái của tôi, đừng sợ, Chúa là Đấng bênh vực chị em. Và tôi muốn là người bảo vệ chị em. Nếu quân thù vào tận đan viện, hãy đặt tôi trước mặt chúng (Án phong thánh IV,14).

Kêu lên Chúa, đó là liên kết với Chúa, là đến lượt mình, chúng ta đi vào trong mầu nhiệm Nhập Thể của Chúa Con, Đấng đã không tránh nỗi vất vả khổ cực để ở với những người nam người nữ đau khổ và chết. Cả sự yếu đuối của chúng ta cũng có thể dùng vào việc phục vụ họ. Lời cầu nguyện chuyển cầu của chúng ta đặt chúng ta như những người canh gác, nơi lỗ hổng, nơi biên giới, nơi nào sự sống và sự chết giao nhau. Nhà tiên tri nói: “Suốt ngày đêm, chúng sẽ chẳng bao giờ nín lặng. Hỡi những người có phận sự nhắc nhở Đức Chúa, anh em đừng nghỉ ngơi” (Is 62,6).

Thánh Clara xin được đặt trước mặt kẻ thù, cùng với Bánh là dấu chỉ khiêm tốn, Thân thể Chúa Giêsu, như chỗ dựa duy nhất. Với sức mạnh của niềm tin, Bà ghì chặt lấy sự hiện diện ấy (x. 3T Ag 7), Đấng cứu độ chúng ta nhưng có vẻ nghịch lý, Người đón nhận sự bất lực giống như chúng ta trước những vực thẳm của sự chết đang rình rập chúng ta. Thánh Clara biết điều đó, để trở nên sự giúp đỡ Thiên Chúa và để lòng trắc ẩn vô biên của Người đối với mọi người rung lên trong chúng ta, không có con đường nào khác ngoài việc cùng với Người đi vào tình yêu khiêm hạ, tình yêu này tước đoạt mọi hình thức quyền bính và bạo lực: Bà như cộng sự viên của chính Thiên Chúa, và như người nâng đỡ những chi thể yếu đuối trong thân thể khôn tả của Người (3T Ag 8). Duy chỉ người cầu nguyện với tâm hồn nghèo khó mới có thể để ơn trắc ẩn và lời chuyển cầu thấm nhập vào mình. Họ nhận thấy mình được trao sứ mạng giúp đỡ Thiên Chúa, bằng việc đón nhận phần gánh nặng lòng thương xót của Người được dành cho họ. Họ có thể hướng về Người lời van xin vì lòng trông cậy và yêu mến của họ, đón lấy lòng từ ái nồng cháy của Người, lòng từ ái vừa hiền phụ vừa hiền mẫu, đối với một thế giới được sinh ra trong đau đớn. Chuyển cầu là một cuộc chiến đấu. Người khiêm hạ dám đảm nhận nó bởi vì họ tin chắc vào Thiên Chúa của họ và lời hứa của Người. Với một niềm tin tưởng và một lòng phó thác vô hạn, thánh Clara không ngần ngại nhắc cho Chúa nhớ lại tình yêu của Người. “Khi kêu đến Ta, Ta liền đáp lại, lúc ngặt nghèo có Ta ở kề bên”. Câu Thánh vịnh 90 này, ai nói ra? Người cầu nguyện chăng? Hay Thiên Chúa? Có lẽ cả hai, bởi vì họ cần đến nhau để khơi lên lòng trông cậy trong tâm hồn con người (Chú thích của người dịch: Theo bản dịch tiếng Việt, rõ ràng đây là câu Chúa nói).

Chúng ta dám táo bạo van xin vì dựa trên chính lời của Đức Giêsu: “Nhưng can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33)… “Không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha” (Ga 10,29).

Ta sẽ luôn luôn bảo vệ các con… Trong nội vi đan viện San Đamianô đang bị bao vây, giống như trên đường đi Emmâu của chúng ta, Người đi đường với chúng ta, Người là nguồn trợ lực và là Đấng an ủi tốt nhất của chúng ta (T Erm 16). Cùng với Người, chúng ta làm cho mọi lời chuyển cầu được lắng nghe bằng cách mở ra một “cửa khẩu hi vọng” (Hs 2,17) trong cảnh những ngõ bí mà chúng ta gặp phải.

Ngày mười ba
TRỞ NÊN TỰ DO

Để vững bước hơn trên con đường huấn lệnh Chúa, xin Bà hãy nghe theo lời chỉ giáo của cha rất khả kính của chúng ta là anh Êlia, Tổng Phục vụ. Hãy coi trọng lời ngài răn dạy hơn lời những kẻ khác, và quí trọng hơn bất cứ mọi món quà nào khác. Nếu có ai nói với Bà hoặc gợi cho Bà điều gì khác, ngăn cản Bà đạt tới sự hoàn thiện hoặc đi ngược lại với ơn thiên triệu, thì xin đừng nghe theo, cho dù Bà phải kính trọng họ.

