Tỉnh dòng Phanxicô Việt Nam

Những người mang quà tặng Phúc Âm

Friday, May 18th

Last update06:51:19 AM GMT

Ký túc xá Nha Trang, những ngày tháng thân thương

kytucxa_nhatrang_1968(Các lớp ở KTX với cha Lữ từ niên khóa 1968 trở về sau) 

Tôi còn nhớ như in, ngày ấy, một buổi trưa hè nắng rát da, trên đường phố Nha Trang, một người đi bên cạnh một người, là tôi và Nguyễn Ngọc Kính, cùng sánh bước nhễ nhại mồ hôi, cùng hồi hộp lý thú, chẳng ai nói với ai, cùng theo chân hai người dẫn đường: một anh tôi nhiệt huyết, Nguyễn Khiêm Nhượng, cùng bên kia một bà chị chân thành của Nguyễn Ngọc Kính, cùng lao nhanh tới một nơi chưa từng đi tới, sau khi rời chuyến xe đò Renault từ bến chợ Tân Bình, Cam Ranh đi về Nha trang, rồi thêm một chuyến Lambro Nha Trang Đồng đế nữa, để rồi dừng lại một nơi, mà có lẽ chỉ có tôi và Kính sững sờ, lạ lẫm trước một tấm biển hoành tráng, kẻ một dòng chữ lớn màu xanh đậm trên nền trắng:

“KÝ TÚC XÁ PHANXICO NHATRANG”, tấm biển cao nghêu hướng về một tấm biển nhỏ bé hơn bên kia đường: “Xưởng Mộc Nam Trung”, trên một đường dốc thoai thoài lát đá dăm pha đất đỏ, dẫn ra Hòn Chồng, Thánh Kinh Thần học Viện, Dòng Lasan và Tu Viện Phanxico. Đó là một buổi trưa mang dấu ấn “thú đau thương” mà tôi chưa hề cảm nghiệm được trong thời niên thiếu của tôi, nó đáng được ghi vào lịch sử đời tôi, vì nó đã mở ra một trang đời mới cho tôi, khi cánh cửa KTX mở rộng đón tôi vào. Một buổi trưa như một cột mốc vĩnh cữu, đã làm biến đổi tâm hồn, biến đổi thể chất, biến đổi cả một con người.

Từ một thằng nhóc, cứ mỗi sáng, gặm củ khoai lang luộc, hay một trái bắp toét, cắp sách đến trường làng Tiểu Học Mến Thánh Giá Tân Bình.Trưa về, dù bụng đói cồn cào, trời nắng đỏ lửa, vẫn cố rảo qua khu nghĩa địa cát nóng, dò bẫy bắt giông. Chiều về, ra đồng chăn bò, cắt cỏ, bắt dế, tìm tổ chim cu, hay chơi khăng , đá kiện…Đêm trăng, rủ nhau chơi trốn tìm, bắn súng bóc, chơi cướp cờ, u mọi…thế mà giờ đây, quần áo chỉnh tề, nai nịch oai phong, khăn gói ra tỉnh học, tự dưng sao mà sướng, mà hãnh diện lắm thay. Ngày ra đi, tôi vừa tròn 12, cái tuổi còn mê chơi hơn mê học. Bị tống vào KTX này, như cái thưở anh tôi ôm ném xuống nước, để tôi tự tập bơi, tôi đã hụt hẫng chơi vơi, uống no tròn những ngụm nước mặn mà nhớ đời, giống như cái hụt hẫng hôm nay: Chới với nhớ nhà da diết, lạc lỏng khôn cùng, lo sợ miên man.

