Tỉnh dòng Phanxicô Việt Nam

Những người mang quà tặng Phúc Âm

Saturday, May 19th

Last update06:51:19 AM GMT

Cảm thức thuộc về dòng Phan Sinh Tại Thế: một thách đố cấp bách phải đối mặt

d82Dẫn nhập

Huynh đệ đoàn Quốc gia đang phát triển ở Malaysia-Singapore, thuộc Dòng Phan Sinh Tại Thế, trước hết được thành lập tại Kuala Lumpur vào năm 1927, và trải qua một thời kỳ phát triển mau lẹ, sau đó đã chìm vào một giai đoạn trầm lặng và bóng tối; và giờ đây, trong thiên niên kỷ mới này, Huynh đệ đoàn đã có những dấu chỉ phục hồi và đổi mới, tuy chậm nhưng chắc. Huynh đệ đoàn của tôi trên đảo Penang là một trong những huynh đệ đoàn mạnh nhất trong thời gian còn là thành viên. Tuy nhiên, mới đây tôi đã nghe có tiếng thở dài là “kích cỡ huynh đệ đoàn của chúng ta đang co lại!”

Có lời nhận xét đó là vì số những người vắng mặt không có lý do đã tăng lên. Một số người thì quá bận bịu với các hoạt động khác tại các giáo xứ của họ. Một số khác, thì sau khi xung đột với những thành viên nào đó đã rời xa các cuộc họp mặt của huynh đệ đoàn. Tuy nhiên, mối bận tâm lớn hơn, nói chung là sự “thiếu sức sống và thiếu nhiệt tình” [1]. Nhiều câu hỏi đã đến trong tâm trí tôi. Tại sao giữa các thành viên lại có một cảm thức thờ ơ như vậy? Tại sao lại không có một nhiệt huyết cháy bừng đối với Dòng Phan Sinh Tại Thế? Người Phan Sinh Tại Thế có tha thiết với các cuộc họp của huynh đệ đoàn không? Đâu là những nguyên nhân làm cho một số người lại dành ưu tiên cho những hoạt động khác?

Trong những năm gần đây, một vài anh chị như Mariano Bigi, Ronald Pihokkar, Rosalvo Mota và Inmaculada Sainz đã viết bao quát về nhiều khía cạnh liên quan tới cảm thức thuộc về Dòng Phan Sinh Tại Thế. Từ vốn kinh nghiệm và sự hiểu biết dồi dào của các anh chị, họ đã làm giàu cho chúng ta và giúp chúng ta suy nghĩ một cách sâu sắc hơn về vị thế của chúng ta. Dù không có được nhiều kinh nghiệm và sự hiểu biết như họ, song tôi mạo muội chia sẻ những quan điểm của tôi, vì hy vọng trong tiến trình bày tỏ ra những suy nghĩ của mình, tôi sẽ có thể trả lời cho những câu hỏi đang gây cản trở cho tôi. Chia sẻ của tôi tập trung vào những chiều kích thuộc bản chất và căn tính của Dòng Phan Sinh Tại Thế, bao gồm một số yếu tố tâm lý mà qua đó, McMillan và Chavis đã đem lại nhiều giá trị cho cuộc nghiên cứu của họ về “ý thức cộng đồng” [2].

Bản chất các HĐĐ PSTT của chúng ta

Tôi muốn nhìn bản chất các Huynh đệ đoàn Phan Sinh Tại Thế từ 3 yếu tố. Đó là: Ơn gọi, Phong trào Sám hốiGiáo hội.