Song, là người trinh nữ nghèo khó, hãy ôm ấp Chúa Kitô nghèo khó. Hãy ngắm nhìn Đấng đã vì Bà mà bị khinh dể và hãy bước theo Người: hãy chịu khinh dể vì Người trên thế gian này. Hôn phu của Bà, Đấng xinh đẹp nhất giữa con cái loài người, đã trở thành người thấp hèn nhất, bị khinh dể, bị đánh đập, toàn thân tan nát vì đòn vọt, lại chịu chết hết sức đau đớn trên thập giá để cứu độ Bà. Vậy, tâu hoàng hậu cao sang, hãy chăm chú nhìn Người, nghĩ tưởng đến Người, chiêm ngắm Người, bởi vì Bà ao ước noi gương Người (2T Ag 15-20).

Tình yêu mến Đức Kitô nghèo khó đặt thánh Clara đứng thẳng với tất cả tư thế người nữ tự do, kẻ nghe tận đáy lòng mình tiếng gọi sống theo Phúc Âm trong sự nghèo khó triệt để nhất. Nếu Bà nắm trong tay cuộc sống mình, đó là để dâng hiến cho Đấng xinh đẹp nhất giữa con cái loài người.

Sống tự do

Kể từ ngày Bà nhận ra sự nghèo khó là mảnh đất Thiên Chúa chọn để chia sẻ lịch sử của chúng ta, thánh Clara không còn muốn bỏ hoang nó nữa. Ngay từ khi bắt đầu ơn gọi, Bà đã chứng tỏ một sự dứt khoát không lay chuyển. Bất chấp với những thông lệ xã hội để đón nhận một hình thức tu trì chưa từng được biết đến, đó không phải là chuyện dễ dàng. Bà đi theo con đường riêng của Bà, ngoan ngoãn với tiếng Chúa Thánh Thần, Đấng thổi vào Bà tiếng Chúa gọi đi theo con đường hoàn thiện ấy.

Tự do là một chữ không được biết đến trong ngôn từ của Bà. Nhưng cách thức Bà lấy các chọn lựa của mình chứng tỏ ơn Chúa ban cho Bà. Trong thời đại chúng ta, đặt nặng mối quan tâm đến sự phát triển cá nhân, thánh Clara dạy cho biết làm thế nào để nói tiếng “xin vâng” hay tiếng “không” để đạt đến hình thù trọn vẹn của Đức Kitô. Tình yêu mến Chúa mở tung tất cả mọi khả thể của Bà, đặt Bà trong ước muốn của Chúa mình, để cho toát ra một câu trả lời không úp mở và đổi mới trong sự tự do của Chúa Thánh Thần. Không phản kháng, không gây gỗ, Bà chỉ đón nhận những gì Đức Khôn ngoan của Chúa ban cho Bà thấy là đúng, là thật và là tốt. Không do dự, Bà dấn thân thật sự, không quay lại đàng sau, dám lấy những chọn lựa được đặt ra.

Không có tài sản để bảo vệ, thánh Clara tiến bước thoát khỏi những sợ hãi chính đáng vây bủa bản năng chiếm hữu. Sự tự do giải phóng khỏi sự khắc khổ nghiêm nhặt và căng thẳng nhắm để “đáng hưởng” niềm hạnh phúc. Nó đánh tan nỗi lo lắng muốn thành công trong cuộc sống cũng như nỗi băn khoăn nảy sinh không ngừng đối diện với gánh nặng của tương lai. Nó giải phóng khỏi mối quan tâm chồng chất những bảo đảm và những của cải để bảo vệ mình khi gặp thiếu thốn và đau đớn. Theo mức ưng thuận của chúng ta, sự tự do uốn nắn tâm hồn nghèo khó bằng cách lột khỏi nó những của cải bên trong và bên ngoài đang chèn ép nó. Bù lại, người nghèo khó phúc âm không còn biết đến nỗi sợ hãi phải mất đi. Kho tàng đích thực của họ được gắn ở trên trời, nơi đó mối mọt không làm hư nát, kẻ trộm không khoét vách lấy đi (x. Mt 6,19-21).

