Monday, Apr 24th

Last update01:08:48 PM GMT

Sự nghèo khó của con người

clara chiemThường Huấn tiếp tục kính chuyển đến anh chị em Chương II cuốn sách Clare of Assisi: a heart full of love ( Cincinnati: St. Anthony Messenger Press, 2007) của Ilia Delio, osf. Antôn Nguyễn Ngọc Kính chuyển ngữ.

Qua nhật báo mà chúng ta biết sự nghèo đói đang diễn ra trên thế giới. Đôi khi các bài báo về sự nghèo đói lại nằm ngay dưới mục thị trường chứng khoán hay đặt bên cạnh những câu chuyện về những người giàu nhất thế giới. Đặt những câu chuyện đối nghịch nằm bên cạnh nhau như vậy có thể là do ngẫu nhiên hay có chủ đích. Tôi thường nghĩ là có chủ đích, bởi vì sự nghèo khó làm cho chúng ta lo sợ.

Do đó, chúng ta khó hiểu được tính chất an toàn của sự nghèo khó mà thánh nữ Clara luôn nhấn mạnh. Tuy nhiên, thánh nữ khao khát sống nghèo không phải để tán dương sự túng thiếu của con người, hay vì thờ ơ với sự túng thiếu của họ, mà để khao khát Thiên Chúa. Nếu thánh nữ không xem sự nghèo khó của Thiên Chúa là tình yêu bao la của Người, thì tôi nghĩ thánh nữ đã chẳng theo đuổi một lối sống nghèo khó nhiệm nhặt và đã chẳng thôi thúc Agnes theo đuổi lối sống ấy. Trong thư thứ nhất, thánh nữ đã viết cho Agnes: “Em đã khinh chê mọi sự và đã chọn lối sống túng thiếu trong đức nghèo thánh thiện với hết cả tấm lòng và linh hồn.”[1] Thật khó lý giải tại sao một phụ nữ đài các có thể hạnh phúc khi chọn một lối sống nghèo khó và túng thiếu, trừ phi họ có một nhận thức về đức nghèo vượt trên mọi phương tiện vật chất. Clara hiểu rằng trọng tâm của đức nghèo là Thiên Chúa. Với Clara thì lôgic của đức nghèo là lôgic tình yêu. Thánh nữ xem sự nghèo khó của Thiên Chúa là suối nguồn của tình yêu viên mãn, và tình yêu ấy làm cho chúng ta hiện hữu, giữ gìn và thương xót chúng ta. Vai trò chủ chốt của tình yêu mà thánh nữ nhấn mạnh chính là đặc điểm của linh đạo Phan Sinh nói chung. Chúng ta được dựng nên là vì tình yêu, trong tình yêu và cho tình yêu, như Ramon Llull, một nhà thần bí Tây Ban Nha đã nói:

Họ hỏi Người Yêu từ đâu đến. Người Yêu trả lời: “Từ tình yêu.” “Ngài được dựng nên bằng gi?”- “Tình yêu.” “Ai đã cưu mang ngài?”- “Tình yêu.” “Ngài sinh ra ở đâu?”- “Tình yêu.” “”Ai đã nuôi dưỡng ngài?”- “Tình yêu.” “Ngài sống bằng gì?”- “Tình yêu.” “Ngài tên gì?”- “Tình yêu.” “Ngài từ đâu đến?”- “Tình yêu.” “Ngài đi đâu?”- “đi đến Tình yêu.” “Ngài ở đâu?”- “Trong tình yêu.” “Ngoài tình yêu thì ngài còn có gì nữa chăng?”- “Có, tội lỗi và xúc phạm đến Đấng Yêu Dấu.” “Thế thì Đấng Yêu Dấu có tha thứ cho ngài không?” Người yêu trả lời: “Đấng Yêu Dấu giàu lòng thương xót và công minh, cho nên tôi đã tìm thấy nơi trú ẩn giữa sợ hãi và hy vọng.”[2]

Làm thế nào để đặt tình yêu Thiên Chúa làm trung tâm cuộc sống chúng ta? Clara trả lời một cách đơn giản và thân thiện: Trở nên nghèo. Clara đã viết thư khuyến khích Agnes đi theo lối sống nghèo khó và phải đạt tới một mức độ nghèo khó nhất định thì mới có thể đi theo Vị Hôn Phu nghèo khó được. Trong một xã hội tiêu thụ thì khó có thể chấp nhận sự nghèo khó như bí quyết của một đời sống viên mãn. Với não trạng trần tục thì quan niệm đó quả phi lý. Nền văn hóa Phương Tây chìm đắm trong chủ nghĩa tư bản, mà quan niệm cơ bản của chủ nghĩa này cho rằng thành công trần thế là một phúc lành của Thiên Chúa. Loại nghèo khó mà Clara và anh chị em Phan Sinh quan niệm thì đối nghịch với chủ nghĩa tư bản và tinh thần độc lập. Sống nghèo như thế là lệ thuộc người khác. Đó đích thị là điều mà Clara và Phanxicô đã tìm thấy qua mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô. Trong Luật không sắc chỉ, thánh Phanxicô đã viết: “Anh em hãy lấy làm vui mừng khi sống với… những người nghèo và hèn hạ… Hãy nhớ rằng Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta… đã chẳng hổ ngươi. Chính Người đã sống như một khách lạ nghèo đói và đã sống nhờ của bố thí.”[3] Cũng vậy, khi thánh Bônaventura “chú giải Tin Mừng Luca,” người đã nêu bật sự nghèo khó của Đức Kitô như sau: “Hãy nhớ đến sự quảng đại vô ngần của Chúa Giêsu: Tuy giàu sang, Người đã trở nên nghèo vì anh em và làm cho anh em trở nên giàu nhờ sự nghèo khó của Người (x. 2 Cr 8,9).”[4] Cả Phanxicô và Bônaventura đều cho rằng Đức Kitô sống lệ thuộc người khác là để cho sự tốt lành của Thiên Chúa được tỏ lộ. Khi chúng ta để cho người khác giúp đỡ chúng ta, thì sự tốt lành của Thiên Chúa tỏa sáng qua con người của họ. Đức nghèo không liên hệ nhiều đến sự thiếu thốn hay nhu cầu, mà liên hệ đến tương quan. Đức nghèo thôi thúc chúng ta suy nghĩ về cuộc sống chúng ta trong thế giới dưới quan điểm yếu kém, lệ thuộc và dễ bị tổn thương. Đức nghèo không buộc chúng ta phải làm cho túi tiền của mình trở nên trống rỗng, nhưng làm cho con tim, trí tuệ và ý chí trở nên trống rỗng, bởi vì đó là những nơi chúng ta tích trữ của cải cho mình, và tự cô lập mà không tương quan thật sự với người khác. Đức nghèo mời gọi chúng ta trở nên mong manh, và cởi mở để tiếp nhận tha nhân, để cho người khác đi vào đời sống chúng ta và để chúng ta có đủ tự do mà đi vào cuộc đời người khác. Trong khi mời gọi chúng ta trở nên nghèo để có thể tương giao với Đức Kitô nghèo khó, thánh nữ Clara (và thánh Phanxicô) cũng mời gọi chúng ta trở nên nghèo để có thể tương giao với những anh chị em nghèo đói mà Đức Kitô đang sống trong họ.