Trong tư cách một Ơn gọi

Nghi thức Tuyên khấn vĩnh viễn trong Dòng Phan Sinh Tại Thế cống hiến cho chúng ta một nhân tố nổi bật đưa người ta vào trong huynh đệ đoàn. Khi ứng viên được gọi lên để tuyên bố ý định của anh/chị muốn gia nhập vào Dòng Phan Sinh Tại Thế, thì anh / chị sẽ nói: “... Kinh nghiệm trong thời gian thụ huấn, đã làm cho tôi xác tín cách mạnh mẽ hơn, là Chúa gọi tôi sống Phúc âm, noi gương Cha Thánh Phanxicô Átxidi” [3] . Xác tín này biểu lộ cho thấy ý định trở nên thành viên trong Dòng Phan Sinh Tại Thế khác với ý định trở nên thành viên trong các sứ vụ hoặc trong các tổ chức khác của Giáo hội và xã hội. Thí dụ, tôi trở nên một thành viên trong ca đoàn nhà thờ, vì tôi có thể hát. Tôi gia nhập SVP, vì trong đó có nhiều người bạn của tôi. Tôi gia nhập vào một câu lạc bộ đặc biệt, vì tôi sẽ có thể sánh vai với những người giàu có và quyền thế. Tuy nhiên, việc gia nhập vào Dòng Phan Sinh Tại Thế thì hoàn toàn khác. Đó là đáp trả lại tiếng Thiên Chúa mời gọi. Dưới tấm thảm Dòng Phan Sinh Tại Thế là sợi chỉ đỏ lời Chúa kêu gọi. Do đó, Dòng Phan Sinh Tại Thế là một ơn gọi – mời gọi một lối sống đi lên tới Thiên Chúa – một lời mời gọi sống thánh.

Dẫu toàn thể dân Thiên Chúa đều được kêu gọi sống thánh, thì đây vẫn là một ơn gọi đặc biệt dành cho người giáo dân, trong đó chúng ta “nối gót Chúa Kitô theo chân Thánh Phanxicô Átxidi” [4]. Đây là một ơn gọi được Thánh Thần khơi động, trong đó “người ta hiến thân mình nhưng vẫn trọn vẹn ở trong bậc giáo dân” [5]. Hành trình đi lên tới Thiên Chúa không diễn ra trong sự biệt lập. Chúng ta được kêu gọi cùng nhau chia sẻ đời sống trong một huynh đệ đoàn. Huynh đệ đoàn này là lò thử thách, nơi chúng ta được thanh luyện và được thử nghiệm nhờ mối tương quan của chúng ta với người khác. Ý nghĩa đức ái hoàn hảo mà chúng ta hy vọng lan tỏa ra cho mọi người trên thế giới, phải được biểu lộ trong đời sống huynh đệ đoàn. Hậu quả, điều tối quan trọng là tiến trình huấn luyện khởi đầu phải được thực hiện một cách thích đáng thế nào, để một đàng, ứng viên và người thẩm định và đàng khác, hướng viên cùng với hội đồng địa phương và các thành viên trong huynh đệ đoàn, có thời gian và không gian để biện phân ơn gọi. “Trong giai đoạn huấn luyện khởi đầu này, huynh đệ đoàn và ứng viên với người thẩm định tiếp tục hiểu biết nhau một cách đầy đủ hơn. Các cơ hội đối thoại và chia sẻ vẫn tiếp tục có tầm quan trọng để bảo đảm rằng: ứng viên và người thẩm định cùng với huynh đệ đoàn tỏ ra tương hợp với nhau” [6]. McMillan và Chavis nhắc chúng ta nhớ rằng: việc trở nên thành viên bao gồm cảm nghĩ và niềm tin là chúng ta thích hợp với nhóm và quan trọng hơn, đó là việc chúng ta có một vị trí trong đó [7]. “Nếu việc biện phân ơn gọi không đầy đủ hoặc xảy ra lầm lẫn trong giai đoạn định hướng và thẩm định, thì nó phải được điều chỉnh lại cho đúng trước khi tiến hành Nghi thức Nhập gia” [8]. Việc tiếp tục sẽ vô ích và phí thời gian, khi chúng ta thấy một ứng viên nào đó không phù hợp với ơn gọi Dòng Phan Sinh Tại Thế.