Trong một Giáo Hội bị tê liệt vì quyền lực và sự giàu sang, thánh Clara đặt sự an toàn của mình nơi Cha, Đấng chăm sóc chim trời và hoa đồng nội. Các Đức Giáo hoàng và Giám mục với sự lo lắng khôn ngoan sẽ cho đó là điên rồ! Với mối thiện cảm các ngài dành cho Clara, nhiều lần họ cảm thấy thương hại trước sự tạm bợ về đời sống vật chất của chị em. Đức Giáo hoàng muốn thuyết phục Bà chấp nhận một ít của cải: “Nếu con e ngại phạm đến lời khấn, Ta sẽ giải lời khấn ấy cho con”. Trước những lời ấy, Bà đáp lại: “Tâu Đức Thánh Cha, con không bao giờ mong muốn, bằng bất cứ văn kiện nào, cho đến muôn đời, được miễn trừ khỏi việc bước theo Đức Kitô” (Xêl 14).

Thánh Clara không ngần ngại kéo chị Agnès thành Prague đi trong sự tự do phúc âm: Nếu có ai nói với Bà hoặc gợi cho Bà điều gì khác, ngăn cản Bà đạt tới sự hoàn thiện hoặc đi ngược lại với ơn thiên triệu, thì xin đừng nghe theo, cho dù Bà phải kính trọng họ (2T Ag 17). Thế nhưng, Bà không bao giờ rơi vào cơn cám dỗ tuyệt giao. Giáo Hội vẫn là cộng đoàn trong đó Bà sống đức tin của mình và từ Giáo Hội, Bà tiếp nhận Lời và Bánh đi đường; Bà muốn trung thành với Đức Giêsu trong sự hiệp thông vâng phục có trách nhiệm. Sự điên rồ của đức nghèo khó vấp phải sự khôn ngoan dễ hiểu muốn đi ngược lại tiếng gọi ấy. Nhưng thánh Clara múc trong niềm hạnh phúc bước theo Đức Kitô sức mạnh bình thản chống cự lại – thậm chí đối đầu – để đứng vững trong ước nguyện của mình. Với lòng kính trọng và đức kiên nhẫn, Bà sống trong Giáo Hội, mở lòng đón nhận sự lo lắng của các chủ chăn dành cho Bà, nhưng để ý không bao giờ dập tắt sự soi sáng của Chúa Thánh Thần.

Vì một sự gắn kết vĩnh viễn

Một cách quyết liệt, thánh Clara nhấn mạnh với chị Agnès: Là người trinh nữ nghèo khó, hãy ôm ấp Chúa Kitô nghèo khó! Điểm nhắm tối hậu được diễn tả cách cụ thể và hơi tầm thường trong đó có tất cả sự táo bạo của đức tin và tình yêu của người Nữ tu Nghèo khó thành Assisi!

Cấp bách phải cất đi những chướng ngại, giữ tiến độ của cuộc chạy đã bắt đầu. Không gì còn có thể tách rời tâm hồn nghèo khó khỏi Đấng chịu đóng đinh nghèo khó… Cái ôm của họ trở thành tài sản quí báu nhất; sự gắn kết nối họ lại với nhau, đó là sự diễn tả sự tự do cao cả nhất của họ. Bởi vì sự tự do có ích gì nếu đó không phải là trao hiến trong tình yêu? Bà táo bạo để Ai khác dẫn mình đi (x. Ga 21,18) để bước vào trong dự phóng của Người và đem mọi sự vào hoạt động để dự phóng ấy được thực hiện.

Tình yêu bộc lộ con người thật của chúng ta. Nó hoàn thành con người trong sự tự do trao hiến, chỉ sự tự do trao hiến này mới có thể đáp trả lại sự lôi cuốn mà khuôn mặt của một Thiên Chúa nghèo khó và khiêm hạ thực hiện trong chúng ta. Đó là nghịch lý thánh Clara đã khám phá ra và đã sống: chỉ duy Con Thiên Chúa tối cao, người đầy tớ quì dưới chân các môn đệ (x. Ga 13), mới giải phóng khỏi mọi hình thức nô lệ và mọi sự sợ hãi. Hình ảnh Đức Kitô hấp hối trong sự trần trụi, sự sỉ nhục và sự khinh bỉ, để lại trong Bà một dấu son. Tất cả đời sống đơn sơ và nghèo khó của Bà mang dấu ấn ấy. Trong những mối liên lạc huynh đệ ngọt ngào hay đắng đót, vào những năm Bà lâm bệnh, trong cuộc chiến đấu lâu dài để cứu vãn Đặc ân sống nghèo, thánh Clara khám phá ra một kho tàng duy nhất: Đức Giêsu nghèo khó đã đến làm cho chúng ta trở nên giàu có nhờ sự nghèo khó của Người.