Ngày ấy của đầu năm học 1966, cơ sở KTX còn rất thô sơ, mộc mạc, những dãy nhà thấp bé khiêm nhu, nhìn ra vạt sân đất đỏ đầy sạn, được be bờ bằng tường đá hoa cương, hàng phượng vỹ viền quanh sân, đỏ chói những chùm hoa nở muộn, khoe ra giữa trời trưa, như cố níu kéo mùa hè dài thêm chút nữa, để lũ trẻ còn có thêm những ngày rong chơi thơ thới. Nhưng một hình ảnh đã làm xao động hồn tôi, khi hướng tầm mắt khuất sau bậc đất bên kia sân bóng, trên ngọn đồi um tùm cây xanh cao vút, tu viện Phanxico ẩn hiện,trầm mặc, bí ẩn, thiêng liêng, mà thưở ấy tôi cứ mường tượng như một tòa lâu đài huyền bí trong truyện cổ Âu Châu. Rồi ước mong sao khi lớn lên, biết đâu tôi lại được vinh phúc khoác áo chùng nâu, sống trong tòa lâu đài bí ẩn ấy. Dãy phượng rực rỡ này, và cái lâu đài thanh tịnh kia, là khúc dạo đầu, và là phần chung kết trong trí tưởng tượng dạt dào của tôi thưở ấy.

NHỮNG VỊ CHA, THẦY ĐÁNG KÍNH

Tôi sớm nguôi ngoai căn bệnh nhớ nhà, khi những người thay thế bo mạ tôi dưỡng dục nơi này, các người đã hết lòng tận tụy ,yêu thương, ngoài dự tưởng của tôi: Người tôi kính trọng và biết ơn đầu tiên là Cha Daniel Nguyễn Thăng Cao, giám đốc KTX. Ngoài bộ áo chùng nâu,cặp kiếng cận trễ xuống đầu mũi, cùng cái giọng Huế nằng nặng, thân quen, thì nụ cười đôn hậu dưới vầng trán rộng nguy nga, là những thông điệp phơi phới trấn an nỗi lo lắng của tôi, xoa dịu vết đau nhớ nhà của tôi. Ở cha, tôi có thể tìm thấy cái phong thái nghiêm nghị của một đấng bề trên, cái bản chất cứng cáp của một người làm bọ mẫu mực, và bản tính rộng lượng, chân phương của một nhà giáo dục tâm huyết.Chính vì thế mà có bao giờ thấy đứa nào ngỗ nghịch bị đòn roi đâu. Nếu lỗi lầm ư, cha sắc mặt nghiêm nghị cảnh cáo, và tiếng la rầy thường ôn tồn, nhân ái. Một lối giáo dục“giơ cao đánh sẻ” mà vẫn có hiệu quả “răn đe” ngăn chận sai phạm. Cái cốt lõi thúc đẩy học trò phục thiện nhanh chóng nhờ lòng nhân hậu, yêu thương ở cha mang đến. Tôi sớm nhận ra tính đơn sơ, khó nghèo nơi cha, khi vinh dự được cha chỉ định giao nhiệm vụ, là cứ sau giờ chơi ban chiều, bê một thau nước lạnh và một chiếc khăn mặt tới trước thềm cửa, nơi căn phòng cha ở, thuộc dãy nhà nằm gần cổng chính, để cha rửa ráy tại đó, vì nơi ở của cha vẫn chưa có lavabo, một nhu cầu tối thiểu đối với một người bình thường trung lưu thời đó, thế mà ở vai trò giám đốc, cha vẫn chưa có được nhu cầu này. Từ đó tôi suy ra cái nghèo của dòng, và dần hiểu được di sản tinh thần nghèo khó của Cha Thánh, mà chấp nhận hoàn cảnh khó khăn ban đầu, khi mỗi buổi sáng, chúng tôi xếp hàng, chờ múc nước từ giếng lên, đổ vào chiếc thau nhỏ của từng người mà đánh răng, rửa mặt. Cái nghèo cón được thấy ở gian phòng học, mà bình thường là để học hành, nhưng thoáng chốc tời giờ lễ, bức màn trên bục giảng được kéo ra, để lộ một bàn thờ phủ khăn trắng trang nghiệm. Cũng năm đầu tiên này, tôi được vinh dự qua sự chỉ định của thầy Chín lụi, phụ trách dọn đồ lễ. Cũng thấy hãnh diện lắm thay.