Trong cuốn “Hãy đến mà Xem”, Bach và Baker đã cho thấy những người có vấn đề giữa con người với nhau rõ ràng là những ứng viên không thích hợp với Dòng Phan Sinh Tại Thế chúng ta [9]. Họ là những kẻ luôn thấy mình xung khắc với người khác, muốn kiểm soát người khác, đòi hỏi phải chấp nhận kiểu sống đạo đức hoặc công việc tông đồ của họ, không muốn đón nhận ý kiến của người khác, hoặc loại người nhìn thấy “việc tôi có thể làm được” nhưng lại không cống hiến. Chúng ta phải cẩn thận biện phân những ứng viên như thế. Chúng ta không nên nhận bất cứ ai chỉ vì lý do huynh đệ đoàn của chúng ta đang lão hóa hoặc số thành viên đang co rút lại. Một sự biện phân đúng đắn sẽ bảo đảm sự hài hòa và sự trưởng thành thiêng liêng cho tất cả mọi thành viên. Những ai “không thích hợp” có thể được chuyển hướng sang các thừa tác vụ hoặc các lối sống thích hợp hơn đối với họ, hoặc khuyến khích họ tìm kiếm sự trợ giúp thích hợp, để chữa trị các vết thương của họ và những vấn đề khác làm cho họ bế tắc trong tương quan với những người khác.

Khi các ứng viên biết họ thuộc về nơi nào, thì họ phải chứng tỏ cho thấy sự dấn thân và ý muốn dâng hiến. McMillan và Chavis gọi tên ý muốn dâng hiến này là “một sự đầu tư của cá nhân” [10]. Sự đầu tư này có thể bằng hình thức thời giờ, sức lực, tài năng hoặc tiền bạc. Khi một người đầu tư vào nhóm, thì tư cách hội viên sẽ càng có ý nghĩa và giá trị hơn. Bù lại, điều đó sẽ làm phát triển một cảm xúc liên kết hoặc nối kết. Tuy nhiên, sự đầu tư cá nhân này phải phát xuất từ sự chín chắn trong đức tin và từ sự tinh trong của tâm hồn. Nếu sự đầu tư bám chặt vào quá nhiều lợi ích của bản thân, y như thể tôi có thể có lợi nếu tôi đầu tư, giống như trong thế giới nghiệp đoàn, thì điều đó về lâu dài sẽ không mang lại kết quả.

Tôi muốn kể ra đây một thí dụ về một thành viên mà khi bắt đầu thừa tác vụ đã đòi hỏi chị ta phải hy sinh nhiều. Chị đã không phàn nàn thừa tác vụ đó đã chiếm hết thời gian của chị. Chị đã vui vẻ thực hiện công việc. Tuy nhiên, vì huynh đệ đoàn có một sự phát triển nào đó, mối tương quan của chị với một ít thành viên trở nên gay gắt, và chị ta cảm thấy mình không được đánh giá cao về những gì chị đang thực hiện. Không biết cảm nghĩ không được đánh giá cao đó thực hư ra sao, nhưng nó đã tạo ra một hiệu quả ngược trong huynh đệ đoàn. Chị đã bỏ thừa tác vụ và hoàn toàn rút lui ra khỏi huynh đệ đoàn. Những người khác có thiện cảm với chị cũng đã rời bỏ huynh đệ đoàn. Dù hội đồng huynh đệ đoàn đã làm việc nhắm hòa giải, bằng cách kêu gọi một cuộc đối thoại cởi mở giữa các bên có liên quan, tiến trình vẫn không đạt kết quả. Một nhận xét khác nữa mà tôi muốn đưa ra liên hệ tới việc biện phân ơn gọi, là phải chú ý tới những người bị đoàn sủng của Thánh Phanxicô lôi cuốn. Vị thánh này đã mê hoặc nhiều người. Niềm say mê Thánh Phanxicô không phải là một dấu chỉ sai lầm rằng anh hoặc chị có ơn gọi đi theo Thánh Phanxicô. Nhưng cũng có những người tự bản chất là những người yêu một cách dễ dàng. Thì điều này lại không có nghĩa là họ thích hợp để trở thành những người Phan Sinh Tại Thế! Cũng như thế, chúng ta không thể nói rằng những người ghét loài vật thì không được gọi tới sống ơn gọi này.