Chúng ta đi tìm kiếm sự triển nở và niềm hạnh phúc, thường chúng ta vụng về, đôi khi chúng ta đi lang thang trên những con đường ngang dọc. Từ sự gắn kết của chúng ta với Đức Giêsu có thể phát sinh ra sự tự do phúc âm cao cả nhất, ngay cả khi cảm tính của chúng ta chống lại viễn tượng chúng ta gắn kết với Đấng chịu đóng đinh nghèo khó.

Tin Mừng chống lại thứ tự do khi nó chỉ là một thứ nô lệ trá hình. Tiếng gọi của Người Nghèo thành Nadarét hướng những năng lực tốt nhất của chúng ta (sự chiếm hữu, quyền lực và hưởng thụ) vào một giao ước gắn liền chúng ta lại với Người: “Anh chỉ thiếu có một điều: hãy đi bán… hãy đến theo tôi” (Mc 10,21). Bấy giờ, sự tự do này được đón nhận như hoa trái đã chín mọng dưới ánh nắng mặt trời, tức là sự gắn kết của chúng ta với Đức Giêsu Kitô.

Ngày mười bốn
TRỞ NÊN SỰ SỐNG

Nhưng sức của tôi đâu phải là sức đá, thịt của tôi đâu cứng như đồng. Không, chúng ta mỏng dòn và mang nặng mọi yếu đuối của thể xác! Do đó, thưa chị rất yêu dấu, tôi nài xin chị hãy khôn ngoan và sáng suốt rút lại mọi kiêng cữ nhiệm nhặt quá đáng mà tôi biết chị đang giữ. Trong Chúa, tôi nài xin chị tán dương Người bằng chính cuộc sống của chị, tiến dâng lên Người một sự thờ phượng xứng hợp và của lễ hi sinh của chị luôn được ướp muối. Chúc chị luôn luôn mạnh giỏi trong Chúa như tôi vẫn ước ao cho chính mình (3T Ag 38-42).

Một lời khuyên lạ lùng dành cho một chị bạn đang muốn sống hoán cải. Nó chứng tỏ cùng một lúc lòng ưu ái rất quân bình thánh Clara dành cho chị Agnès, sự khôn ngoan sâu sắc và lương tri lành mạnh.

Biểu dương nguồn

Ý định chủ yếu của thánh Clara là tán dương Chúa, nhìn nhận Người và chiêm ngắm Người đúng sự thật của Người, biểu dương bằng lời nói và việc làm vẻ đẹp của tình yêu của Người. Đấng Bà đã cảm nghiệm được sự dịu ngọt, Bà công bố bằng cả con người mình lòng tốt lành và sự khôn ngoan của Người. Tập trung vào sự nghèo khó Người đã ưng nhận để đến với loài người trong tận gốc rễ của nó, Bà chỉ biết dành cho Người những lời tạ ơn. Những gì Người đã nói, đã làm và đã chịu vì Bà và vì thế gian đều ở trong lời tạ ơn của Bà. Trong một tiếng kêu đầy kinh ngạc sôi sục nhu cầu tận tâm can Bà là chúc tụng, ngợi khen, nhìn nhận Đấng đến với chúng ta dưới những hình dạng khiêm tốn, với tình yêu viên mãn khôn tả của Người.

Khi bắt đầu, chúng ta đã gợi ra giờ phút ấy rồi, đêm trước khi thánh Clara qua đời, lời thốt ra đầy vui sướng tận đáy lòng trong lúc lời Bà tán dương Chúa suốt cả cuộc đời đã trở nên trọn vẹn: Lạy Chúa, chúc tụng Chúa Đấng đã dựng nên con.

Ngợi khen và chúc tụng trào dâng, đó là hơi thở của tâm hồn Bà, là làn gió đẩy Bà ra khơi. Bởi vì Chúa đã gọi chúng ta làm những việc cao trọng như thế, đến nỗi chúng ta được nên gương soi cho những người làm mẫu mực và gương soi cho kẻ khác, thì chúng ta phải chúc tụng và ngợi khen Chúa nhiều lắm, và luôn múc lấy nguồn sức mạnh trong Người để làm việc lành (DC Cl 21-22).

Đó là vai trò duy nhất của Bà: trở thành lời ngợi khen, người nữ tự do nhận mọi sự từ Chúa và làm cho mọi sự tốt lành được dâng trả về Nguồn của chúng. Nhưng làm sao dung hòa được hạnh phúc sống với hi sinh?