Trong thư thứ hai, Clara mời gọi Agnes hãy “chăm chú nhìn ngắm Đức Kitô.” Mặc dầu thánh nữ không nối kết đức nghèo với việc nhìn ngắm Đức Kitô một cách minh nhiên, nhưng đức nghèo mà thánh nữ trình bày như nền tảng trong thư thứ nhất và “việc nhìn ngắm Đức Kitô” mà thánh nữ mời gọi trong thư thứ hai, có thể gợi lên ý tưởng này: Đức nghèo là nền tảng của thị kiến tâm linh hay chiêm niệm. Nhìn ngắm không phải là một hành động nhìn đơn thuần, mà là nhìn với con mắt tâm hồn. Đó là cái nhìn của người nghèo trên bình diện tâm linh, bởi vì họ có được sự tự do nội tâm để chiêm ngắm sự hiện diện của Thiên Chúa. Nếu chúng ta muốn tương giao thực sự với Thiên Chúa, chúng ta phải trở nên nghèo và quý mến đức nghèo.

Sống nghèo trên bình diện kinh tế không phải là chuyện khó, mà là sống nghèo trên bình diện tâm linh. Điều đó muốn nói rằng chúng ta phải từ bỏ những gì bóp ngạt cái tôi hay cản trở người khác xâm nhập cái tôi chúng ta. Nghèo khó tâm linh là linh dược giải trừ bạo lực và khắc phục nhu cầu tự khẳng định hơn người khác. Khi ngắm nhìn Đức Kitô nghèo khó chịu đóng đinh, Clara đã khám phá được con người. Thánh nữ nhận thức rằng trở nên nghèo không trái nghịch với việc hoàn thiện bản tính con người, mà là hoàn thiện nhân tính chúng ta. Chúa Kitô mạc khải cho chúng ta biết rằng con người vốn nghèo khó tự bản chất. Tuy nhiên, chúng ta đã quên bản chất nghèo khó của mình, bởi vì tội ích kỷ đã biến chúng ta thành những người “mê tiền ham của.” Đó là lý do tại sao việc hoán cải được xem như một chuyển động hướng đến đức nghèo, bởi vì sự nghèo khó là nền tảng của nhân tính đích thật. Trở nên con người đích thật là trở nên người nghèo. Sự nghèo khó của con người không phải là sự nghèo khó trên bình diện kinh tế, mà là trên bình diện bản thể, sự nghèo khó của hữu thể. Nghèo khó muốn nói rằng cuộc đời con người, từ khi chào đời cho đến khi nhắm mắt lìa đời, đều giăng mắc vào sợi dây yêu thương của Thiên Chúa từ ái. Hôm nay chúng ta có thể vui hưởng sự tốt lành dư dật, nhưng ngày mai chúng ta có thể mất tất cả. Cuộc sống thì hoàn toàn bất tất; không ai buộc phải đi theo con đường tất định. Mọi sự đều là hồng ân. Trong tác phẩm Bí tích sáng tạo, Michael và Kenneth đã đưa sự nghèo khó ra khỏi phạm vi kinh tế và đặt sự nghèo khó đứng tại trung tâm thân phận con người. Hai tác giả không có ý định nghĩa nghèo khó là gì, mà chỉ mô tả như sau:

 Khám phá ra sự hữu hạn của mình là nhìn nhận sự nghèo khó của mình. Khi người ta hiểu được sự “bất tất” của cuộc sống và cảm thấy sửng sốt mà thừa nhận rằng cội nguồn và nền tảng của con người không hệ tại chính mình, bấy giờ người ta biết mình thật sự nghèo nàn.”[5]

Nhiều người biết mình hữu hạn, nhưng ít người chấp nhận mình nghèo nàn. Khi nhìn nhận mình nghèo nàn, tôi không có ý thú nhận là mình không có tiền hay của cải vật chất, mà thú nhận rằng tôi lệ thuộc người khác như là cội nguồn cuộc sống của tôi và lệ thuộc làn không khí mà tôi hít thở từng giây từng phút. Sự nghèo khó nói với tôi rằng không phải đương nhiên mà tôi có được một cuộc sống như thế này. Lúc này thì tôi ở nơi đây, nhưng có thể là tôi đã ở một nơi khác. Có thể là tôi đã không hiện hữu, hay đã hiện hữu một cách khác, ở một nơi khác. Sự hiện hữu của tôi ở đây không phải là một sự tình cờ hay ngẫu nhiên đơn thuần. Tôi ở đây không phải do tôi chọn lựa (như thể là tôi có thể chọn sống một nơi khác). Tôi ở đây, bởi vì đó là thánh ý Thiên Chúa (kỳ thực là do tình yêu của Người), Người làm cho tôi hiện hữu. Chính tình yêu Thiên Chúa duy trì cuộc sống của tôi, bởi tình yêu của Người là cội nguồn cuộc sống của tôi. Nếu tôi biết được tình yêu ấy, tôi sẽ quý mến sự nghèo khó của tôi và nhận thức rằng, chính trong sự nghèo khó mà tôi được tự do để tôn vinh Thiên Chúa. Tôi sẽ nhận thức rằng sự sống của tôi bắt nguồn từ một người khác và tôi hoàn toàn lệ thuộc người khác: lệ thuộc Thiên Chúa, lệ thuộc con người mang hình ảnh Thiên Chúa và lệ thuộc tạo thành. Thomas Merton hiểu sự nghèo khó của con người như một lối sống tự do để thực hiện thánh ý Thiên Chúa. Cha đã viết như sau:

“Chính tình yêu Thiên Chúa sưởi ấm tôi dưới ánh mặt trời và cho mưa mát lạnh đổ xuống trên tôi. Chính tình yêu Thiên Chúa nuôi dưỡng tôi bằng tấm bánh tôi ăn và Thiên Chúa cũng nuôi dưỡng tôi khi tôi đói và khi tôi ăn chay. Chính tình yêu Thiên Chúa cho mùa đông tới khi tôi lạnh lẽo và ốm đau, và cho mùa hè ấm áp tới để tôi lao động, áo quần ướt đẫm mồ hôi…

Chính tình yêu Thiên Chúa nói với tôi qua chim trời ca hát và giòng suối róc rách, và đàng sau tiếng kêu la ầm ỉ nơi phố phường, Thiên Chúa cũng nói với tôi về ngày phán xét, và tất cả những thứ ấy đều là hạt giống do thánh ý Người gởi đến cho tôi.