(Lớp 11 năm học 72-73 ở ĐTV Nha Trang, với Cha Tỉnh, Cha Cao, Cha Lư và thầy Vui)

Đằng sau bóng dáng người cha thân thương ấy, chúng tôi có diễm phúc gần gủi một người cha khác rất đỗi “phóng khoáng”, đó là cha Damien Đoàn Văn Lữ, giám thị KTX. Vừa du học từ Pháp về, cha liền xắn tay áo, xông xáo vật lộn với bao công việc gian nan ban đầu, trước mắt là chung tay với cha giám đốc, để dắt dìu đàn con thơ bé đến từ muôn phương. Có đến 40 thằng nhóc, họ từ Nha trang, Ban Mê thuộc, Đà lạt, Phan Thiết, Bình Tuy, Long Khánh, Biên Hòa, Sài gòn,Cam Ranh…đến. Họ từ lớp nhất lên (tương đương lớp 5 bây giờ) hoặc từ đệ thất xuống, đều vào cùng lớp đệ thất (tương đương lớp 6 bây giờ) của KTX trong năm đầu tiên khai trương. Ngoài tham vọng truyền tải nỗi đam mê âm nhạc dân ca, cha còn là kho văn hóa cung cấp nhiều kiến thức phổ thông rất hữu ích cho chúng tôi. Muốn biết các tháng trong năm có bao nhiêu ngày, hãy thuộc lòng bài thơ: “Chạp, giêng, năm, ba, bảy, tám, mười, ấy là bảy tháng ba mươi mốt ngày, tháng hai hăm chin là may, còn bao tháng khác đều ngày ba mươi”. Thưở ấy, KTX có chương trình học võ Taekwondo, do một số võ sĩ Đại hàn vào dạy, thế là chúng tôi được cha tập một câu chào: “a nhong a xi mi ni cà…”, hoặc một bài ca truyền thống Triều Tiên, Bản “Arirang”. Nhờ cha, chúng tôi được biết đến trường ca “Mẹ Trùng Dương”, Bà Mẹ Quê, Trống cơm, Đèn cù,…Tôi cũng được vinh dự cùng với Đỗ đình Lễ solo hoặc song ca trong các chương trình văn nghệ cây nhà lá vườn. Sau mỗi lần tập, chúng tôi được cha thưởng kẹo “nougat” tuyệt vời, kể cả kẹo chocolat quý hiếm, mấy lũ bạn khác có mà thèm nhỏ giãi. Chúng tôi cũng được tham gia sinh hoạt đoàn thể trong phong trào “tiền đạo”, một hình thức tương tự như hướng đạo do các frère Lasan phụ trách, mà cho tới nay, chúng tôi vẫn không quên hình ảnh vị huynh trưởng Hướng đạo đạo mạo, hiền lành, mang tên Frere Nguyễn Trọng Nhàn. Không thể nào quên, những chiều thứ năm, một đoàn rồng rắn chúng tôi theo chân cha Lữ, tiến ra Bãi Dương ngụp lặn sướng đời. Vì mệt, vì đói, ai nấy đều“tắt đài” cố lết về nhà cho mau, để giải quyết cái bao tử đang “lên đồng”. Cha còn cho chúng tôi xem những cuốn phim câm, mà chủ yếu được thể hiện bằng kỹ thuật máy chiếu đèn tungstein công suất cao. Những tấm phim nhựa hình vuông,lần lượt được lắp vào, lôi ra…thế mà những câu chuyện Công Chúa Đội Đèn, Công Chúa Bạch Tuyết, Ali Baba và 40 tên cướp… hiện lên trên tấm màn trắng, được cha thuyết minh rành rẽ, hấp dẫn. Đôi lúc, cha là hiện thân của một người mẹ, vỗ về từng đứa con xa nhà, những viên thuốc Aspirin cho vài đứa cảm cúm, những chai thuốc nước trị bao tử cho đứa ôm bụng đau, một lọ dầu “con sóc” bôi lên người cho những thằng mới té bầm mặt ngoài sân bóng…Thưở ấy tôi cũng thường bị đau tức vùng bụng, thế là được cha cho uống một viên thuốc tiêu tròn tròn màu trắng, bỏ vào ly nước lọc sủi bọt.