Trong tư cách một Hành vi Sám hối

Lúc tuyên khấn vĩnh viễn, khi một ứng sinh nói: “Tôi tuyên khấn sống Phúc âm Đức Giêsu Kitô suốt đời tôi ...”, thì anh / chị nguyện quy hướng về Thiên Chúa và đang trong quá trình tích cực thay đổi cung cách sống của anh / chị. Đó là một cuộc hoán cải lấy Thiên Chúa làm trọng tâm (quy về Thiên Chúa), mang tính đạo đức (làm lành lánh dữ) và tình cảm (yêu mến Thiên Chúa) [11].

Khi Thánh Phanxicô thiết lập Dòng Ba, ngài đã ban tặng anh chị một “kế hoạch cứu độ” dành cho “những người thuộc mọi bậc sống và hoàn cảnh sống, tuổi tác và giới tính” [12]. Nhờ việc tuân giữ kế hoạch này, họ trở nên “con cái của Cha trên trời, họ làm những công việc của Người, và họ là hiền thê, là anh em và mẹ của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” [13]. Nhưng kế hoạch này là một lệnh truyền “đòi hỏi một đời sống Kitô hữu triệt để đi ngược lại bản tính tự nhiên của con người chúng ta” [14]. Đó là sự thay đổi “tinh thần xác thịt” ích kỷ bằng “Tinh thần của Chúa” – nghĩa là sống, ước muốn, suy nghĩ và làm việc theo Tinh thần Phúc âm [15]. Đây là điều mà Điều 7 trong Bản luật của chúng ta nói với chúng ta về việc hoán cải mỗi ngày hoặc gọi là metanoia.

Chúng ta là những người đền tội trong thời hiện đại. Chúng ta không sống giống như các Anh Chị Đền Tội thuộc thế kỷ thứ mười ba. Nhưng nét đặc trưng quan trọng vẫn là một – đó là sự thanh luyện nội tâm. Chúng ta phải luôn kiểm tra những động cơ trong các hoạt động và các mối tương quan hằng ngày của chúng ta với những người khác. Nhờ một nỗ lực có ý thức và tác động của ơn sủng từng hiện diện nơi chúng ta, những người Phan Sinh Tại Thế để cho tinh thần hòa bình và niềm vui ngự trị trong họ không nhất thiết trong hoàn cảnh như thế nào. Phan Sinh Tại Thế là những con người vui tươi, không chỉ khi mọi sự tốt đẹp xảy đến cho họ, nhưng thậm chí trong những thời khắc thử thách. Khi có điều gì đi ngược lại chúng ta, chúng ta chỉ rũ bụi lại dưới chân, như Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Ngài [16]. Chúng ta phải luôn để cho hòa bình trở lại và trong mọi lúc không được chứa chấp sự giận dữ hoặc gây thương tổn. “Nếu anh em nhớ lại mình có điều gì bất hòa với anh chị em, hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ và hãy đi về; làm hòa với anh chị em trước đã, rồi hãy đến mà dâng lễ vật” [17].

Bằng cách này, những cuộc họp mặt huynh đệ thông thường có thể biến thành những kinh nghiệm đầy niềm vui. Chúng ta không luôn luôn cần tới những biến cố đặc biệt để kích thích và động viên tinh thần chúng ta. Chúng ta mong đợi được gặp anh chị em không phải vì chúng ta có thể kiếm được bất kỳ một lợi lộc gì nơi họ, nhưng là vì chúng ta đang “gặp” được Đức Kitô trong họ! Sự mới lạ trong cuộc họp mặt đơn giản chỉ là sự hiện diện của mỗi người với nhau. Không ai bị đe dọa. Không ai còn cảm thấy bị bỏ rơi. Mọi người đều được đón nhận. Chúng ta là một gia đình. Đó sẽ là một bằng chứng lớn lao và đầy uy lực cho tình yêu của Thiên Chúa biết là chừng nào!

Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là các hội đồng có thể ngồi yên và không làm việc để sáng tạo ra những kinh nghiệm đặc biệt cho các thành viên. Cũng cần phải có những sáng kiến. Những kinh nghiệm như thế là những điểm thưởng cho đời sống huynh đệ đoàn và sẽ làm cho các thành viên mong ngóng những cuộc tụ họp trong tương lai. Những kinh nghiệm này là “phần thưởng” trở thành “những liều thuốc tăng lực” hữu hiệu [18] cho đời sống huynh đệ đoàn. Một lần nọ, tôi nhớ huynh đệ đoàn của tôi bắt tay vào một dự án nấu ăn cho những kẻ sống ngoài đường phố. Những người có thể nấu cho số đông người ăn cùng nhau đi vào bếp; những người không thể làm được công việc này thì làm những việc phục vụ lặt vặt, trong lúc những người khác dành thời gian để trò chuyện với những người sống ngoài đường phố trước giờ cơm. Và một người làm thợ chụp hình. Trong cộng đoàn chúng tôi, cuộc tụ họp mà mọi người đi theo đó hoàn toàn phấn khởi trước thành công của dự án và những người thường im lặng cũng đã thoải mái chia sẻ kinh nghiệm của mình. Đến cuối buổi tụ họp, nói chung chúng tôi đồng ý là nên tìm một cơ hội khác nữa để thực hiện dự án này.

Trong một huynh đệ đoàn đang lão hóa, không còn khả năng tham gia vào nhiều sinh hoạt đòi hỏi phải ráng sức, vẫn không ngăn cản được tinh thần vui tươi và hòa bình. “Theo kế hoạch của Thiên Chúa, cá nhân mỗi người sống một cuộc sống liên tục tăng trưởng, từ khi bắt đầu hiện hữu cho tới khi trút hơi thở cuối cùng” [19]. Các thành viên cao niên có thể bảo đảm giai đoạn này trong đời sống của họ “thực sự cung cấp những khả năng để đánh giá quá khứ một cách tốt hơn, hiểu biết và sống một cách sâu sa hơn Mầu nhiệm Vượt qua, trở nên một mẫu gương trong Giáo hội cho toàn thể Dân Chúa” [20]. Ngay cả những người bệnh tật cũng được kêu gọi “sống ơn gọi làm người và làm kitô hữu của họ và tham gia vào sự tăng trưởng của Vương quốc Thiên Chúa, theo một cách thức mới và thậm chí còn có giá trị hơn nữa” [21]. Vì thế, đối với những người Phan Sinh Tại Thế đã tuyên khấn vĩnh viễn, họ hứa sống một cuộc đời vui tươi, bình an và yêu thương, thì không có vấn đề tuổi tác và điều kiện thể lý của họ là như thế nào. Giống như Thánh Tông đồ Phaolô, họ nói: “Tôi đã cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào thập giá; và Đức Kitô đang sống trong tôi. Hiện nay tôi sống trong xác phàm, là sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” [22].

Trong tư cách là Hội Thánh

Trong Tông huấn Người Kitô hữu Giáo dân của Hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục, Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã mạnh mẽ kêu gọi các vị Mục tử và giáo dân “hãy kiên quyết gìn giữ ... một cảm thức về Giáo hội, nghĩa là ý thức mình là chi thể của Giáo hội Chúa Kitô” và “mình được tham dự vào mầu nhiệm hiệp thông, cũng như vào năng lực tông đồ và truyền giáo của Giáo hội” [23]. Dưới ánh sáng của Dòng Phan Sinh Tại Thế, trong tư cách là một phong trào đền tội, chúng ta trở nên “một dấu chỉ hữu hình về Giáo hội, là cộng đồng tình thương” [24].