Nếu những hạt giống ấy bén rễ nơi tự do của tôi, và thánh ý Người lớn lên trong tự do của tôi, tôi sẽ trở thành tình yêu như Người là tình yêu, và mùa gặt của tôi sẽ là vinh quang của Người và cũng là niềm vui của tôi.”[6]

Thánh Bônaventura khẳng định rằng nhân loại được tạo dựng nghèo đến mức mọi loài thụ tạo, tự bản chất thì hoàn toàn lệ thuộc Đấng Tạo Hóa. Mỗi thụ tạo tuy có một giá trị nội tại và duy nhất, nhưng là quà tặng của Thiên Chúa. Chúng ta biết mình hoàn toàn lệ thuộc Thiên Chúa. Cuộc sống nghèo khó làm cho chúng ta gắn bó với Thiên Chúa và giúp chúng ta mở lòng ra với Thiên Chúa là nguồn gốc của mọi ân ban tốt lành. Khi con người tương quan với Thiên Chúa, họ không chiếm hữu mà chỉ tiếp nhận. Sự nghèo khó của chúng ta chính là khả năng tiếp nhận của chúng ta, và chúng ta có thể nói được rằng chính Thiên Chúa lấp đầy sự trống rỗng của chúng ta.

Khi chúng ta thật lòng tự hỏi: “Tôi là ai?” bấy giờ chúng ta bắt đầu một cuộc sống nghèo khó. Đó là câu hỏi đầu tiên mà chúng ta phải đặt ra, nếu chúng ta muốn biết Thiên Chúa là ai. Thánh Bônaventura đã viết: “Không ai có được một ý niệm đầy đủ về Thiên Chúa, ngoại trừ kẻ có được một ý niệm đích thực và xác thực về mình. Không ai biết mình một cách đúng đắn, trừ phi họ nhìn nhận sự hư không của mình.”[7] Chúng ta phải nhìn nhận chúng ta không phải là Thiên Chúa, mà là do Thiên Chúa dựng nên từ hư không. Sự nghèo khó bắt nguồn từ thân phận thụ tạo của chúng ta, cho nên chúng ta không thể ngang bằng Thiên Chúa. Điều đó muốn nói đến một sự lệ thuộc triệt để, bởi vì chính sự sống của chúng ta bắt nguồn từ người khác và lệ thuộc người khác.

Mọi thụ tạo đều bất tất hay tương quan với nhau tự bản chất, chứ không riêng con người. Hai anh em giòng họ Himes đã viết: “Con người không còn đòi phải được xem là một hữu thể đúng nghĩa hơn cây cối hay súc vật, tinh tú hay sỏi đá.”[8] Nói như thế không có nghĩa là phủ nhận vai trò độc đáo của con người trong nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa. Chúng ta có thể nói rằng “con người là trung tâm của tạo thành mà Thiên Chúa đã hiến trọn thân mình cho họ. Thế nhưng, con người cũng là thụ tạo như các loài thụ tạo khác.”[9] Con người không phải là thành phần độc nhất trong câu chuyện tạo thành, mà là thành phần của một dàn hợp xướng rộng lớn đang chúc tụng Thiên Chúa. Về điểm đó thì tất cả tạo thành là một thực tại tràn đầy ân sủng. Tạo thành là bí tích của sự tốt lành sung mãn và tự khuếch tán mà Thiên Chúa tự do chia sẻ cho loài thụ tạo. Đạo lý về việc tạo dựng vạn vật từ hư vô không muốn khẳng định vũ trụ được dựng nên như thế nào, mà chỉ trả lời cho câu hỏi “tại sao vũ trụ đã hiện hữu?” Đạo lý về tạo dựng cho chúng ta thấy sự nghèo nàn cơ bản của vũ trụ. “Vũ trụ hiện hữu không phải là do bản chất nội tại của mình.”[10] Vũ trụ là một quà tặng của tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Các nhà tu đức sâu sắc đều biết chân lý đơn giản ấy. Chẳng hạn, thánh Augustinô đã viết trong tác phẩm Tự thuật:

“Tôi đã hỏi trái đất, và trái đất trả lời: ‘Tôi không phải là Đấng mà ngươi tìm kiếm.’ Tôi đã hỏi biển khơi, vực thẳm và những loài bò sát, chúng đều trả lời: ‘Chúng tôi không phải là Thiên Chúa của ngươi. Hãy đi tìm nơi những chỗ cao hơn chúng tôi.’ Tôi đã hỏi gió trời, không trung và mọi vật ở trong đó đều trả lời: ‘Anaximenes đã lầm, tôi không phải là Thiên Chúa.’ Tôi đã hỏi bầu trời, mặt trời, mặt trăng và muôn tinh tú, chúng đều trả lời: ‘Chúng tôi không phải là Thiên Chúa ngươi đang tìm kiếm.’ Và chúng lặp lại rằng: ‘Chúng tôi không phải là Thiên Chúa, mà Thiên Chúa đã dựng nên chúng tôi.’”[11]

Thánh Phanxicô Átxidi cũng nhận thức một cách sâu sắc rằng sự tốt lành của Thiên Chúa là nguồn mạch mọi sự tốt đẹp trong tạo thành. Trong tác phẩm Đại truyện, thánh Bônaventura đã viết: “Dù lớn hay nhỏ, mọi thụ tạo đều được cha thánh gọi là anh chị em, bởi vì người biết rằng mọi loài thụ tạo cũng bắt nguồn từ một nguồn gốc như người.”[12] Thay vì đứng trên bậc thang cao nhất của tạo thành mà nhìn ngắm thế giới, thánh Phanxicô đã coi mình như thành phần của thế giới thụ tạo. Nhờ đức nghèo mà người thể hiện tình liên đới với tạo thành. Thay vì sử dụng tạo thành như phương tiện để đi lên cùng Thiên Chúa, người đã nhìn thấy Thiên Chúa trong mọi thụ tạo, và nhìn nhận chúng là anh chị em, bởi vì chúng cũng được phú ban sự tốt lành cơ bản như người. Tất cả tạo thành là gia đình của người. Đây không phải là một tình yêu viễn vông, mà là một khám phá thực tế: Người thấy mình có liên hệ thiết thực với sao trời, mặt trăng, mặt trời, mây gió và trái đất. Mọi vật đều nói cho người biết về Thiên Chúa, đồng thời người tìm thấy Thiên Chúa trong và qua các thụ tạo. Lý do khiến Phanxicô có được kinh nghiệm về tình huynh đệ với tạo thành chính là nghèo khó. Leonardo Boff đã giải thích sự nghèo khó ấy như sau: “Đó là một lối sống, qua đó người ta để cho sự vật như chúng là, không thống trị, không chinh phục và cũng không biến chúng thành đối tượng của ước muốn quyền lực.”[13] Để có thể quý mến đức nghèo, người ta phải từ bỏ bản năng quyền lực và ước muốn thống trị các sự vật. Ước muốn chiếm hữu đó cản trở sự giao tiếp đích thực giữa người với người, và giữa con người với tạo thành. Khi trở nên nghèo, Phanxicô đã mở lòng ra với tình huynh đệ. Nghèo khó là cách thức trải nghiệm tình huynh đệ đại đồng. Nhờ sự nghèo khó mà Phanxicô nhận ra thân phận thụ tạo của mình, một thụ tạo giữa muôn vàn thụ tạo khác, một người nghèo giữa vô số thụ tạo nghèo nàn khác nhau trong tạo thành. Trong tư cách thụ tạo, người nhận thức là mình “không ở trên những thụ tạo khác, mà là ở với chúng như anh chị em trong cùng một gia đình.”[14]