Sống, tuyên xưng Chúa

Dường như thánh Clara hơi xa với những quy định về sự khổ chế thông thường trong đời sống tu trì thời đại Bà. Trong đời sống đền tội cá nhân Bà, xảy ra là lương tri và óc thực tế của Bà đã phải thất bại. Những thái quá riêng tư đã dẫn Bà đến những chỗ thiếu khôn ngoan. Nhưng ý thức rất sống động về tiếng gọi đầu tiên là chúc tụng ngợi khen Chúa đi vào hoạt động để giữ tình yêu tỉnh thức. Bà chọn cho chị em óc phân định và sự khôn ngoan, để ý đến sức khỏe của họ theo tình mẫu tử. Chúa là Thiên Chúa của những kẻ sống. Người muốn chúng ta trở thành đối tác của một giao ước trong đó, chúng ta sống lại trong tình yêu được đón nhận và chia sẻ, chúng ta phải có khả năng sắp đặt bậc thang các giá trị giúp chúng ta sống để lớn lên trong sự nhận biết nguồn làm cho chúng ta hiện hữu.

Sống để ngợi khen Đấng Tạo thành chúng ta đưa đến sự tự do đích thực trong đó chúng ta trở thành những người sống thật sự, theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa. Để bền bỉ trên đường đi, để ngày càng hạnh phúc hơn đi vào trong bài ca cảm phục và tạ ơn nguyên thủy của người sống dành cho Đấng hằng sống, không được cưỡng bức thân xác – cũng không được cưỡng bức linh hồn – bắt nó phải chịu những sự từ bỏ “chết người”! Nhưng sức của tôi đâu phải là sức đá, thịt của tôi đâu cứng như đồng. Không, chúng ta mỏng dòn và mang nặng mọi yếu đuối của thể xác. Chúa không chờ đợi những hy lễ hoặc những của lễ toàn thiêu của chúng ta (x. Hs 6,6), Người ưa thích tình yêu và công lý của một tâm hồn cho đi với niềm vui. Rất nhiều khi chúng ta tưởng nghĩ mình dâng lên Người sự chọn lựa của chúng ta. Chúng ta không thiếu tưởng tượng khi chúng ta muốn thanh tẩy khát vọng của chúng ta và chú tâm mở toàn thể con người chúng ta ra với Thiên Chúa Đấng duy nhất tốt lành. Các khám phá của lòng quảng đại chúng ta có thể rất nhiều nhưng cách thức hành động của chúng ta lại chẳng thường tỏ ra kiêng cữ nhiệm nhặt quá đáng đó sao? Chúa sẵn lòng nhắc lại với chúng ta: “Coi đây, hôm nay tôi đưa ra cho anh em chọn: hoặc là được sống, được hạnh phúc, hoặc là phải chết, bị tai họa… Anh em hãy chọn sống… (Đnl 30,15-20).

Với lòng kính trọng vô biên đối với tạo thành của Người, Người để chúng ta là người, dạy chúng ta yêu mến thân xác chúng ta trong đó thần khí tác sinh của Người hít thở. Sống là để yêu, để chúc tụng, và điều đó, ngay trong chính những sự mỏng dòn của chúng ta, trong một sự thờ phượng xứng hợp.

Sự quan tâm quá đáng liên quan đến của lễ chúng ta có thể dâng lên Chúa để làm vui lòng Người, nhưng đầy ô uế vì thiếu tâm hồn đơn sơ khi chúng ta tập chú vào bản thân chúng ta và vào những của chúng ta dâng cúng mà quên đi Đấng mà chúng ta dâng tiến cho. Có lẽ khổ chế chủ yếu là để chúng ta theo sự quân bình và xứng hợp lưu tâm đến của lễ quí báu là sức khỏe để giúp chúng ta có thể ngợi khen chúc tụng qua thân xác cát bụi nặng nề của loài người chúng ta.

Chúc chị luôn luôn mạnh giỏi

Khi nhắc nhở chúng ta về mục tiêu tối hậu của đời sống chúng ta là ca hát ngợi khen Chúa, thánh Clara kêu gọi chúng ta quay về với thể xác chúng ta, dụng cụ khiêm tốn trong tầm tay chúng ta và với thể xác ấy chúng ta chơi bản nhạc ca tụng vẻ đẹp.

