Không thể biết thánh Phanxicô hoặc nói về thánh nhân được, nếu không đề cập tới thánh Clara. Mối ràng buộc đó giữa các ngài với nhau có khía cạnh tích cực, nhưng cũng có những hạn chế của nó. Clara rất có thể chỉ được xem như là một phản ảnh của người anh thiêng liêng của chị, một chi tiết trang trí cho câu chuyện của Phanxicô và cho truyền thống linh đạo của ngài.
Trong khi không chối bỏ cũng không hạ thấp những mối dây liên kết giữa hai ngài, Clara là một nhân cách có chiều sâu riêng và nhân cách đó hiện hữu theo quyền riêng của nó. Chị có sáng kiến và can đảm, tự do và nét độc đáo thiêng liêng.
Được sinh ra vào thời đại của những ngôi đại thánh đường và các cuộc thập tự chinh, khi mà, ngược lại với niềm tin của đại chúng, các phụ nữ đã nắm giữ một vai trò quan trọng và có thể đòi được tôn trọng, chị lại lớn lên trong một môi trường hầu như chỉ toàn có nữ tính, và cha của chị dường như vắng mặt khỏi môi trường này. Mẹ chị là một phụ nữ quý tộc, có thể chấp nhận những chuyến hành trình hoặc những cuộc hành hương tốn tiền và khó khăn – thí dụ như đi đến Đất Thánh. Là một thành viên thuộc giới quý tộc, Clara đã nhận được một nền giáo dục cao hơn nền giáo dục của Phanxicô. Những yếu tố đó, cũng như địa vị xã hội và chính trị vượt trội hơn tại Átxidi, đã làm cho chị ngay từ tuổi thơ đã là một người lưu đày sống đời nay đây mai đó.
Suốt đời, Clara vẫn giữ được sự tự do, ngay cả khi chịu ảnh hưởng bởi Phanxicô, chị đã chọn con đường hoàn thiện phúc âm và cùng với các chị em mình, chị đã tạo lập được một hình thức sống tu trì. Chị tự do trong tương quan với gia đình chị, tự do đối với những kế hoạch người ta lập ra cho chị, với những áp lực và bạo lực của người đứng đầu bộ tộc, là ông Monaldo, chú của chị.
Chị cũng tự do trong liên hệ với môi trường xã hội của chị. Clara thuộc về giới quý tộc, sống phong lưu, nếu không phải là giàu có, và thẳng thắn đối mặt với tầng lớp mới các thương gia, giới trưởng giả, tuy nhiên chị đã không do dự tạo một cộng đồng, trong đó giới quý tộc sống sát cánh với những người nghèo, và chọn lựa sống sự nghèo khó triệt để. Ta có thể thấy sự tự do này ở một mức độ cao hơn trong thái độ của chị đối với những cơ cấu đời sống tôn giáo đã có sẵn vào thời đó, một đời sống phù hợp với cái khung xã hội và kinh tế của hệ thống phong kiến.
Khi đó, các nữ tu sống nhờ vào những lợi tức thu được từ bất động sản là các vùng đất rộng lớn, và lệ thuộc vào một đan viện mẫu là một thành viên thuộc giới quý tộc, là người thường đứng bên ngoài đời sống cộng đồng của các chị em. Như thể không ý thức, Clara đã đảo ngược lại trật tự này. Cộng đoàn của chị không sở hữu gì hết và sống nhờ vào thu nhập do làm các công việc nhỏ bé, cũng như nhờ nhận được hoặc xin được các quà tặng.
Chị vẫn giữ chức đan viện mẫu, không phải là không dè dặt, vì trong nhiều năm, nền tảng pháp lý của phong trào của chị là luật Thánh Biển-đức, nhưng chị coi vai trò này giống như một việc phục vụ và luôn luôn tự xem chị như người tôi tớ của các chị em.
Là con cái của thời đại chị, chị đưa một sự dân chủ nào đó vào trong việc tổ chức cộng đoàn của chị, mỗi chị em đều có tiếng nói và lá phiếu. Chị đã giữ lại bất cứ điều gì chị thấy là hữu ích từ những luật lệ đa dạng được áp đặt trên chị, trước khi thế thức sống của chị được công nhận (gồm có Luật của Thánh Biển-đức, các Quy chế của ĐHY Hugolino và của Đức Innocent VI) – nhưng luôn luôn với một cảm thức về sự uyển chuyển và cởi mở.
Chị đã bao gộp trong Bản luật của chị một khoản luật chặt chẽ về việc tách biệt khỏi ngoại giới (nội cấm) – đây là khuynh hướng đương thời – nhưng dù vậy, chị vẫn giữ được sự tự do của chị; thật vậy các chị em sống nếp sống ẩn dật mà chị em vẫn từng khao khát và chọn lựa, nhưng chị em vẫn có thể đi ra ngoài vì bất kỳ mục đích gì hợp lý và hữu ích.
Chị cũng tự do trong tương quan với Phanxicô. Dẫu Bản luật của chị lặp lại rất sát các lời lẽ trong Bản luật của Phanxicô, Clara vẫn có thể thoát ra khỏi bản luật đó, thậm chí trong những điểm cốt yếu, chẳng hạn như việc sử dụng tiền bạc hoặc nghèo khó trong cách ăn mặc. Cảm thức nữ tính sắc bén của chị đã ngăn ngừa được bất cứ sự cứng ngắc nào. Cả linh đạo của chị cũng chẳng phải đơn thuần là một sự lặp lại tầm nhìn của Phanxicô. Những chủ đề và những điểm nhấn mạnh khác xuất hiện, một lối nhìn các sự vật sáng suốt hơn, một bầu khí nhẹ nhàng và vui tươi.