Chúng tôi có những kỷ niệm đẹp ở KTX là nhờ cái thú ghi hình của cha. Đến giờ tôi vẫn không hiểu lúc ấy, cha lấy tiền đâu ra mà cứ chụp hoài, trong khi chúng tôi cứ tha hồ đứng làm dáng. Cứ chụp hoài mà chẳng thấy cha bắt trả tiền. Đi đâu cha cũng mang theo máy ảnh, cha chụp lia lịa, từng cá nhân, từng nhóm, từng lớp, từng cảnh trí… Cha không nề hà, không phân biệt một ai. Cha chụp vi thương lũ chúng tôi, vì nghĩ đến tương lai mà hoài niệm, vì sợ mất đi những giây phút quý báu hiện tại.

Vào đây, tuyệt đối không mang tiền riêng, nếu có chút đỉnh thì buộc phải gửi cho thầy Marcel Hoàng Văn Khoát, quản lý KTX, giữ dùm. Thầy là người tốt lành, đảm đang, phúc hậu như một hiền mẫu. Những nhu yếu phẩm, dụng cụ học sinh, thậm chí bánh kẹo… luôn có sẵn trong phòng thầy, chẳng khác nào một quầy tạp hóa mini. Thứ bảy, chủ nhật, hoặc giờ chơi, nếu thèm ngọt, hãy ghé vào căn phòng này, vốn nằm ở dãy nhà sát cổng trường, chọn ngay một phong chocolat, một tút kẹo bạc hà, thậm chí cả cái ống hít chống cảm cúm, sổ mũi… có thể ký nợ, nếu trong “tài khoản” đã hết, hoặc còn tiền thì thoải mái mà mua, nhưng cũng coi chừng, thầy có quyển “stop”, nếu ăn quá nhiều bánh kẹo, hay tiêu xài vượt quá tiêu chuẩn. Phần nhiều các dụng cụ học sinh đều được thầy mua về cung cấp cho chúng tôi, nói bán thì hoàn toàn không đúng, vì xem như thầy bỏ công đi mua dùm mà không lời lãi xu nào. Những thứ nằm ngoài danh sách , nếu có nhu cầu, thầy cũng sẽ mua giúp. Việc làm này nhằm hạn chế tình trạng xin phép ra ngoài mua vật dụng. Thầy có chiếc xe Lambro dùng để đi chợ, chúng tôi rất vinh dự khi có dịp “công tác” ra ngoài: Có thể là đi khuân vác hàng hóa gì đó lên xe, quá giang theo cho vui hoặc nhân cơ hội ấy mà đi bát phố…

Không lâu sau, cha giám đốc chuyển đến ở căn phòng khác gần nhà cơm, phòng cũ giao lại chủ nhân mới là cha Clément Trần Thế Minh, thế là từ ngày ấy, cứ vào giờ chơi, hay sau giờ học, chúng tôi lại thấy hình bóng cha thướt tha cùng cây vĩ cầm réo rắt, réo rắt. Lũ chúng tôi thưở ấy còn thô thiển trong cái nhìn về âm nhạc, nên khi nghe cha kéo violon, chẳng một ai lấy làm thích thú hay tò mò đến xem. Thế mà tôi lại vinh dự, có đôi lần tôi xách cây ghi ta được cùng song tấu với cha, dù tiếng đàn của tôi lúc ấy đang trong thời kỳ tập tễnh với cuốn “Tự Học Tây Ban Cầm” của Lan Đài, một món quà đặc biệt của thầy Được (hình như cùng lớp với cha Đinh Huỳnh Hoa) tặng làm kỷ vật trước khi thầy xách vali xuất tu. Cha Clément là người khá nóng tính nhưng rất điêu luyện với ngón đàn armonium. Những buổi lễ trọng ở Tu Viện Phanxico, bao giờ cũng có phần biểu diễn độc tấu tuyệt vời của cha. Chúng tôi cũng có dịp học nhạc với cha. Một lần hú vía khi cha bất ngờ nhảy phóc lên bàn học, quất túi bụi vào một tay lơ đễnh nào đó trong giờ học nhạc của lớp đệ lục (lớp 7 bây giờ) năm 1967, từ đó cả lớp nơm nớp sợ tới giờ nhạc của cha, vì đa phần thưở ấy, không hứng khởi học nhạc, khiến cha phải nổi cơn thịnh nộ. Học vẽ thì có cha Gerard Trần Anh Thái, một người gầy ốm, dịu dàng thục nữ, nhưng thông minh, đĩnh đạc, cha đã truyền lại cho tôi nhiều kỹ năng hội họa tuyệt vời, nhiều bài học cơ bản đến giờ tôi vẫn còn nhớ mồn một. Chúng tôi còn được học phụ đạo tiếng Pháp với cha Mitchel Trần Thế Luân, một người tiếng tăm trong phong trào cấp tiến thời ấy.