Khổ chế không nhất thiết là dấu chỉ của một đời sống thiêng liêng chân thực. Các ân huệ của Chúa không đo lường bằng sự đong đếm các nỗ lực của chúng ta, cho dù đó là những nỗ lực quảng đại nhất. Chúng đều được Chúa ban không. Chân thật và nghèo khó trước mặt Người, chúng ta đi vào một chuyển động của tình yêu nơi hội tụ lòng kính trọng và lòng âu yếm, tính không cầu lợi và lòng biết ơn, nơi đó cái thường ngày trở thành nơi ưu việt cho sự chiêm niệm và sự khổ chế, nơi đó thánh nữ Đơn sơ tinh tuyền có người chị là nữ hoàng Khôn ngoan (K Nđ 1). Thánh Clara xác quyết điều đó cách vắn gọn: lời chúc tụng ngợi khen không gặp được bầu trời để nó bay bổng nơi chay tịnh và sám hối, nó tuôn trào từ một tâm hồn ưng nhận anh xác với lòng kính trọng tràn đầy, trong niềm vui vâng theo thực tế cách khôn ngoan. Chay tịnh chẳng ích lợi gì nếu nó không cắm rễ nơi lời tạ ơn trong đó tâm hồn hít thở sự tự do đầy tình mến Chúa. Niềm vui sống cho Chúa buộc chọn luôn mạnh giỏi, vẫn là những người sống có khả năng được Ai khác đón nhận và tự trao ban chính mình để đáp lại. Lời ngợi khen chúc tụng là điều thiện hảo của một tâm hồn nghèo khó, không lệ thuộc bất cứ mối bận tâm đến việc khổ chế nào. Nó cho phép chúng ta khám phá ra các sự vật và tiếp xúc với những con người bằng một tâm hồn mở rộng trong niềm tạ ơn bao la. Khi thánh Clara gửi các chị em đi phục vụ bên ngoài đan viện, Bà mời gọi họ ngợi khen Chúa khi thấy hoa lá của những cây đẹp. Bà mong họ cũng làm như thế trước những những người đàn ông và những tạo vật khác để Thiên Chúa nhận được vinh quang từ mọi sự và bởi mọi sự (Án phong thánh XIV,9).

Chúc chị luôn luôn mạnh giỏi, hãy tuyên dương lòng tốt lành của Thiên Chúa hòa thêm một chút khôn ngoan là sự khổ chế và những sự từ bỏ của chị. Từ bỏ bản thân trong tâm tình tạ ơn là một trong các dấu chỉ cho thấy đời sống thêng liêng lành mạnh. Hãy thích ứng những chay tịnh và kiêng cự với tìng trạng mỏng dòn và những yếu đuối thể xác của bạn. Bởi vì người sống, chỉ người sống mới ca tụng Chúa của sự sống ngày hôm nay (x. Is 38,19). 

Ngày mười lăm
TRỞ NÊN LỜI NGỢI KHEN

Xin Chúa ngoảnh mặt lại nhìn các con và ban cho các con được bình an, là những chị em và con cái của mẹ, cho tất cả những người sẽ đến sau các con và sẽ ở lại trong các cộng đoàn các con, và cho những người khác nữa, hiện tại cũng như tương lai, những người sẽ kiên trì cho đến cùng trong tất cả các đan viện khác của các Bà Nghèo khó. Tôi, Clara, nữ tì của Chúa Kitô, cây nhỏ của cha thánh Phanxicô chúng ta, là chị và là mẹ của các con cũng như của tất cả các Chị em Nghèo khó khác, dù bất xứng, mẹ chúc lành cho các con khi mẹ còn sống và sau kho mẹ chết, với hết khả năng của mẹ, bằng mọi phúc lành mà Chúa Cha nhân từ đã ban và sẽ ban cho con cái Người trên trời dưới đất, và bằng mọi phúc lành mà một người cha và người mẹ thiêng liêng đã ban và vẫn còn ban cho các con cái thiêng liêng của mình. Amen.

Các con hãy luôn luôn yêu thương linh hồn mình và tất cả các chị em mình, và hãy chăm chỉ tuân giữ những điều các con đã hứa với Chúa.

Nguyện xin Chúa ở với các con mọi lúc và ước gì các con luôn ở với Người. Amen. (Cl Cl 4-6; 11-16).

Sự tuôn đổ lòng tốt lành

Cuối chặng đường cầu nguyện của chúng ta, như ở phần dẫn nhập chúng tôi giới thiệu như một cuộc đi dạo vào cảnh trí nội tâm của thánh Clara, Bà chờ đợi chúng ta, một mớ lời chúc lành trên môi và trong tâm hồn…

Làm sao có thể là khác được? Cha đầy lòng thương xót, Đấng Bà cầu nguyện với và Bà để cho xuất hiện qua trăm ngàn cử chỉ hằng ngày, Người ban mình cho Bà và qua Bà, như Nguồn vô tận mọi sự tốt lành. Thánh Clara là chứng nhân về thánh ý Chúa muốn mỗi con cái của Người được hạnh phúc. Điều Bà đã cảm nghiệm về Sự Thiện vẹn toàn là Thiên Chúa và là Đấng Tạo hóa trở nên kho tàng của mọi người. Giống như Bà, mọi vật và toàn thể vạn vật đều là đối tượng được Chúa Cha chúc phúc.