Sự nghèo khó của tạo thành phản chiếu tình yêu nhân từ và quảng đại của Thiên Chúa. Thực vậy, đối với thánh Bônaventura thì lý do duy nhất làm cho mọi vật hiện hữu là tình yêu chan chứa mà Thiên Chúa tự do ban tặng cho chúng. Vũ trụ được hiện hữu là vì Thiên Chúa yêu thương vũ trụ và muốn hiến mình cho vũ trụ. Hai anh em dòng họ Himes đã khẳng định:

“Là thụ tạo hoàn toàn phụ thuộc, nhưng tạo thành được Thiên Chúa phú ban nhiều tài năng. Vì thế, khi chúng ta nhìn ngắm tạo thành như một toàn thể, hay nhìn ngắm mỗi thụ tạo trong bản chất đích thực của nó, tức là những thụ tạo hoàn toàn lệ thuộc ý định tốt lành của Thiên Chúa, chúng ta thấy được ân sủng nền tảng đã làm cho mọi sự hiện hữu. Vì mọi sự hiện hữu là do hành động tự do của Thiên Chúa – agape tuôn trào là cội nguồn của mọi hữu thể - thì mọi sự đều là bí tích biểu thị sự tốt lành và quyền năng sáng tạo của Thiên Chúa.”[15]

Sự nghèo khó của cuộc sống thụ tạo mạc khải sự hiện diện phong phú của Thiên Chúa, và trong sự nghèo khó của tạo thành, con người là sự mạc khải trọn vẹn nhất của Thiên Chúa. Nghèo khó có nghĩa là tiếp nhận, và tạo thành được dựng nên là để trở nên lòng dạ đón nhận ân sủng Thiên Chúa. Thánh Bônaventura đã chỉ ra rằng con người là “một người nghèo trong sa mạc,” chỉ vì con người là thụ tạo. Mặc dầu con người là loài thụ tạo độc nhất đứng thẳng giữa tạo thành, nghĩa là đầu con người nhắm đúng hướng – hướng về Thiên Chúa – từ nguyên thủy con người đã là người nghèo, bởi vì con người được người khác dựng nên từ hư vô. Bao lâu con người nhìn nhận và chấp nhận sự nghèo khó của mình, thì họ biết Thiên Chúa. Tuy nhiên, khi con người phủ nhận sự nghèo nàn của mình, họ khao khát chiếm hữu hơn đón nhận. Thánh Bônaventura khẳng định rằng cội rễ của tội lỗi là ở chỗ này: Con người cố ý quý mến tài sản của mình hơn là đón nhận của cải do Thiên Chúa ban tặng. Thánh nhân nói tiếp: Khi chúng ta chấp nhận sự nghèo khó của thân phận thụ tạo, chúng ta có được tất cả, bởi vì chúng ta có Thiên Chúa. Một khi chúng ta phủ nhận sự nghèo khó của mình mà khao khát chiếm hữu sự vật, rốt cuộc chúng ta sẽ chẳng có gì cả. Khi chúng ta từ chối sự nghèo nàn của thân phận con người, cuối cùng chúng ta sẽ hủy hoại chính mình.

Thánh Phanxicô thấu hiểu rằng sự nghèo khó liên quan đến thân phận con người. Tầm nhìn của người về sự nghèo khó đi song song với tầm nhìn của người về tội lỗi. Trong Huấn ngôn 2, người đã nói đến tội giữ ý riêng. Như khi chúng ta ăn, chúng ta đưa sự vật vào trong mình, thì tội lỗi cũng đi vào thân phân con người, khi họ ăn uống vì mình, mà sách Sáng Thế Ký biểu thị bằng việc ăn trái cấm. Thánh Phanxicô còn mô tả tội lỗi như việc chiếm hữu quà tặng tự do làm của riêng và đề cao bản thân hơn những sự tốt lành chung quanh. Tội lỗi là chiếm hữu điều không thuộc về chúng ta, xem nó là của mình và sử dụng nó để tiến thân. Do đó, Phanxicô đã mô tả tội lỗi như là nắm giữ, chiếm hữu làm của riêng, hay chiếm đọat, tự đề cao và tự nâng mình lên. Chúng ta có thể tự hỏi: Vậy không có gì thuộc về chúng ta sao? Phải chăng nhà cửa, xe cộ, máy vi tính, áo quần và mọi thứ khác mà tôi có không thuộc về tôi sao? Phải, những thứ đó thuộc về tôi và cũng không thuộc về tôi. Nếu tôi mua những thứ đó một cách hợp pháp, thì đương nhiên chúng thuộc về tôi. Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ chúng ta tương quan với chúng như thế nào. Chúng ta sử dụng những thứ đó để đáp ứng nhu cầu của mình? Hay chúng ta chiếm hữu những thứ đó mà không muốn chia sẻ với người khác? Quyền sở hữu có thể hợp pháp, nhưng óc chiếm hữu lại là một giá trị, một thái độ.

Có một câu chuyện kể về một ông lão sống trên một hòn đảo tuyệt đẹp ở Hy Lạp. Khi sắp qua đời, ông chộp lấy một nắm đất nơi mảnh đất quê hương và giữ chặt trong tay. Khi ông chết và đến trình diện trước mặt Thiên Chúa, Người bảo ông phải buông bỏ nắm đất trong tay rồi mới có thể vào thiên đàng. Ông không chịu buông bỏ. Thế là cửa thiên đàng đóng lại. Chẳng bao lâu thì vợ ông cũng chết và được vào thiên đàng. Rồi con cái và họ hàng thân thích cũng chết và đi vào thiên đàng. Mỗi khi có một người thân trong gia đình đi vào thiên đàng, Thiên Chúa đều mời gọi ông hãy buông bỏ để có thể sum họp với những người thân yêu trong vinh quang. Thế nhưng, ông đều từ chối buông bỏ. Sau nhiều thế hệ, khi những người sinh sau đẻ muộn qua đời và đi vào thiên đàng, Thiên Chúa lại mời gọi ông buông bỏ. Cuối cùng thì ông chịu nhượng bộ và mở bàn tay. Ông choáng váng, vì trong tay ông chẳng có gì. Nắm đất mà ông giữ chặt trong tay không có ở đấy; thực ra thì mảnh đất ấy không phải là của ông, nhưng là quà tặng của Thiên Chúa.[16]

 Câu chuyện trên đây là một minh họa rõ ràng cho quan niệm của Phanxicô và Clara về nghèo khó: Chúng ta không có gì ngoại trừ nết xấu và tội lỗi. Chỉ khi nào chúng ta sống như những người nghèo, bấy giờ chúng ta mới có thể nhìn nhận những của cải đời này không thuộc về chúng ta, và vì thế mà chúng ta không chiếm hữu chúng. Trái lại, chúng ta nhìn nhận chúng là quà tặng của Thiên Chúa. Chúng ta thường quan tâm đến mình quá mức, đến nỗi chúng ta không thấy sự tốt lành của Thiên Chúa là trung tâm cuộc sống chúng ta và là trung tâm thế giới. Chúng ta gọi đó là thứ tội quan tâm đến mình quá mức.