Chiều kích này trong huynh đệ đoàn Dòng Phan Sinh Tại Thế là rất quan trọng, vì từ đây “căn tính của người giáo dân, phẩm giá nguyên thủy của họ chỉ được bộc lộ trong thâm sâu của mầu nhiệm Giáo hội như là mầu nhiệm hiệp thông” [25]. Khi người Phan Sinh Tại Thế dấn thân vào Dòng Phan Sinh Tại Thế bất cứ trong hoàn cảnh nào và làm mọi sự vì lòng yêu mến, thì họ là tấm gương phản chiếu tình yêu của Đức Kitô đối với thế giới. Trong thế kỷ 21 với “những sự đổi thay sâu sa về xã hội, kinh tế, văn hóa và tôn giáo” đưa tới “sự bấp bênh và bất ổn” [26]. Người Phan Sinh Tại Thế diễn tả khả năng sống cuộc đời giản dị, hòa bình và tươi vui, vì sự sung mãn đã được tuôn đổ xuống trên cuộc sống của chúng ta như một quà tặng miễn phí, và chúng ta có trách nhiệm loan báo điều đó cho thế giới. Chúng ta dấn thân không chỉ trong Dòng Phan Sinh Tại Thế của chúng ta nhưng còn là cho mẹ Giáo hội, bằng cách hiến mình để “quyết tâm sống hiệp thông trọn vẹn với Đức Thánh Cha, các giám mục và các linh mục, sẵn sàng đối thoại cởi mở dựa trên đức tin, hầu mang lại lợi ích phong phú cho hoạt động tông đồ” [27].

Căn tính Dòng Phan Sinh Tại Thế

Trong những năm đầu khi Hội dòng được thành lập, nhóm Người Đền Tội của Thánh Phanxicô đã là một lực lượng tại châu Âu. Qua việc chủ ý từ chối cầm lấy vũ khí, họ đã góp phần làm giảm thiểu những cuộc chiến tranh xảy ra và cuối cùng là sự sụp đổ của chế độ phong kiến. Đời sống của họ là một bằng chứng cụ thể cho Đường lối Phúc âm. Họ đã diễn tả đặc tính nền tảng của Hội dòng, đó là họ kiến tạo sự bình an ở bất cứ nơi đâu họ đi tới. Họ đã sống khía cạnh này không chỉ bên trong Giáo hội, nhưng còn là trong thế giới. Ngày nay, kịch bản đã rất khác. Ở bên ngoài Giáo hội, không ai biết chúng ta là ai. (Có bao nhiêu người đeo chữ Tau chứng tỏ chúng ta là người Phan Sinh Tại Thế?) Nếu người Phan Sinh Tại Thế sống căn tính nguyên thủy là phong trào của những người đền tội, thì chúng ta sẽ là một lực lượng sống động mãnh liệt biết là dường nào trong môi trường trần thế. Chúng ta đã có thể tạo nên một sự khác biệt đối với thế giới bị chia rẽ của chúng ta ngày nay, nếu như chúng ta là những người mang tới hòa bình, nếu như chúng ta sống một cách khiêm tốn và giản dị, nếu như chúng ta nhìn nhận phẩm giá của mọi người và quan tâm tới mọi thụ tạo.

Theo Công đồng Vatican II, Hội Thánh nhìn nhận những công việc quan trọng mà người giáo dân thực hiện (bao gồm cả những người Phan Sinh Tại Thế) trong việc cứu độ thế giới. “Nhờ năng lực làm việc trong các phạm trù tại thế và hoạt động của họ, được ân sủng nâng đỡ tự bên trong, họ hãy làm việc một cách nghiêm túc để tạo ra của cải qua việc lao động của con người, kỹ năng và văn hóa dân sự có thể phục vụ cho lợi ích của mọi dân tộc phù hợp với kế hoạch của Đấng tạo Hóa và sự soi sáng của Lời Chúa” [28]. Người giáo dân dường như đã quên trách nhiệm quan trọng này. Họ đã “quá nặng quan tâm tới những dịch vụ và công việc trong Giáo hội, đến độ một số người không chu toàn trách nhiệm tích cực dấn thân của họ trong thế giới nghề nghiệp, xã hội, văn hóa và chính trị” [29]. Có một sự phân cách giữa đức tin và các công việc thuộc trần thế. Người Phan Sinh Tại Thế là những kẻ đền tội trong Giáo hội, chứ không là những người đền tội trong thế giới.