Bởi vì từ lâu trước khi chúng ta chúc tụng Người, Người đã ban phúc lành cho chúng ta rồi! Nhiều khi những thực tế chua cay của cuộc đời chúng ta khiến chúng ta không nghe được lời Người thốt lên đầy ngạc nhiên vào buổi mai ngày tạo thành thế giới: “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả thực là rất tốt đẹp” (St 1,31). Thiên Chúa, Đấng hằng sống ban mình, chúc lành cho chúng ta mỗi khi bình minh bừng dậy. Người chỉ nói, Người chỉ muốn điều tốt cho mọi người. Sự chúc lành của Người là sự cứu độ của chúng ta, vì trong nó, mỗi sáng chúng ta múc được niềm vui, sức mạnh cho cuộc đi đường, với niềm xác tín vào lòng trung thành của Người.

Được biến đổi theo hình ảnh Đấng chúng ta yêu mến và chiêm ngắm, chúng ta trở nên nhân chứng về tất cả lòng quảng đại của Thiên Chúa. Và không chỉ là những chứng nhân còn ở bên ngoài sự chúc lành của Người, nhưng đến lượt mình chúng ta là nguồn, cha mẹ thiêng liêng của những người nam người nữ được ban cho chúng ta yêu mến. Sự phong phú của Cha đầy lòng thương xót không dừng lại ở tâm hồn riêng của chúng ta, qua chúng ta, nó còn trải rộng ra cho một số đông nữa.

Theo thánh Clara, đó là việc của chúng ta, mối bận tâm duy nhất của chúng ta, mọi hoạt động khác đều phải tùy thuộc vào đó: Trên hết mọi sự, hãy chăm lo diều này là, ao ước được Thần Linh Chúa hiện diện và tác động nơi mình (L Cl X,9). Thần Linh tác sinh muốn cảm thấy được ra khơi trong ngôi nhà chúng ta, đưa chúng ta vào cuộc sống thật và, qua chúng ta, Người sinh ra những người khác biết mình có giá trị như thế nào trước mắt Chúa Cha. Những người nam người nữ khám phá ra trong đôi mắt của Người vẻ đẹp của cuộc đời họ, dù cho phải trải qua những đau khổ và những đêm tối.

Đi tìm sự hài hòa

Các con hãy luôn luôn yêu thương linh hồn mình và tất cả các chị em mình (và Thiên Chúa, một thủ bản ghi thêm). Lòng tốt lành hoàn toàn ban không của Thiên Chúa, Đấng ban phúc lành cho chúng ta và quay mặt về phía chúng ta, dẫn chúng ta đến một sự hỏa giải sâu xa với bản thân chúng ta và với người khác. Không hề có chuyện phủ nhận những bóng tối trong cuộc đời chúng ta, những chỗ trong lịch sử riêng của chúng ta mà chúng ta muốn xếp xó vào cõi vô thức của chúng ta, nhưng chúng ta bí mật giữ các dấu vết của chúng qua các cách cư xử hằng ngày của chúng ta. Khi cái nhìn của Đấng là Tình yêu đậu trên cuộc đời chúng ta và nói với nó: “Tốt lắm, rất tốt!”, chúng ta cảm thấy được đón nhận và được kính trọng trong tất cả cuộc phiêu lưu của con người mang dấu những thương tích qua những cơn thử thách. Cái nhìn ấy ban phúc lành cho chúng ta, dẫn chúng ta đến chỗ đơn sơ đón nhận bản thân chúng ta. Chúng ta bắt đầu ưng nhận khuôn mặt thật của chúng ta, không che đậy và không giả hình. Bấy giờ từ con người đã được hòa giải của chúng ta có thể toát lên niềm vui vì lòng biết ơn: Lạy Chúa, chúc tụng Chúa đã dựng nên con. Lời chúc tụng đầu tiên này, lời căn bản, được ngỏ với Chúa Cha, thay đổi cái nhìn của chính chúng ta. Chúng ta khám phá ra sự hài hòa của mọi vật và mọi người trong tiếng “tốt lắm” mà Chúa Tạo hóa tốt lành đặt trên chúng từ nguyên thủy.

Đến lượt chúng ta, chúng ta bước vào dòng chảy tốt lành của lời chúc tụng. Theo thời gian, nó trở thành sự hiện diện của tình bạn bên cạnh bản thân chúng ta, anh chị em chúng ta trong cộng đồng nhân loại. Thánh Clara để lại cho chúng ta di sản là cái nhìn của Bà, cái nhìn hân hoan về sự hiện hữu của người khác mà không giản lược họ vào những gì Bà đã biết về họ. Mỗi sáng mai, tâm hồn Bà lại ngạc nhiên trước những nét trên một khuôn mặt Bà yêu mến, nó phác họa cho Bà hình ảnh của Chúa chí ái.