Theo thánh Bônaventura, tội lỗi là quay lưng với Thiên Chúa và quay về với mình, khiến chúng ta phải gập mình xuống, trí tuệ trở nên mù tối và luống cuống giữa vô số vấn nạn. Chúng ta đi lang thang khắp nơi trên thế giới để tìm kiếm sự tốt lành (hay tình yêu), bởi vì chúng ta không có khả năng nhận ra sự tốt lành ở trong nội tâm mình. Khi trí năng chúng ta mù quáng và ước muốn lệch lạc, chúng ta bắt đầu chiếm đoạt những gì thật sự không thuộc về chúng ta. Thay vì trở nên người nghèo và hoàn toàn lệ thuộc Thiên Chúa, chúng ta lại biến mình thành những ông thần tí hon và đặt mình làm trung tâm vũ trụ. Chúng ta sử dụng mọi sự để đạt tới mục đích của mình, và chúng ta lấy của người khác những gì không thuộc về chúng ta. Khi chúng ta tước đoạt lợi ích chung của thế giới, tức là quà tặng mà Thiên Chúa ban cho tạo thành, chúng ta tạo nên một hệ thống nghèo đói mới. Chúng ta đi từ sự nghèo khó đích thật trong việc lệ thuộc hoàn toàn, đến một sự nghèo khó giả tạo của tham lam. Chúng ta nghĩ là mình chưa đầy đủ và vì thế, chúng ta tìm cách chiếm hữu sự vật nhiều hơn nữa, bất chấp sự thiệt hại của người khác và tạo thành. Từ chối sự nghèo khó của mình là tội bất công. Khi chúng ta ham muốn tích trữ và gắn bó với mọi thứ mà chúng ta sở hữu, chúng ta tự tách rời với người khác và thế giới tự nhiên, đồng thời chúng ta bắt đầu lên mặt với người khác qua việc thống trị và sử dụng quyền lực. Chúng ta đánh mất lòng đạo đức hay mối tương quan bằng hữu với người khác. Không chỉ có sự tốt lành của thế giới bị tước đoạt, mà các mối tương quan cũng đổ vỡ, bởi vì chúng ta đã không nhìn nhận sự lệ thuộc hỗ tương giữa người với người, và vì thế mà chúng ta cũng không thừa nhận mình lệ thuộc Thiên Chúa.

Thánh Bônaventura nói rằng tội đích thật của con người là tội chống lại Con Thiên Chúa. Khi con người khao khát quyền lực, con người phạm tội chống lại Đấng là hình ảnh tuyệt hảo của Thiên Chúa và bình đẳng với Thiên Chúa. Khi Con Thiên Chúa chấp nhận sự nghèo khó trong thân phận loài người, Người muốn cho thấy rằng bình đẳng với Thiên Chúa không phải là một địa vị mà Người phải giữ khư khư cho mình. Trên thánh giá, chính Thiên Chúa đã trở nên nghèo. Thánh Bônaventura chỉ ra rằng sự nghèo khó của thánh giá là mầu nhiệm nghèo khó, bởi vì Thiên Chúa trên thánh giá đã không “sở hữu,” nhưng đã “truyền tải” trọn vẹn mầu nhiệm tình yêu của Người, bằng cách mở lòng và đón nhận con người một cách triệt để. Nơi Đức Kitô chịu đóng đinh, sức mạnh được biểu lộ qua sự yếu đuối, và Thiên Chúa toàn năng trở nên một người nghèo. Sự nghèo khó đã được bày tỏ hiển nhiên qua sự nghiệp của Chúa Giêsu trong lịch sử, và qua hình dáng trần trụi của Người trên thánh giá; và hình ảnh đó mời gọi chúng ta bước theo Người bằng cách tuyệt đối tin tưởng một mình Thiên Chúa mà thôi. Mầu nhiệm nghèo khó tái tạo con người bằng một cuộc tạo dựng mới, nơi đó con người có thể đứng trước mặt Thiên Chúa mà không đòi hỏi điều gì. Nghèo khó đưa người ta trở về tình trạng vô tội nguyên tuyền, bởi vì nghèo khó là chu toàn luật mới, mà luật mới này chỉ hứa ban tình yêu chứ không hứa ban của cải trần thế.[17]

Chúng ta có thể nghĩ rằng sở dĩ thánh Phanxicô đã hiểu sự nghèo khó một cách thâm thúy như vậy, ấy là vì người đã từ bỏ của cải vật chất. Nghĩ như thế là không hoàn toàn đúng. Người đâu có truyền dạy chúng ta phải sống sine rebus huius mundi (không có của cải trần thế) hay sống trong cảnh túng bấn. Điều người thường truyền dạy là phải sống sine proprio, nghĩa là không có của riêng. Đối với Phanxicô, vấn đề chính của đức nghèo là: Đâu là điều mà tôi có thể xem là của mình thật sự? Mặc dầu người xem sự nghèo khó vật chất là điều quan trọng, nhưng đó không phải là mục tiêu. Đúng hơn, sự nghèo khó vật chất là dấu chỉ bên ngoài của một sự nghèo khó nội tâm sâu xa hơn. Chúng ta có thể nói sự nghèo khó vật chất có tính bí tích. Nó chỉ ra tinh thần nghèo khó nội tâm mà Chúa Giêsu tuyên bố trong Tám Mối Phúc Thật: “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3). Như vậy, sự nghèo khó vật chất là bước đầu (và cần thiết) giúp chúng ta đạt tới sự nghèo khó đích thật, nhờ đó mà chúng ta nhìn nhận mọi sự đều là quà tặng của Thiên Chúa, kể cả đời sống chúng ta. Nếu không có sự nghèo khó vật chất, chúng ta khó nuôi dưỡng sự nghèo khó đích thật. Tuy nhiên, nếu thiếu sự nghèo khó đích thật, sự nghèo khó vật chất sẽ trở nên vô nghĩa. Để đạt được ý nghĩa trọn vẹn, sự nghèo khó phải có tính chất bí tích, biểu thị lòng khao khát khôn nguôi muốn thể hiện tinh thần vô sản một cách sâu xa hơn.