Vườn nho Chúa là thế giới. Người Phan Sinh Tại Thế cần phải ngụp lặn vào trong công việc của trần thế, để làm cho triều đại của Thiên Chúa ngự trị tại đây trên trái đất. Tư cách thành viên của chúng ta vừa là trong Giáo hội vừa là trong xã hội. Đây là một thực tại không thể tách rời [30] vang vọng trong Tổng Hiến Chương Dòng Phan Sinh Tại Thế của chúng ta nơi điều 20, 1. Một trong những lời nhận xét được các vị Trợ úy nhấn mạnh trong Hội Nghị châu Á – châu Đại Dương lần thứ 2 vào năm 2007 là các cuộc họp hàng tháng của nhiều huynh đệ đoàn thực buồn chán. Theo kinh nghiệm cá nhân tôi, chúng ta luôn nói tới lối sống Phúc âm. Tuy nhiên, phần ứng dụng lại thường bị bỏ qua. Điều tôi muốn nói là sau khi chúng ta đã nghe Phúc âm, từ đó chúng ta cần phải tiến vào thực tế cuộc sống của thế giới. Chúng ta cần phải đi từ Phúc âm đến cuộc sống và từ cuộc sống đến Phúc âm.

Cuộc sống là những cuộc chiến đấu và những thách đố, giống như giá cả lên xuống của nhiên liệu, sự hối lộ và tham nhũng, rác rưởi và sự tùy tiện, phá hoại tài sản công cộng, sự phung phí, tội ác và nhiều vấn đề khác quen thuộc với người Phan Sinh Tại Thế. Những người lãnh đạo huynh đệ đoàn phải sử dụng những thực tại này như là những tấm bảng chỉ dẫn để kích thích các cuộc thảo luận và các hoạt động. Sau đó, chúng ta dùng mắt, tai, miệng, tay chân của Đức Giêsu để giải quyết những hoàn cảnh cụ thể này.

Giờ đây, các buổi họp có thể mang lại ý nghĩa, vì chúng đụng chạm tới đời sống của chúng ta. Sau cuộc họp thảo luận, có thể lên kế hoạch cho nhiều hoạt động tiếp theo. Thí dụ, nếu chúng ta nói tới việc giá cả sinh hoạt gia tăng trong một cuộc họp, tiếp theo chúng ta có thể tổ chức một cuộc họp để học cách tái phục chế các vật dụng mà bình thường chúng ta loại bỏ đi như rác rưởi. Bằng cách này, chúng ta không chỉ giúp đỡ các thành viên cần cứu trợ, mà chúng ta cũng còn học cách chăm sóc mẹ đất bằng cách giảm bớt sự phung phí đồ gia dụng. Sau đó, chúng ta mới có thể nói tới việc chúng ta thu lượm được biết bao là lợi ích từ hoạt động này và nếu chúng ta thực hiện việc chia sẻ với những người chung quanh chúng ta. Thậm chí chúng ta có thể tổ chức một chuyến đi tới một trung tâm tái chế đồ phế thải.

Trong một ý nghĩa nào đó, chúng ta thực hiện được một số nhu cầu thầm kín của các thành viên. Việc thỏa mãn các nhu cầu là một động lực thúc đẩy thái độ sống [31]. Là những con người, yếu tố thúc đẩy thực quan trọng, thậm chí dù chúng ta là những người sống đời đền tội. Nó làm cho chúng ta đến với huynh đệ đoàn, vì điều đó thực ý nghĩa và là phần thưởng.