Sự can đảm và kiên cường lạ thường của Clara còn phải được nhấn mạnh thêm nữa. Để ngay trong đêm khuya trốn thoát khỏi nhà gia đình chị và gia nhập nhóm những người đang chờ chị, chị đã phải tìm cách đi qua một cánh cửa đã bị cài then chắc chắn. Chị đã có thể chịu đựng những áp lực và bạo lực thể lý mà gia đình chị đã sử dụng, và cương quyết dấn thân vào một cuộc sống đầy liều lĩnh và gian khó.
Trên hết mọi sự, để trung thành với đức nghèo khó tuyệt đối (không sở hữu gì) là thể thức sống của chị, chị đã thành công để đạt được và bảo toàn được khỏi mọi trở ngại, “đặc ân” lạ thường của chị: “không bị ép buộc chấp nhận của cải”. Cũng sự kiên cường đó đã làm cho chị có thể chờ đợi tới bốn mươi năm cho đến khi Bản luật của chị được chuẩn nhận, sự chuẩn nhận mà cuối cùng chị đã đạt được khi chị nằm trên giường chờ chết, bất kể theo luật của Công đồng Latêranô IV là cấm soạn thêm những bản luật mới. Suốt những năm tháng đó, chị đã không nổi loạn cũng không tỏ ra chua cay, nhưng bền bĩ và kiên nhẫn đợi chờ.
Khi so sánh với các phụ nữ khác thời Trung cổ, Clara có một sự độc đáo nào đó. Theo lịch sử, chị là người phụ nữ đầu tiên trong Giáo hội đã viết ra một bản luật cho nữ giới; trong quá khứ, tất cả các bản luật đều được viết ra bởi những người nam. Công việc này cần phải có sáng kiến, lòng can đảm và sự ngoan cường, cũng như kinh nghiệm và cảm thức về sự tương xứng. Chị không để lại nhiều tác phẩm viết: một bản luật, một Di chúc khá dài, và 4 bức thư gởi cho một công nương, là chị Agnès thành Prague.
Tuy vậy, qua một ít tác phẩm đó, ta có thể nhận thấy kinh nghiệm sống phong phú nhân bản và tài điều khiển (Bản luật), một nhận thức rất chắc chắn về ơn gọi, một niềm say mê gắn bó với đức nghèo khó, với Phanxicô, với các anh em ngài (Di chúc), và qua những lá thư gởi cho Agnès, ta có thể nhận thấy một viễn ảnh thiêng liêng độc đáo.
Theo đường lối riêng của chị, Clara phổ biến và đào sâu điều được biết như một cuộc hôn nhân thần bí, trong đó sự kết hiệp với Thiên Chúa được trình bày xuyên qua và bằng những hình ảnh của tình yêu giữa người nam với người nữ. Linh đạo kết hợp mang tính hôn ước với Đức Kitô đó được phối hợp và được nâng đỡ nhờ một khoa thần bí về nghèo khó: sự hợp nhất trong tình yêu bao gồm việc đến gặp gỡ Người Yêu dấu trong sự nghèo khó, đau khổ và khiêm hạ của Người. Vừa diễn tả cuộc hành trình thiêng liêng của họ, các lá thư đó cất lên giọng hát trữ tình ca ngợi tình bạn vĩ đại giữa Agnès và Clara, những người chưa bao giờ gặp nhau, lại đã được kéo lại với nhau trong cùng một cuộc mạo hiểm mang tính nhân bản và thiêng liêng.
Do đó, Clara không đơn giản là một bản sao mang chất nữ tính của đoàn sủng mang chất nam tính của Phanxicô: chị đã không tạo ra “Học thuyết Phan sinh cho nữ giới” (Franciscanism in the feminine) như người ta đã viết về chị. Đúng hơn, phải nhìn thấy nơi chị như là người đã mang lại một đóng góp độc đáo và cần thiết, đó là cực đối xứng mang chất nữ tính trong đoàn sủng này.
Dẫu lâu nay bị Phanxicô che mờ, chị xứng đáng được nhìn nhận đúng với con người của chị. Cho dù chị viết ít và với một giọng văn ít giọng điệu thị kiến hơn các phụ nữ khác thời Trung cổ, chẳng hạn như Hildegard thành Bingen vào thế kỷ 12, Hadewijch, người đồng thời với chị, hoặc Gertrude hoặc Angela thành Foligno là những người đã xuất hiện ít lâu sau chị, vẫn đúng là phải kể tên chị vào số những khuôn mặt vĩ đại về linh đạo đó, vì ngoài những bản viết bộc lộ cho thấy chiều sâu tâm hồn của chị, chị còn phát động một sức mạnh năng động và đã để lại sau lưng chị một hậu thế vẫn còn sống động cho tới hôm nay.
Thaddée Matura OFM
(CIOFS Bulletin, 2004, N. 6 – vptd chuyển ngữ)
- 24.04.2011 Chương trình Năm thánh Clara tại Assisi
- 17.04.2011 Khai mạc Năm thánh tại đan viện Clara
- 17.03.2011 Mê Nước Trời
- 09.12.2010 Mùa chờ đợi mầu nhiệm tình yêu
- 15.09.2010 Mấy điều suy tư
- 06.07.2010 Báo tin lễ kính Clara ngày 11.08.2010
- 09.06.2010 5 phần “gia sản” quý giá của dòng Clara Việt Nam
- 02.03.2010 Ban điều hành mới Đan viện Clara Thủ Đức 25.02.2010
- 02.12.2009 Mối dây liên kết tình huynh đệ Phan Sinh
- 12.09.2009 Clara là ai?