Thánh Phanxicô là một người biết quan sát thân phận con người một cách sâu sắc, và quan niệm của người về sự nghèo khó như cốt lõi của nhân tính bắt nguồn từ bài học cơ bản của đời sống – sống với tha nhân. Mặc dầu thánh nhân ít khi nói về sự nghèo khó trong tác phẩm của mình (điều ngạc nhiên là người ta đã xem sự nghèo khó như nét đặc trưng trong đời sống của người), người đã nêu bật ba phạm vi mà chúng ta phải đặt sự nghèo khó trong bối cảnh sống hàng ngày, khi chúng ta tìm cách tương giao đúng với Thiên Chúa. Ba phạm vi đó là: Một là con người nội tâm, hai là tương quan với tha nhân, và ba là tương quan với Thiên Chúa.[18] Nhìn vào con người nội tâm, thánh Phanxicô nhận thấy con người thường bám chặt vào những quà tặng mà Thiên Chúa ban, chẳng hạn như tài năng, sự khôn ngoan, kiến thức, khả năng ngôn ngữ, nhan sắc và của cải. Trong Huấn ngôn 7, người viết: “Những người bị chữ nghĩa giết chết là những kẻ chỉ muốn học biết chữ nghĩa để được xem là khôn ngoan hơn người khác.” Quả không thiếu những kẻ muốn “phô trương” kiến thức, thích tranh cãi, thích đưa ra ý kiến cuối cùng hay ý kiến thông minh nhất. Người ta có khuynh hướng bám víu kiến thức như một thứ sở hữu làm cho mình trổi bật hơn người khác và ở trên người khác. Theo thánh Phanxicô thì những người như thế không có tinh thần nghèo khó. Cũng vậy, những ai quan tâm về mình quá mức, về phương diện sức khỏe, gia đình, công việc, danh dự và tiếng tăm, những kẻ ấy cũng không có tinh thần nghèo khó. Có khi nào bạn gặp một người chỉ nói về công việc của mình, gia đình của mình hay sức khỏe của mình suốt buổi nói chuyện không? Khi nói chuyện mà bạn quan tâm đến mình quá mức, thì dù bạn có xem mình là sâu đất hay nòng nọc, bạn đâu có lắng nghe. Làm như thế thì không phải là người nghèo.

Tuy nhiên, chúng ta bám víu sự vật không chỉ trong tương quan với mình mà thôi. Thánh Phanxicô chỉ cho thấy rằng chúng ta chúng ta có khuynh hướng bám víu những thái độ và hành vi khi tương quan với tha nhân. Tôi biết có những người hết sức xúc động khi nhớ lại những tác hại nhỏ nhặt mà người khác gây ra cho mình trong quá khứ, cho dù kẻ gây ra những cảm xúc đau đớn ấy đã chết lâu rồi. Người ta có thể giữ chặt những bóng ma trong quá khứ và không chịu sống trong hiện tại. Họ không phải là người nghèo và không thể vui hưởng sự hiện diện của tình yêu Thiên Chúa. Thánh Phanxicô xem sự tức giận, hay sự nao núng vì tội lỗi của người khác là mặt nạ che đậy lòng ham muốn chiếm hữu. Người bảo chúng ta hãy quan tâm đến người có tội hơn là tội lỗi của người ấy. Nếu không, chúng ta sẽ bám víu vào sự tức giận và cảm thấy khó chịu, bởi vì chúng ta tự cho mình là người công chính và có quyền xét đoán kẻ có tội.[19] Sự tức giận có thể làm cho đời sống cầu nguyện tiêu tan và cản trở chúng ta mở lòng ra với Thiên Chúa. Trong Huấn ngôn 14, thánh Phanxicô đã viết:

“Có lắm người chuyên cần đọc kinh cầu nguyện và ăn chay phạt xác, nhưng khi có ai nói lời gì đó có vẻ xúc phạm đến họ, hay lấy mất vật gì của họ, thì họ liền nổi giận và mất hết bình tĩnh. Những người như thế không có tinh thần nghèo khó.”[20]

Những lời ấy làm cho chúng ta nhớ lại lời thánh Phaolô khuyên dạy tín hữu Côrintô: “Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (1Cr 13,3). Cũng như thánh Phaolô, thánh Phanxicô nhắc chúng ta nhớ rằng, nếu không có tình yêu thì sự nghèo khó vật chất chẳng có giá trị, thậm chí có thể gây nên tội nữa. Chúng ta được mời gọi “buông bỏ và phó thác cho Thiên Chúa” – buông bỏ mọi thứ mà chúng ta bám víu và đặt Thiên Chúa ở trung tâm cuộc sống chúng ta; không chiếm hữu sự gì (hay người nào) cho mình, mà chỉ chiếm hữu một mình Thiên Chúa mà thôi, như kiểu nói của Clara.

Ý muốn hẳn nhiên là nơi đầu tiên mà con người bộc lộ ước muốn chiếm hữu. Đó là trung tâm quan trọng nhất, bởi vì nơi đó chứa đựng những điều cốt lõi mà chúng ta gắn bó. Ý muốn con người là nguồn gốc của sự chọn lựa tự do và cũng là nơi con người lấy quyết định. Chúng ta bám vào ý muốn của mình, khi chúng ta gặp thử thách hay bị đe dọa trong cuộc sống. Khi chúng ta gắn bó với ý muốn của mình, chúng ta thích thương lượng ngay cả với Thiên Chúa. Chúng ta thường nói như thế này: “Tôi sẽ đi nhà thờ, nếu Thiên Chúa cho tôi giàu có.” Theo quan điểm của thánh Phanxicô, ý muốn là nơi con người thể hiện sự tự do, và vì thế mà ý muốn là gốc rễ của tội lỗi, bởi chính nơi đây mà chúng ta lấy quyết định là sẽ chiếm giữ sự vật cho riêng mình hay chia sẻ với người khác.