Năm đệ ngũ là năm có nhiều đổi thay, trong đó còn phải kể đến sự chuyển đi Cù Lao Giêng của Cha Lữ, và sự thay thế của Cha Charles Phan Châu Lý, phó giám đốc, bên cạnh nhiệm vụ giám thị mới được thầy Gerard Liên đảm trách. Cũng không quên nhắc lại công lao to lớn của Cha Cao, dường như suốt năm đệ lục, cha đã vất vả ngược xuôi, nhờ các cơ quan từ thiện của Mỹ hỗ trợ xây nên hai dãy nhà lầu khang trang kiến cố, để chúng tôi khỏi phải gồng mình kéo nước từ giếng lên, hay phải tắm tập thể ngoài trời bằng hệ thống vòi sen, hay phải đi toilette rất "cổ điển" ở dãy phòng sát hàng rào thưở trước. Cũng nhờ mối quan hệ với cơ quan từ thiện, đời sống tinh thần và vật chất được nâng cao: Đó là vui sướng được nhận quà trong các dịp lễ Noel, Trung Thu, tôi còn nhớ món quà đó là những chiếc túi vải có giây rút, mà trong đó hên xui là sách vở, bút mực, đồ chơi , bánh kẹo… Chúng tôi có sữa tươi uống hắng ngày, nhưng do không quen uống, vả lại không ngọt nên ai nấy không them ngó, rồi bữa gouter lại có sữa chocolat hộp thiếc, hay chuối và hương, cũng do không quen uống nhạt, nên bọn nhóc chúng tôi âm thầm đưa về cất vào vali,chờ ngày về pha thêm đường uống. Âm mưu này bị bại lộ, thế là cha giám đốc mở chiến dịch thu hồi để tiêu hủy, vì quá hạn dung.

BẠN BÈ THÂN THƯƠNG

Năm đệ Thất mới vào, bạn bè đông lắm, như Dương dê, Khanh cao bồi già, Hải toét… thậm chí có cả học sinh lương dân. Rồi từng năm vơi dần đi số lượng. Một số qua năm đệ lục được tuyển vào Chủng viện Phanxico Thủ Đức, trong đó có Long Vân (nhà báo Sài gòn), Ngọc Kính (Lm giám đốc Học Viện Phanxico TĐ), Duy Lam (Lm dòng Phanxico), Văn Vàng (?), Ngọc Sơn (?), Huy Mỹ (tu sĩ Phanxico)… Một số khác như Đình Diệm, Công Thanh, Ngọc Mai, Văn Dương… chuyển đến trường tu khác, hoặc ra trường đời, mỗi người mỗi nơi không thể nào biết. Năm đệ lục, KTX đón nhận thêm một số học sinh mới, như Bùi Thanh Tâm, Mai văn Lý, Bạch Duy Nam, Nguyễn viết Đoàn… Qua năm đệ ngũ thì quân số còn lại rất ít, con số này là những học sinh có “triển vọng” đi tu, nên định hướng của ban giám đốc là chờ xem “năm tới chúng có trổ bông kết trái tốt không”. Nếu chờ mãi mà vẫn cứ thất vọng thì “chặt đi cho vào lửa”, để chúng phải nghiến răng khổ cực ngoài đời. Lúc này chúng tôi được quyền đạp xe đạp, đến trường Lasan Bá Ninh học. Cũng là dịp thỏa chí tang bồng, mà đồng thời cũng phải học hành cạnh tranh quyết liệt. Trường Bá Ninh rất kỷ luật, đi trễ 3 lần không lý do sẽ bị đuổi, học kém cũng cho số dze, đánh lộn thì có ngay giấy mời chuyển chỗ học, nơi đến chỉ có thể là trường Kim Yến Nha Trang. Nhờ kỷ luật thép mà học sinh Bá Ninh giỏi giang, chúng tôi cũng hưởng được vinh dự này. Qua năm đệ Tứ, ngành Giáo dục có nhiều sửa đổi, lớp đệ tứ trở thành lớp 10, đồng thời cũng là năm bắt đầu học Tân Toán học, chúng tôi cũng tiếp tục học ở Bá Ninh, do sư huynh Nguyễn văn Tốt làm hiệu trưởng, giám thị là Frere Juvenal, mặt mày lúc nào cũng lạnh lùng như cảnh sát hình sự, để lũ quỹ học trò phải kiêng dè, mà tuân giữ kỷ luật. Như vậy năm này chúng tôi chỉ còn “sống sót” mấy mạng, trong đó có tôi, Bùi Thanh Tâm, (nay ở Mỹ?) Nguyễn ngọc Sáng (nay ở Bỉ), Bạch Duy Nam (ở Tân Bình), Hùng con (ở nước ngoài), Mai văn Lý (Ban Mê Thuột), Nguyễn ngọc Toàn (Toàn gà mổ-ở Mỹ), Đỗ đình Lễ (mất tích).