Lời cầu nguyện bắt rễ vào lòng tốt lành của Chúa thâu tóm mọi người mọi vật ngụp lặn trong tình yêu luôn ban không của Cha đầy lòng thương xót. Bà vang vọng đáp lại lời chúc lành của Người, dâng lên Người mọi phúc lành, lời ca của những người nghèo tràn đầy tình bạn với Thiên Chúa. Lời ca nối kết với niềm hân hoan của Chúa Giêsu khi Người thấy tên những người bạn của Người được ghi trên trời: “Lạy Cha, con xin ngợi khen Cha” (Mt 11,25).

Chúa ngươi ở đâu?

Nguyện xin Chúa ở với các con mọi lúc và ước gì các con luôn ở với Người.

Chúng ta hãy đón nhận lời cầu chúc cuối cùng thánh Clara dành cho chị em Bà và mỗi người chúng ta lúc kết thúc chặng đường cầu nguyện này. Những thời gian chúng ta nghỉ ngơi trong Chúa, Đấng thánh Clara tin tưởng, không có mục đích nào khác ngoài việc đào sâu trong chúng ta niềm khát vọng được kết hiệp với Cha đầy lòng thương xót, Đức kitô nghèo khó và Chúa Thánh Thần. Hòa nhịp với những mùa trong đời sống thiêng liêng của chúng ta, trong đức khiêm nhường với những công việc rất thông thường của chúng ta, chúng ta khám phá ra sự gần gũi với Thiên Chúa, Đấng đi xin tình thương của chúng ta. Người không lập cư nơi chân trời mơ hồ và mong manh trong các giấc mơ của chúng ta, nhưng Người lập cư nơi mảnh đất sạn sỏi và phì nhiêu là lịch sử cá nhân và tập thể của chúng ta.

Giống như thánh Clara, chúng ta có thể có niềm vui nhẹ nhàng, đầy kiên nhẫn và âm thầm trong sự đồng hành hằng ngày với Thiên Chúa. Bởi vì trong thời gian bình thường dày đặc, dưới cầu vồng gồm các biến cố, vang lên bản nhạc của Thần Khí, Đấng dẫn chúng ta đến chiêm ngắm Thiên Chúa của giao ước, Lời tác sinh của Người nâng đỡ cuộc đời chúng ta.

Luôn ở với Người, như Người không ngừng ở với chúng ta… Trong sự chúc lành và chúc tụng lẫn nhau này phát xuất từ lòng một mối ngỡ ngàng dành cho nhau, chúng ta đã hít thở được bầu khí của Nước Trời khi chúng ta thuận theo thánh ý tốt lành của Chúa, Đấng muốn chúng ta kết hiệp với Người trong tình yêu mọi nơi mọi lúc. Bởi vì không có nơi nào và không có thời gian nào là quá hẹp để chúng ta sống trong sự tìm kiếm khuôn mặt của Người.

Sự lột bỏ và sự đơn sơ trong đời sống thường ngày với những niềm vui và những nỗi buồn của nó, ví như “Đan viện San Đamianô chúng ta”, trong đó, theo chân thánh Clara và các chị em Bà, chúng ta để cho Đấng chịu đóng đinh gặp chúng ta. Bất cứ nơi đâu Người mời gọi chúng ta đến gặp Người, nghĩa là trong mọi ngôi nhà nghèo khó trước mắt loài người, ở đó một nam tu sĩ hay một nữ tu sĩ vui sống, yêu thương, chịu đau khổ và chết.

Không giữ lại gì cho mình, nói lời “Xin vâng” với Thiên Chúa là Nguồn, Đấng nói với chúng ta “Tốt lắm”, đón nhận mỗi người đi ngang qua đúng như họ là, đó là kho tàng của chúng ta. Đó là sự giàu có của người bộ hành, vào cuối cuộc hành trình, sau khi đã lột bỏ hết mọi hành trang và có trái tim căng tròn với bao cuộc gặp gỡ. Đó là niềm vui của khách bộ hành khi người đó ngạc nhiên thấy mình được người khách lạ đã đồng hành với mình trên đường đi chờ đợi mình nơi quán trọ.

Tác giả: Maria-Becker, Nữ tu Dòng Clara
Chuyển ngữ: Lm Phaolô Đinh Huỳnh Hoa, Ofm

 

holysee web  Vatican Vietcatholic HDGM VN LOP NHAC
ORDOR FRA logo web fmm Daminh Dongten DCCT