Thánh Phanxicô quan niệm rằng ý muốn ích kỷ chỉ có thể được biến đổi bằng cách quan tâm đến tha nhân. Đức tuân phục có thể là một phương tiện để biến đổi, bởi vì đức tuân phục đòi hỏi người ta phải lắng nghe người khác và buông bỏ ý riêng của mình vì yêu thương nhau. Để thực hành đức tuân phục, thì không nhất thiết chỉ có vâng lời bề trên, sĩ quan chỉ huy hay cha mẹ khắt khe. Đúng hơn, chúng ta có thể thực hành đức tuân phục ngay cả với bạn bè và người yêu, trong gia đình và cộng đoàn. Đức tuân phục không phải là một công cụ của phẩm trật, hay quyền điều khiển từ trên xuống dưới, mà là tương quan lệ thuộc lẫn nhau, trong đó thế lực tình yêu thì mạnh mẽ hơn thế lực của ý riêng. Bắt rễ trong sức mạnh của tình yêu, đức tuân phục trở thành một cách diễn tả lòng quý mến đối với đức nghèo khó, bằng cách buông bỏ ý riêng mà chúng ta coi là sở hữu của mình, và phó mình trong tay kẻ khác. Tuân phục không đòi hỏi chúng ta phải thực hiện ý muốn của kẻ khác, mà là hiến mình cho kẻ khác. Do vậy, tuân phục có nghĩa là chân thành lắng nghe tha nhân, trân trọng và mong muốn điều tốt nhất cho họ. Theo thánh Phanxicô, Chúa Giêsu là mẫu gương của đức tuân phục đích thật, bởi vì Người không muốn điều gì khác hơn là thi hành thánh ý Chúa Cha, tức là yêu thương cho đến chết. Do đó, đức tuân phục có thể chữa lành sự bướng bỉnh của chúng ta và hướng dẫn chúng ta thi hành thánh ý Thiên Chúa, mà thánh ý của Người là yêu thương chúng ta, và tình yêu của Người được thể hiện ngay trong mối tương quan giữa chúng ta với nhau. Nếu thiếu đức tuân phục, chúng ta sẽ trở thành những con người cô độc và tư hữu, bị giam giữ và khép kín, đoạn giao với huyết mạch tình yêu của Thiên Chúa nơi những con người mà chúng ta gặp gỡ trong cuộc sống mỗi ngày – người thân cận, anh chị em, vợ/chồng, con cái – và cắt đứt liên lạc với sự tốt lành đơn sơ và thông thường của tạo thành.

Là hoa trái của đức nghèo, đức tuân phục được thể hiện qua những mối tương quan ngay chính trong cộng đoàn. Thánh Phanxicô xem đức nghèo là nền tảng của đời sống cộng đoàn, bởi vì nghèo khó là nền tảng của sự lệ thuộc hỗ tương. Khi chúng ta túng thiếu, chúng ta lệ thuộc người khác. Phanxicô xem Đức Kitô là gương mẫu và trung tâm của cộng đoàn, chỉ vì Người đã sống nghèo và tồn tại nhờ của bố thí, vì thế mà sống nghèo là lệ thuộc người khác (và lệ thuộc Thiên Chúa). Tóm lại, quyền tư hữu có thể làm phương hại đời sống cộng đoàn, vì khi chúng ta có của riêng cùng lòng ham muốn sở hữu, chúng ta không cần đến người khác nữa. Xét như là hành động sở hữu, quyền tư hữu có thể tạo nên óc tự mãn, độc lập và chia rẽ. Vì óc chiếm hữu mà chúng ta có thể đặt mình trên người khác, hay chống lại kẻ khác. Thánh Phanxicô chỉ ra rằng người ta sống chung với nhau không phải vì có một quan điểm chung hay vì công việc chung, mà vì Thánh Thần tình yêu. Là sự lệ thuộc triệt để, đức nghèo là ngôn ngữ tình yêu, là quan tâm lẫn nhau. Ngôn ngữ ấy muốn nói rằng: “Tôi cần bạn, tôi cần tài năng và sự tốt lành của bạn, ý kiến và sự trợ giúp của bạn. Căn tính và bản chất của bạn là điều thiết yếu đối với tôi, bởi vì không có bạn thì tôi không thể là tôi thật sự.” Đức nghèo là tác nhân của sự bình đẳng, bởi vì đức nghèo làm cho mọi người lệ thuộc và quảng đại với nhau. Đó là một hình thức tuân phục, bởi vì nó liên quan đến việc buông bỏ ý riêng vì yêu thương nhau. Đức nghèo phát biểu bằng ngôn ngữ tình yêu hỗ tương, bởi vì trong thực chất thì đức nghèo muốn nói rằng: “Tôi cần bạn giúp tôi hoàn thành cuộc sống của mình.” Nếu chúng ta không tự nguyện buông bỏ những điều mình bám víu khi tương quan với nhau, chúng ta không có đức nghèo và cũng không thể quý trọng những quà tặng của tình yêu mà Thiên Chúa đã gieo trồng nơi mỗi con người độc đáo, và trong mọi khía cạnh của tạo thành. Chỉ khi nào chúng ta sống mà không có của riêng và không bám víu sự vật, bấy giờ chúng ta mới được tự do và cởi mở mà nhận lãnh tình yêu Thiên Chúa qua sự tốt lành nhỏ bé của tạo thành.

Đức nghèo nhắc chúng ta nhớ lại sự thật thâm sâu của đời sống con người: Chúng ta là thụ tạo do Thiên Chúa dựng nên và lệ thuộc Thiên Chúa một cách tuyệt đối. Chính đức khiêm hạ, chị em của đức nghèo, thúc đẩy chúng ta nhìn nhận mọi sự chúng ta có đều là quà tặng. Khiêm hạ là chấp nhận con người đích thực của mình, những mặt mạnh và yếu kém, và lấy tình yêu mà đáp lại quà tặng sự sống. Nhờ đức khiêm hạ mà người ta có thể mở lòng đón nhận một tinh thần mới và dâng trả tạo thành cho Chúa Cha. Thomas Merton nói rằng, nếu chúng ta thật lòng khiêm hạ, chúng ta sẽ không lo lắng về mình, mà chỉ lo sao được ở với Thiên Chúa.[21] Một quan niệm như thế dường như chỉ có thể áp dụng cho các thánh. Tuy vậy, khi chúng ta được giải thoát khỏi những quyến luyến đối với sự vật mà chúng ta bám víu, bấy giờ chúng ta có thể theo đuổi những mục tiêu thiêng liêng, sống thật sự trong tình yêu và tận hiến trong đời sống thờ phượng. Nói như thế không có nghĩa là chúng ta đừng chú ý đến trái đất, nhưng hãy hướng mắt về một nơi gọi là thiên đàng mà chúng ta có thể tưởng tượng. Thật ra, tôn thờ Thiên Chúa là nhìn ngắm sự tốt lành của mọi loài thụ tạo có mặt trên quả đất này, một hành tinh tuyệt diệu đang xoay vần trong giải ngân hà. Tôn thờ Thiên Chúa là nhận thức rằng mọi thụ tạo đều do Thiên Chúa dựng nên, đồng thời chúng phản ánh quyền năng, sự khôn ngoan và sự tốt lành của Thiên Chúa, và được dựng nên để chia sẻ sự sống trong Thiên Chúa. Nhờ đức nghèo, chúng ta có thể chiêm ngắm sự tốt lành của Thiên Chúa nơi tạo thành, bởi vì đức nghèo cho chúng ta sự tự do để nhìn thấy sự vật như chúng là: Đó là những quà tặng độc đáo, không thể nhân bản và đầy yêu thương của Thiên Chúa. Chỉ những ai cảm nghiệm và nhìn thấy thế giới như một biểu hiện của tình yêu Thiên Chúa, kẻ ấy mới có thể từ bỏ lòng ham muốn chiếm hữu. Trong tương quan giữa người với người, đức nghèo cho phép chúng ta mở lòng ra mà chấp nhận lẫn nhau, đón nhận và chia sẻ với nhau. Đức nghèo là nền tảng của ơn gọi làm người, bởi vì đức nghèo liên quan đến kenosis hay tự hủy. Nếu việc chia sẻ tình yêu là đặc điểm của ba ngôi Thiên Chúa, sự nghèo khó cũng là nền tảng của một cộng đoàn nhân loại đích thực. Chỉ việc quan tâm đến nhau mới thật sự làm cho đời sống có tính nhân đạo hơn. Barbara Fiand khẳng định rằng, sở dĩ người nghèo (về mặt kinh tế) được chúc phúc, ấy là vì họ biểu thị cho sự liên đới, biểu lộ sự thiếu thốn của mình và hiểu rõ sự thiếu thốn của mình. Chính sự thiếu thốn này làm cho họ cởi mở, có tinh thần tiếp thu và có lòng biết ơn.[22] Những ai đủ cởi mở và trống rỗng, cần tiếp nhận và muốn trao ban những gì mình đã đón nhận với lòng biết ơn, kẻ ấy mới là những người nghèo và có khả năng chỉ dạy chúng ta biết con đường nghèo khó là con đường dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa.