Kết luận

Chúng ta phải hiểu rằng cảm thức thuộc về không phải là một cảm giác tĩnh, y như nó có thể bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi các giá trị và nhiều sức mạnh đến từ bên ngoài. Nhưng nhớ rằng chúng ta được Thiên Chúa kêu gọi trở nên ánh sáng của Người trong Giáo hội và trong xã hội, chúng ta sẽ không dễ dàng bỏ qua. Câu đáp trả của chúng ta trước lời Người kêu gọi có nghĩa là chúng ta tùng phục ý Người và phục vụ Người, chứ không phải là theo ý riêng và phục vụ chúng ta. Trong hành trình đi lên tới Thiên Chúa đó, chúng ta không được kêu gọi để thành công, nhưng là để sống trung thành.

Serena Woon SFO

(Konoinia, No.60, 04-2008. vptd) 



[1] Rosalvo G. Mota, Bulletin năm 27, 2005 số 8 “Cảm thức Thuộc về Dòng Phan Sinh Tại Thế”, 15.

[2] David W. McMillan và David M. Chavis George, Journal of Community Psychology, c. 14,1986, “Ý thức Cộng đồng: một Định nghĩa và Lý thuyết”.

[3] Nghi thức Dòng PSTT, St. Anthony Messenger Press, 1985, 18.

[4] Luật Dòng PSTT, 1978, 1.

[5] Người Kitô hữu giáo dân, 56.

[6] Lester Bach và Teresa V. Baker, Hãy đến mà Xem, Barbo-Carlson Enterprises, USA, 2001, 9.

[7] David W. McMillan và David M. Chavis George, Journal of Community Psychology, c. 14,1986, “Ý thức Cộng đồng: một Định nghĩa và Lý thuyết”.

[8] Sđd. 10.

[9] Sđd. 19.

[10] Sđd. 5.

[11] Raffaele Pazzelli, Thánh Pxc với Dòng Ba, Franciscan Herald Press, Chicago, 1989, 4.

[12] Julian Speyer, Cuộc đời Thánh Pxc, 23, New City Press, Canada, 1999, 385.

[13] Regis Amstrong và Ignatius Brady, Francis and Clare: The Complet Works, “Bản đầu tiên Thư gởi các Tín
 hữu”, FISI, Ấn-độ, 1992, 63.

[14] Raffaele Pazzelli, Thánh Pxc với Dòng Ba, Franciscan Herald Press, Chicago, 1989, 124.

[15] Sđd. 124.

[16] Kinh Thánh, Thomas Nelson, Bangalore, Mt 10, 14.

[17] Sđd. Mt 5, 23b – 24.

[18] David W. McMillan và David M. Chavis George, Journal of Community Psychology, c. 14,1986, “Ý thức
 Cộng đồng: một Định nghĩa và Lý thuyết”, 7.

[19] Kitô hữu giáo dân, 48.

[20] Sđd. 48.

[21] Sđd. 53

[22] Kinh Thánh, Thomas Nelson, Bangalore, Gl 2,19b – 20.

[23] Kitô hữu giáo dân, 64.

[24] Luật Dòng PSTT, 1978, 22.

[25] Kitô hữu giáo dân, 8.

[26] Rosalvo G. Mota, Bulletin năm 27, 2005 số 8 “Cảm thức Thuộc về Dòng Phan Sinh Tại Thế”, 14.

[27] Luật Dòng PSTT, 1978, 6.

[28] Ơn gọi và Sứ vụ của Giáo dân trong Giáo hội và trong Thế giới 20 năm sau Cđ. Vatican II, Catholic Truth Society, 1985, 9.

[29] Sđd. 8.

[30] THC Dòng PSTT, 20.1.

[31] David W. McMillan và David M. Chavis George, Journal of Community Psychology, c. 14,1986, “Ý thức Cộng đồng: một Định nghĩa và Lý thuyết”, 7.