Qua năm 11, bị rớt thêm vài “con” nữa, chỉ còn tôi, Bùi Thanh Tâm, Hùng con, Ngọc Sáng, Bạch Duy Nam, Nguyễn viết Đoàn (nay là Lm ở Đà Lạt), Nguyễn Trí (ở nước ngoài), Mai Văn Lý lên Đệ Tử Viện Phanxico trên đồi , cùng học chung lớp 11 ở trường Hưng Đạo, với Bá Huệ, Nguyễn văn Hậu, Hoàng Sơn (từ Cù Lao Giêng), Nguyễn ngọc Châu Lang (từ CV Thủ Đức)… Cha Pascal Tỉnh, giám đốc mô hình Đệ Tử Viện đầu tiên của dòng Phanxico Việt Nam, luôn là người mực thước, nghiêm minh. Bên cạnh cha có sự trợ giúp của thầy Tạ đình Vui, giám thị, cha Vincent Hoàng văn Lư, giám học. ĐTV lúc đó gồm 3 lớp: 10.11.12. Ngoài lớp tôi nói trên, lớp 10 gồm những đệ tử đến từ Cù Lao Giêng (như Đình Pháp, Nguyễn Khánh, Đậu Lệ, Huynh, Quế (Lm)…, lớp 12 từ CV Thủ Đức có anh Bài, anh Hải (lm), anh Bạch, anh Hùng, anh Kỳ (lm)…

Sau năm 11 ở ĐTV, tôi và Bùi Thanh Tâm từ giã mái trường dòng Phanxico, ra đi mỗi người mỗi ngã. Dù có đi đâu, hay làm gì, tôi vẫn luôn nhớ về Cha, Thầy, bạn cũ, trường xưa. Những năm tháng đầy vơi ấy đã tràn ngập ký ức tôi những kỷ niệm, những hồng ân, những nỗi niềm yêu dấu, và tình bạn thắm thiết, nguyên tuyền.

Cùng đi với nhau ngày xưa mà nay: Nguyễn Ngọc Kính là Linh mục phụ tá Giám đốc Học Viện Phanxico Thủ Đức, còn tôi là một trợ tá của một trường đời với một vợ bốn con. Không biết, sắp tới cha Kính có lên chức Đức Ông không, với tôi, chức này đã được “rửa” từ 4 năm nay rồi.

Mặc dù ra đi mỗi người mỗi phương, làm mỗi người mỗi việc, nhưng tất cả đều có mặt trong mái nhà chung yêu thương của Chúa, cùng hưởng ân đức thiêng liêng của Cha Thánh, và rồi cũng lại trở thành những thành viên đơn sơ, chân thành, nhân ái, đoàn kết… trong đại gia đình Phan sinh Việt Nam.

Sài gòn, ngày 28.8.2010

NGUYỄN VĂN PHƯƠNG