Thánh nữ Clara không nghiên cứu nhiều về sự nghèo khó của con người, nhưng thánh nữ hiểu rõ đức nghèo tận đáy lòng. Thánh nữ đã tranh đấu cho được “đặc ân sống nghèo,” bởi vì thánh nữ biết rằng nếu người không lệ thuộc người khác, thì rốt cuộc người cũng không lệ thuộc Thiên Chúa. Giống như Phanxicô, thánh nữ đặt niềm tin kiên vững vào một Thiên Chúa mặc lấy bản tính nhân loại mỏng dòn – Nhập thể. Giả như thánh nữ muốn đi tìm một Thiên Chúa xinh xắn, thuần khiết, tươi tắn và thơm tho trên thiên đàng, có lẽ thánh nữ đã chọn lựa một cuộc sống độc lập hơn. Thế nhưng, thánh nữ tin rằng Thiên Chúa đã đến giữa chúng ta và trong thân phận con người nghèo nàn, Người dạy chúng ta biết cách sống kết hiệp với Thiên Chúa và tha nhân trong tình yêu. Thánh nữ nhận thức rằng chỉ những ai có tinh thần nghèo khó và khiêm hạ, kẻ ấy mới có thể thông dự vào tình yêu được biểu lộ qua sự nghèo khó và khiêm hạ của Thiên Chúa. Thánh nữ Clara đã đi lên cùng Thiên Chúa qua con đường nghèo khó thẳm sâu, con đường ấy bắt buộc chúng ta phải thừa nhận rằng, mối tương quan thật sự với Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta phải lấy lòng khiêm hạ mà chấp nhận nhân tính đích thực của mình. Chỉ khi nào chúng ta biết được sự thật của mình (chúng ta là ai và không phải là ai), tức là người nghèo, bấy giờ chúng ta mới có thể đặt mình trong một cuộc sống dễ tổn thương và để cho Thiên Chúa đi vào cuộc sống chúng ta. Chỉ như thế chúng ta mới biết được ý nghĩa của việc con người được bao phủ trong một thế giới tốt lành.

Suy tư

1.Bạn có sống như một người nghèo không? Nếu không, thì đâu là nguyên nhân cản trở bạn quý mến đức nghèo?

2.Theo bạn hiểu thì sự nghèo khó vật chất và nghèo khó tinh thần liên hệ với nhau như thế nào?

3.Đức nghèo có giúp bạn lệ thuộc người khác hơn không? Bạn có thấy mình cần đến người khác không? Hay bạn thích tính độc lập và cá nhân chủ nghĩa hơn?

4.Đâu là những yếu tố giúp bạn cởi mở với Thiên Chúa và tha nhân? Đâu là những yếu tố cản trở bạn cởi mở với Thiên Chúa và tha nhân?



[1] Thư thứ nhất gởi Agnes, câu 6.

[2] Ramon Llull, Sách của người yêu và người được yêu, 97. Mark D. Johnston dg. (Warminster: Aris and Philips, 1995), tr. 39.

[3] Thánh Phanxicô, Luật không sắc chỉ, 2-5.

[4] Một trích dẫn từ thư Corintô mà thánh Bônaventura rất yêu thích và thường quy chiếu trong tác phẩm Chú giải Tin Mừng Luca. Xem từ chương 1-8.

[5] Kenneth và Michael Himes, “Bí tích sáng tạo: hướng tới một thần học môi sinh,” Commnweal (26-1-1990), tr. 45.

[6] Thomas Merton, Hạt giống chiêm niệm mới (New York: New Directions, 1961), tr. 16-17.

[7] Bônaventura, Perfectione evangelium, được trích dẫn bởi Wayne Hellmann, “Nghèo khó: con đường Phan Sinh đi lên cùng Thiên Chúa,” Theology Digest 22 (1974), tr. 39.

[8] Himes, Sacrament of creation, tr. 45.

[9] Nt.

[10] Nt.

[11] Augustinô, The Confessions, John L Ryan dg. (New York: Image 1960), tr. 234.

[12] Bonaventura, Đại truyện về thánh Phanxicô, 8, 6.

[13] Được trích dẫn bởi Kenneth và Michael Himes, “Creation and environmental ethic,” trong Fullness of faith: the public significance of theology (Mahwah: Paulist, 1993), tr. 119.

[14] Sđd., tr. 119.

[15] Himes, “The sacrament of creation,” tr. 45.

[16] Câu chuyện này có một chút khác biệt như Ronald Rolheiser ghi nhận trong tác phẩm The shattered lantern của mình (New York: Crossroad, 2001), tr. 187-188. Mặc dầu ông nghe được câu chuyện này từ John Shea, ông cho rằng câu chuyện ấy bắt nguồn từ cuộc đời huyền thọai của Nikos Kazantakis đã được kể lại trong tác phẩm Report to Greco (New York: Simon và Schuster, 1960). Xem The shattered lantern, tr. 205.

[17] Hellman, tr. 343.

[18] Ý chính của đoạn văn này là của Regis Armstrong, Tài liệu nguồn Phanxicô, tr. 152-165.

[19] Phanxicô, Huấn ngôn 7.

[20] Xem thêm Luật không sắc chỉ 11; Huấn ngôn 8; 14.

[21] Thomas Merton, Hạt giống chiêm niệm mới, tr. 189.

[22] Barbara Fiand, Living the vision: Religious vows in an age of change (New York: Crossroad, 1990), tr. 59. 

 

holysee web  Vatican Vietcatholic HDGM VN LOP NHAC
ORDOR FRA logo web fmm Daminh Dongten DCCT